Mùa đông quạnh vắng

Tác giả:

Thương vừa bước xuống khỏi chiếc xe honda dame, Luân đã rồ máy chạy tiếp, sau cái nheo mắt ngó chào. Thương nhìn quanh bốn phương tám hướng xem thử có con bò vàng nào lấp ló ở đâu không. Mấy lúc gần đây tụi chúng bố ráp con đường Võ di Nguy dữ lắm. Thương lẩm bẩm một mình: không có gì quý hơn độc lập tự do, mẹ kiếp, đúng là thứ tự do của mọi rợ!

Khi không thấy bóng dáng tên công an nào, Thương rảo nhanh về phía vỉa hè. Bà Năm cẩm thạch ngồi ngay trên tam cấp của một căn phố, lưng dựa vào lần cửa sắt khép hờ. Bà không đăng ký hộ khẩu ở đây, nhưng đố con mẹ nào chiếm chỗ của bà được.
-Má Năm, buôn bán gì được hông, Thương hỏi.
Bà Năm, tuổi gần sáu mươi, người đẫy đà, mặt hơi rổ, là niên trưởng của khu chợ trời Võ Di Nguy này kể từ ngày đầu cách mạng. Bà nhận các loại cẩm thạch của người quen, bày trong một cái tủ kính nhỏ có thể xách chạy dễ dàng khi bị đám công an phường ruồng bố. Nghe Thương hỏi, bà Năm không thèm ngẩng lên nhìn, tằng hắng:
-Ngựa đ. mày, giờ này mới ra…
Giữa lúc đó, một người khách dừng lại trước cái tủ kính của bà Năm, cúi xuống, săm soi chiếc vòng cẩm thạch một lúc rồi bỏ lại, đi thẳng chẳng nói năng gì. Chờ khách đi xa xa, bà Năm chửi đổng:
-ĐM! tối qua rờ không đã sao!
Thương cười khúc khích:
-Thôi mà má Năm, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ!
Cái câu nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ coi vậy mà hay, trường hợp nào nói lên cũng thấy ăn khớp, lại có tác dụng làm cho tình hình bớt căng thẳng, đôi khi còn mang lại những nụ cười. 
Người mỗi lúc mỗi đông, bán có, mua có. Sau tháng tư bảy mươi lăm, Võ Di Nguy trở thành một trung tâm dịch vụ tấp nập từ sáng đến chiều. So với các khu chợ trời khác như Vườn Chuối, An đông, Lê Thánh Tôn…, Võ Di Nguy là chợ trời có hạng, bởi vì nơi đây gần các nhà băng, hãng bảo hiểm, xuất nhập cảng…nên khách đi mua phần đông cũng thuộc thành phần khá giả trước kia. Bóng mát của hai hàng cây trên lề cũng là một yếu tố thu hút khách. Cho nên, nơi đây, ngoài dịch vụ chợ trời còn tụ lại những gánh hàng ăn vặt ngon đặc biệt. Chị Ánh chuyên bán trái cây như măng cụt cám, sầu riêng sáp. Sầu riêng bán theo kiểu bao. Bao nghĩa là nếu như người ta lột ra ăn mà không phải đích thực thứ sầu riêng sáp thì có quyền trả lại, khỏi mất xu nào. Trái cây bán theo kiểu này dĩ nhiên phải bán cao hơn giá thường rất nhiều. Gánh chè đậu của con Lucie cũng ngon tuyệt. Đậu đỏ, đậu xanh, lâu lâu Lucie còn làm một nồi chè bắp non, thơm phức. Mấy người bán hàng vặt cũng rất cần thiết cho mấy người chạy hột, chạy cây. Bởi vì, khi đám công an phường càn quét, mấy người bán hàng vặt chính là những cái safety boxes cho những người như Thương. Do đó, người chạy hàng chợ trời ai ai cũng rộng rãi đối với mấy gánh hàng rong ăn vặt. Đúng như Thương nói, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Thói thường, kiếm dễ thì chi dễ.
Thương chạy hột, chạy cây nổi tiếng ở chợ Võ Di Nguy sau ba mươi tháng tư. Ban đầu, nàng chỉ mang mớ quần áo cũ ra bán sau gần hai năm chồng nàng đi học tập cải tạo. Hùng, chồng nàng, là thiếu tá hải quân. Ngày 30 tháng tư, Hùng đang đóng trên tàu ngay bến Bạch đằng, có thể cho nhổ neo bất cứ lúc nào, nhưng Hùng lại bỏ tàu chạy về nhà đón Thương và con. Đến khi gia đình Hùng trở lại bến tàu thì không còn thấy bóng dáng chiếc tàu đâu nữa. Là thuyền phó của tàu chiến, Hùng không tin tưởng nhiều ở mấy chiếc tàu cây nho nhỏ nên không thèm nhảy xuống những chiếc tàu buôn tư nhân nội địa. Thế là Hùng và Thương lại trở về nhà rồi tháng sau, Thương làm hành lý cho Hùng đi học tập 30 ngày như cách mạng kêu gọi. Thời gian 30 ngày coi vậy mà dài. Gần hai năm rồi, Thương không nhận được tin tức gì của chồng. Ngồi không, nghe cũng buồn, Thương mon men đến mấy cái chợ trời cho giãn chưn giãn cẳng, riết rồi bạn bè quen mặt rủ rê. Thương thấy cũng có lý. Mấy bộ complet, áo quần dạ hội…đâu còn ai dám chưng diện, phường khóm để ý thì nguy. Thương đem ra Võ Di Nguy bán tuốt. Lạ một điều là người mua toàn là những cán bộ từ Bắc vô. Nhiều khi Thương tự hỏi họ mua complet làm gì khi dưới chân vẫn còn mang đôi dép râu ông cụ? Thương đâu biết rằng họ là những con buôn mà cái xã hội chủ nghĩa, sau gần một phần tư thế kỷ, vẫn chưa tiêu diệt được. 
Bán hết đám áo quần thì Thương đã quen chân, ngày nào không rảo rảo ở chợ trời thì y như ngày ấy nghe buồn nghe nhớ. Bởi vì, chợ trời, ngoài cái giá trị sinh kế của nó, còn là nơi để những mệnh phụ một thời như Thương gặp nhau tán gẫu đỡ buồn. Cách mạng đã giải phóng tất cả. Phụ nữ xưa kia thường lẩn quẩn trong nhà, bây giờ, tràn ngập trên những lề đường, cười nói lui tới huyên thuyên. Đàn bà dần dần thay thế người chồng trong vai trò kiếm sống, bởi vì, người chồng, nếu không phải lê thân trong những trại tập trung khổ sai thì cùng lắm cũng ôm một chân công nhân viên trong một cơ quan nào đó. Không phải để lãnh sáu bảy chục đồng mỗi tháng hay để mua một vài nửa ký đường, nửa ký thịt với giá chính thức rẽ bằng một phần mười giá thị trường tự do bên ngoài, mà chính là để yên thân, bám vào cái thành phố lạ chủ lạ bè lạ bạn. Cái vẻ dịu dàng của người nữ trước kia có lẽ đã lỗi thời khi đất nước chuyển mình. Thương cũng không bước khỏi cái cảnh đời chung chung ấy. Số vàng cất giấu bán dần để ăn cũng gần hết. Nàng có cách nào khác hơn là dấn thân vào chốn chợ trời. ở chợ trời thì không gì nhàn mà kiếm tiền nhiều bằng nghề chạy hột, chạy cây. Nhiều khi vô mánh, Thương kiếm cả bạc ngàn tiền mới. 
Một hôm, tình cờ, Thương gặp Luân ở chợ Võ Di Nguy. Luân lớn hơn Thương gần chục tuổi nhưng vẫn còn trẻ trung. Trai bốn chục gái ba mươi thì cũng chẳng có chi khác biệt. Luân trước bảy mươi lăm là giáo sư pháp văn một trường trung học tư thục. Sau bảy mươi lăm, Luân đổi nghề xin làm công nhân viên của Cục hóa chất mà trụ sở đặt tại ngân hàng Trung Nam cũ nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, cũng gần khu Võ Di Nguy. Ngày ngày Luân cỡi xe honda dame đi làm qua đây, và tình cờ một hôm, nhân đem một mớ quần áo cũ của vợ ra bán, Luân gặp Thương, để ý. Thương liến thoắng:
-Áo quần của ai coi cũng được hén, nhưng tui không thu đâu, anh đem đưa cho con nhỏ đằng kia kìa.
Thương vừa nói vừa liếc cười, tay phải dơ lên chỉ Thảo ngồi bên cạnh. Luân thấy bàn tay Thương xinh xắn làm sao, buột miệng khen liều một câu:
-Bàn tay chị đẹp quá!
Thảo quay sang, bỡn cợt:
-Nó có chồng năm con rồi đó cha nội! 
Bà Năm cũng xía vô:
-Đ.ngựa mấy con đĩ nầy, mua bán không lo, cứ giỡn rần rần! Dù gì, người đàn bà có chồng cũng cởi mở hơn những nàng con gái, nhất là những đàn bà có chồng nhưng đơn chiếc. Thấy Luân tướng tá cao lớn, người ngăm ngăm mạnh khỏe, có tia nhìn chằm chặp như muốn lột trần đối tượng, Thương thích. Luân có vợ ba con. Vợ Luân là người đàn bà an phận thủ thường, không đem lại cho Luân đủ an ủi để trám đầy chỗ trống trải trong hồn người trai thời mạt vận. Trong cuộc sống kinh tế khó khăn, người đàn bà chỉ biết tính toán lo cái ăn cái mặc cho gia đình, có thể không cảm thấy những hỏi han, săn sóc, tình tự, đùa cợt của người hôn phối cần thiết như người đàn ông vẫn thường thấy. Hơn bao giờ hết, Luân cần được xoa dịu, an ủi vỗ về, nhất là trong khi, tương lai đối với Luân chỉ là một ngõ cụt chán phèo. Mà cũng tội nghiệp cho vợ Luân, sau bảy mươi lăm, cuộc sống đối với bà ta chỉ còn là những toan tính hết sức tầm thường về cái ăn cái uống. Lương bổng của một giáo sư trung học tư thục trước đây không đủ cho vợ chồng Luân dành dụm được nhiều. Rồi đồng lương cách mạng với sáu, bảy chục đồng mỗi tháng trong khi tô phở An Lợi đã đến năm đồng, làm sao đủ chi chí cho gia đình Luân! Cái khổ của dân chúng miền Nam là đã quen ăn uống thoải mái, cho nên cái bao tử không thể một sớm một chiều mà teo lại được. Qua mấy tháng sau ngày đổi đời, dự trữ trong nhà Luân hết nhẵn. Người cha tuy cũng lo nhưng được cái là mỗi ngày đi làm thành ra khỏi phải va chạm với cái thiếu cái đủ. Chỉ mình vợ Luân phải đầu tắt mặt tối, cáng đáng trăm bề, khổ ơi là khổ! Chẳng bao lâu, vợ Luân không còn nghe thiết tha gì nữa, ngay cả với chuyện gối chăn, và tự dưng biến tính thành lãnh cảm. Luân và vợ cũng vì thế mà lục đục. Cho nên khi gặp Thương với tất cả cái lôi cuốn ứ tràn của gái một con, Luân làm sao không say mê được. Ngày nào Luân cũng lượn qua khu chợ Võ Di Nguy, liếc dọc liếc ngang vài cái tìm bóng dáng của Thương. Một nụ cười đưa đẩy, một cái vẫy tay, thậm chí một cái liếc nhìn, cũng chẳng để làm gì, nhưng cũng đủ cho Luân nghe đời có lý hơn. Nếu như ngày nào không nhìn thấy Thương, ngày ấy Luân nghe thiếu vắng xôn xao. Và Thương cũng vậy. Một hôm tan sở, Luân đứng ở góc đường chờ đợi. Khi Thương đi ngang, Luân đánh bạo, nửa đùa nửa thật:
-Có cần đi xe ôm không? Tui tính rẽ cho!
Lúc đó Thương nghe phân vân lạ. Nàng nửa muốn nửa không, nhưng nghĩ đến câu nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, nàng thấy cũng không sao nên ghé mông lên ngồi, không nói một câu. Suốt quãng đường từ Võ Di Nguy đến Võ Tánh, hai người không ai nói với ai. Tình trong như đã, mặt ngoài còn e? Bất chợt, không biết vô tình hay cố ý, Luân thắng gấp, Thương chuối người cạ xát vào lưng của Luân. Thương hơi bẽn lẽn, nhưng cả hai đều không nói gì, có lẽ muốn tận hưởng cái giây phút êm ả bắt đầu cuộc phiêu lưu tình ái. Cách nhà chừng hai trăm thước, Thương nói:
-Anh cho Thương xuống đây.
Luân dọ dẫm:
-Sợ ông xã thấy hả?
-Ông xã đâu mà thấy! Thương cười nho nhỏ. Luân ngừng xe. Thương bước đi thật nhanh, như để tránh né cái xao xuyến trong lòng, nhưng cũng không quên ngoảnh lại đưa tay vẫy vẫy. Chờ Thương đi khuất, Luân rồ xe, chạy theo, ngang qua nhà Thương, ghé mắt nhìn vô như còn tiếc nuối. Đêm đó, Luân sung sướng, khôngngủ được mà Thương cũng trăn trở bâng khuâng…

Thế rồi, từ từ hai người biết nhau hơn, qua những lần tâm sự vụn vặt. Luân biết rõ thêm hoàn cảnh của Thương: chồng đi tù cải tạo, Thương độc thân tại chỗ, sống với Liên, con gái một, mới lên bảy tuổi và một bà dì họ xa. Thương cũng biết Luân có vợ và không muốn nghi ngờ điều Luân nói là vợ chồng Luân không hòa thuận với nhau, sắp đến ngày tan rã. Thương vẫn biết đàn ông thường ưa diễn tuồng đau khổ, ta thán vợ mình mỗi khi say mê kẽ khác, nhưng Thương không muốn nghĩ đến cái thông thường ấy. Thì đã sao? Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ! Rồi, từ khi nào không biết, mỗi ngày Luân đều ghé ngang nhà Thương để đưa Thương ra Võ Di Nguy và chiều lại rước về. Một hôm, nhân trong sở họp công đoàn, Luân lẻn ra tìm Thương, rủ đi ciné: -Thương đi ciné không? Phim này hay lắm!
-Phim gì, Thương hỏi.
-Đến hẹn lại lên.
Thương phì cười:
-Phim gì mà tên nghe quê một cục vậy!
Luân chống chế, mặc dù chưa xem phim ấy bao giờ:
-Tựa không hay nhưng cốt chuyên lại hay! Thương thật ra chỉ chê bai cho có lệ vậy thôi nhưng lâu rồi chưa đi ciné nên cũng muốn đi.
-Đi thì đi, Thương vừa nói vừa cười.
Bước vô rạp, cả hai đều bàng hoàng vì bóng tối. Cái nắng chang chang của Sài gòn càng làm tăng thêm cái dịu dàng của không khí điều hòa bên trong rạp Rex, vẫn còn xài máy lạnh. Thương và Luân chọn một dãy ghế ngồi trên lầu hai, tít phía sau. Xem phim gần mười lăm phút mà Luân không hiểu gì cả, vì tâm trí chỉ loay hoay trong những toan tính. Cuối cùng, đánh liều, Luân từ từ và rất nhẹ để bàn tay của mình lên bàn tay Thương. Thấy Thương không phản đối, Luân dùng năm ngón tay bóp tay Thương. Thương vẫn không có phản ứng, Luân xoay qua ôm đại. Thương lúc đầu hơi giãy giụa, nhưng, trong vòng tay rắn chắc của Luân, nàng chỉ còn biết thả hồn bay lên đỉnh rạo rực của bản năng. Giữa những nụ hôn, nàng chập chờn nhớ đến Hùng, đến đám cưới khi xưa của mình, đến lần đầu tiên được Hùng hôn rồi khẻ rùng mình. Bất thình lình Thương đẩy mạnh Luân ra:
-Anh không được làm bậy nghen!
Luân ngoan ngoãn ngồi ngay lại, đầu cúi xuống, chừng như hối hận. Thương nghe tội nghiệp, xoay ngang qua ôm Luân. Như mở cờ trong bụng, Luân ghì siết lấy Thương. Và đến khi ra về, cả hai chẳng ai biết cốt truyện của cái phim có nhan đề quái đản đó là gì.
Một hôm bà dì về quê làm đám giỗ, Thương cho Liên đi theo. Hôm đó Thương dắt Luân về nhà và hưởng lại cái sung sướng tận cùng về xác thịt của gái một con. Thương cảm xúc đến tột độ. Những tiếng rên, những tiếng nấc, những tiếng nghiến răng tạo thành một bãi âm thành cuồng nhiệt, gọi mời. Thương tự hỏi không biết bây giờ với Luân và lần đầu tiên với Hùng, lần nào sung sướng hơn. Cán cân ngã về phía Luân, bởi vì, lần đầu đối với người con gái, sự tận hưởng về xác thịt dù sao cũng không khỏi ngỡ ngàng lo sợ. Dĩ nhiên ở đời cũng có người này người khác. Có người nói sự lo sợ làm giảm phân nửa khoái cảm. Có kẻ bảo, sự lo sợ kích thích thêm khoái cảm. Nhưng dù sao đi nữa, đằng này, đã gần hai năm đơn chiếc, cái hơi hám của người đàn ông đối với Thương có tác dụng y như ly nước mía ngọt ngào uống sau một ngày dài băng qua sa mạc. Cái hơi hám ấy kỳ lạ lắm, hấp dẫn lắm, khiến nàng không còn nhớ đến Hùng đang kéo lê kéo lết chuỗi ngày tù tội mà Cộng sản ban cho như một khoan hồng. Nhiều khi bất chợt nhớ đến Hùng, Thương cũng nghe hối hận. Nhưng chút hối hận bất chợt đó của đàn bà không ở lâu trong tâm khảm họ, khi họ đang mang tâm trạng của một kẻ khát tình. Đa số đàn ông Việt nam sao khỏi có lần đi ngang về tắt trong chuyện gối chăn. Nhưng phần lớn đàn ông, với bản tính tự nhiên của loại giống là chinh phục và chiếm đoạt, cho dù có đi tắt về ngang thì, khi đã được mục tiêu, thường không còn say đắm cái mục tiêu ấy nữa. Cho nên, chuyện đi tắt về ngang của đàn ông, đa số cũng chỉ là chuyện qua đường ghé quán, cho dù đôi khi có quá chén, ngủ quên trong quán thì sau đó cũng trở về nhà. Người đàn bà lại khác. Bởi bản tính, đa số đàn bà không muốn làm người chinh phục mà thích được làm đối tượng của sự chinh phục. Người được chinh phục chính là người nhận. Người nhận ít khi thấy rằng mình nhận đủ. Cho nên người đàn bà, khi đã là đối tượng của đón đưa mời gọi, thì, không còn gì khiến họ mong muốn hơn điều mãi mãi được là đối tượng duy nhất của người nặng lòng nặng dạ với mình. Thương không ngoài thông lệ.

Tiếp đó là những ngày hưởng thụ say sưa của Thương và Luân. Tuần nào, Thương cũng kiếm chuyện cho bà dì đưa Liên đi chơi, khi đi sở thú, lúc đi ciné…để lại cái nhà cho Thương và Luân làm một thế giới riêng rẽ đón đưa mời gọi. 
Cuối năm bảy mươi bảy, Thương nhận được tin chồng đang ở Phan rang, trong một trại cải tạo. Thương nghĩ đến việc đi thăm nuôi. Dù sao thì cũng tình cũng nghĩa. Huống chi, ngày ba mươi tháng tư, nếu Hùng không nghĩ đến mẹ con nàng, Hùng đã đi mất đất. Nhưng từ bé đến giờ chưa khi nào Thương ra khỏi Sài gòn một mình. Thương nghe ngại quá cho thân gái dặm trường. Cuối cùng, Thương rủ đại Luân đi, không ngờ Luân chịu.
-Anh đi với Thương thăm ổng nghe…
Luân ngần ngừ:
-Anh có biết ổng đâu mà đi thăm. Anh đi với em thì làm sao hai người mùi mẫn được!
Thương vói tay bẹo Luân một cái:
-Đồ quỉ! Em không giỡn đâu nghe! Chẳng lẽ bỏ ổng không đi thăm sao? Bộ ghen hả? Sao nhỏ mọn vậy!

Luân không ghen cũng không giỡn, nhưng trong thâm tâm, thấy có gì không ổn lắm. Luân nghĩ đến ngày Hùng ra khỏi tù. Khi đó Luân với Thương sẽ ra sao? Liệu hai người có thể tiếp tục hẹn hò với nhau nữa không? Hay Thương sẽ trở lại với Hùng và sẽ coi Luân như người tình một thuở? Biết bao câu hỏi tràn ứ lùng bùng trong đầu óc Luân. Luân thăm dò:
-Anh gặp ổng, biết nói gì? 
Thương nói khảy, vẻ âu yếm:
-Đồ ngu ơi là ngu! Ai biểu anh gặp ổng! Anh đưa Thương đi thăm ổng thôi. Ok?
Thế là hôm sau, Luân vô sở làm, xin gặp anh Hai Nhung Phó Giám Đốc hành chánh: 
-Thưa anh Hai, nghe nói chị Hai hay bị đau yếu, nhà em còn một hộp thuốc bổ, anh Hai đem về cho chị xài.
Hai Nhung nhìn Luân, mắt liếc nhìn hộp thuốc bổ B-12, ướm thử:
-Anh thực bày vẽ quá! Thuốc này tốt và khó kiếm lắm, sao không để dành mà dùng?
Luân chửi thầm trong bụng: Cha mày. Thật ra thuốc B-12 này trước kia có gì là quí. Cũng tại tụi mày vô đây nên cái gì cũng trở nên khan hiếm cả. Luân cố nở một nụ cười như để che giấu ý nghĩ của mình, ngọt ngào: -Anh Hai cứ lấy cho chị xài đi. Nhà em còn nhiều. Không đợi mời mọc lần nữa, Hai Nhung cầm lấy lọ thuốc và hỏi sang chuyện khác. Đời vẫn thường có những cảnh oái oăm đến khốn nạn. Người bị cướp nhiều khi phải tự ý lục lạo đồ đạt của mình để dâng thêm cho tên ăn cướp! Dâng mà được nhận, đã là hạnh phúc quá rồi, bởi vì, sự từ khước của tên ăn cướp chính là đồng nghĩa của những tra khảo về sau.
Chiều đó, trước khi ra về, Luân lại vô phòng Hai Nhung một lần nữa:
-Xin anh Hai cho phép em nghỉ một tuần cùng vợ đi Phan Rang để tang bà dì mới qua đời!
Hai Nhung thấy ngay chủ đích của hợp thuốc bổ mà Luân vừa cho hồi sáng. Thế nhưng, Hai Nhung nghĩ, đừng nói một tuần, thậm chí một tháng cũng chẳng nhằm gì. Vả lại, Hai Nhung cũng hiểu rằng tụi ngụy thật ra vô sở chỉ để ngồi ngáp ruồi từ giờ này qua giờ khác thôi. Chuyên môn cho dù có giỏi đến đâu thì chuyện gì cũng phải chờ ý kiến của chi bộ, mà các đồng chí thì có ai biết gì nhiều về chuyên môn để giải quyết. Hai Nhung cũng chẳng cần xét lại là chuyện bịa hay thật. Thật thì sao mà bịa thì đã sao. Cùng lắm, vượt biên là cùng. Vượt biên thì đã có công an biên phòng. Công an biên phòng không bắt được là chuyện của tụi công an biên phòng. Cái chế độ ưu việt của cộng sản thật ra chỉ là một chế độ cục bộ nhưng cứ mở miệng là đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Tất cả chỉ là hù thôi để che đậy sự ngu dốt của chúng. Tất cả chỉ vì có người khiếp sợ chạy trước mà thôi!
Hai Nhung không những ký giấy giới thiệu cho Luân mà còn ghi cả vợ Luân vô nữa. Luân cám ơn Hai Nhung, không quên nói thêm:
-Em có dặn công đoàn rồi, phần thịt heo của em tháng này chuyển qua anh Hai.
Hai Nhung ân cần dặn dò:
-Anh cho tôi chia buồn với gia đình bà dì anh.
Lo xong ở sở rồi, về nhà, Luân làm một màn ta thán với vợ: -Tuần sau anh phải đi công tác tận Phan rang với mấy người trong sở. Thật là chán! Nay công mai tác hoài mà chẳng được chuyện gì. Chắc xong chuyến này, anh xin nghỉ luôn!
Vợ Luân nghe chồng đòi nghỉ luôn, đâm hoảng. Nếu Luân nghỉ thì làm gì bây giờ? Trước hết mỗi tháng sẽ mất toi nửa ký đường cát trắng của người anh em Cuba, nửa ký thịt heo, mấy chục cái đầu gà, mấy chai bia lớn…được mua theo giá chính thức. Sau đó, nếu không có công ăn việc làm thì chuyện đi kinh tế mới cũng không phải là chuyện xa vời. Không được! Vợ Luân nói khẽ:
-Thôi đừng nản! Đi thì đi chớ sao! Ai sao mình vậy. Để tui lo mấy bộ áo quần cho ông mang theo với mấy hộp đồ khô.
Ngày thứ hai tuần sau đó, Thương và Luân tờ mờ sáng đã ra bến xe An đông mua vé đi Phan rang. Nhờ tấm giấy giới thiệu của anh Hai Nhung, việc mua vé với giá chính thức cũng dễ dàng. Quốc lộ số 1 chạy từ Nam ra Bắc khi chạy qua Phan thiết, lượn trên những triền núi dọc theo bờ biển như một con rắn quanh co. Bên núi bên biển trông thật hữu tình. Bất giác Luân thở dài.
-Bộ nhớ vợ rồi sao, Thương hỏi.
Luân không nhớ vợ nhưng tự dưng trong lòng dậy lên chút tình sông núi. Thường người ta vẫn nói: tức cảnh sinh tình. Mai kia mốt nọ, không biết dải giang sơn cha ông mình đã dày công tạo dựng chẳng biết con cháu gìn giữ được hay không? Luân nghe băn khoăn quá!
Đến tỉnh lá Phan rang, trời đã quá xế. Thương và Luân xuống xe đò, hỏi đường đi đến trại tù cải tạo. Dân địa phương khuyên nên để sáng mai hẳn đi vì nếu đi ngay, cho dù đến nơi cũng hết giờ thăm nuôi. Thì cũng phải đành! Khó khăn lắm mới tìm được một khách sạn coi được. Tắm rửa xong, cả hai lăn ra ngủ vì mệt sau gần một ngày chật chội trên chiếc xe đò bị dằn lên vật xuống vì những ổ gà. Sáng hôm sau, cả hai thuê bao hai chiếc xe ôm để đi thăm Hùng. Xe chạy quanh co theo một con lộ nhỏ chừng hơn hai mươi cây số thì đến trại. Trời đã bắt đầu nắng. Luân ngồi lại dưới một gốc cây để Thương vô trại một mình, cùng với đoàn thăm nuôi. Khi gặp Hùng, Thương chỉ biết khóc vì thấy Hùng tiều tụy quá. Cái vẻ oai phong ngày trước cơ hồ đã bị Đảng tước đoạt sau gần hai năm mang tiếng học tập nhưng thực ra là tù khổ sai, một thứ tù khổ sai đặc biệt chỉ có ở nước Cộng sản, bởi vì, ở các nước tự do, người tù, cho dù là loại tù nào đi nữa, cũng có quyền được biết tin tức gia đình, có quyền được biết thời gian bản án của mình…Đằng này, những người tù như Hùng hoàn toàn không biết gì cả. Hùng cố lấy bình tĩnh, thều thào:
-Em và con khỏe không?
Thương vừa khóc, vừa gật đầu:
-Em và bé Liên vẫn thường. Anh vẫn khỏe?
Hùng ứa nước mắt:
-Nhờ ơn Đảng và nhà nước khoan hồng, anh vẫn khỏe.
Câu thiệu ấy là một câu đầu môi chót lưỡi học được từ những cái miệng nói như cái máy của các cán bộ, giờ này, với Hùng, đã thành một thói quen, không qua phần kiểm soát của lý trí. Cái gì cũng nhờ ơn Đảng và nhà nước cả. Thương muốn bật cười, khẽ nói:
-Có ai nghe lén đâu mà anh phải nói vậy!
Đúng là không có ai lén nghe thật, nhưng Hùng vẫn sợ. Trong trại, nhiều khi có đứa mới có ý tưởng trong đầu mà đám ăn ten còn biết nữa là! Thế rồi những trận đòn, những hình thức tra tấn, những giờ bị đem phơi nắng…Hùng rùng mình khi nghĩ đến đó. Bản năng sinh tồn đã biến Hùng thành một thứ hèn nhát mà nhiều khi Hùng cũng muốn phỉ nhổ chính mình. Hùng chuyển đề tài: -Anh không biết bao giờ được về. Anh không dám đòi hỏi gì hơn ở em. Chỉ xin em, trong bất cứ trường hợp nào, cũng lo cho Liên! Thương nghẹn ngào, tay cầm xách đồ ăn khô, thịt chà bông, đường, muối và một số áo quần đưa Hùng. Mới đó, tiếng kẻng đã vang lên báo hiệu sắp đến giờ hết thăm nuôi. Năm phút sau, tiếng kẻng thứ nhì thực sự chấm dứt buổi thăm nuôi. Dù sao thì Hùng cũng hạnh phúc hơn nhiều người bạn tù không được thăm nuôi ngày hôm đó, đang đứng rải rác, ngơ ngẩn, thèm thuồng nhìn Hùng và các tù nhân khác đang hưởng cái diễm phúc vĩ đại trong đời tù nhân. Theo chân đoàn người, Thương ra khỏi cổng trại. Luân đang đứng chờ dưới tàng cây với hai người lái xe ôm.


Thương cho thêm mỗi người lái xe ôm một số tiền, đề nghị hai người đi một chiếc còn Thương và Luân đi một chiếc. Trên đường về, Thương và Luân im lặng, chẳng ai lên tiếng trước. Thương nhớ có nhiều việc định nói với Hùng nhưng khi nãy quên khuấy, đâm ra bực bội. Luân cũng không biết nói gì, nín thinh luôn. Những cơn gió thổi tạt vô mặt hai người, không đủ làm dịu bớt những tia nắng chiều quái ác cũng như sự im lặng ngột ngạt bủa quanh.
Về lại khách sạn, cả hai thay đồ, tắm rửa và lăn ra ngủ. Sáng sớm hôm sau, Thương đề nghị Luân đi Nha Trang chơi vài ngày. Luân như một con đò xuôi gió, đâu thể cưỡng lại. 
Nha Trang vẫn còn biển xanh cát trắng, vẫn còn những hàng giương cao vút và những hàng dừa cong cong thơ mộng. Nhưng biển Nha Trang không còn tấp nập rộn ràng như trước bảy mươi lăm. Nhìn lại cảnh cũ đã từng nhìn thấy, Luân nghe ngậm ngùi thương tiếc. Bốn ngày trăng mật lây lất trôi qua, bởi Thương không sao quên được hình ảnh Hùng gầy gò thảm hại. Bên cạnh trạng thái tâm lý ấy của Thương, Luân cũng không nghe hứng thú gì lắm.
Về đến Sài gòn, một tuần sau Thương mới lấy lại được nhịp sống bình thường. Mặc dù cuộc sống nhộn nhịp của chợ trời, Thương vẫn không sao quên được cái hình ảnh tiều tụy của Hùng. Những kỷ niệm xưa lần lữa hiện về với Thương. Thương quyết định phải làm một cái gì cho Hùng, tìm gặp ông cậu xa tập kết mới về lại miền Nam, hiện làm việc ở Thành Ủy. Nhờ sự móc nối của ông cậu nhưng cũng phải chi đến năm cây vàng, đầu năm bảy mươi tám, Hùng được cho về. Câu châm ngôn khi xưa “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” không còn hợp thời cho thời buổi cách mạng nữa, mà phải đổi là “cây vàng đâm ngang tờ giấy” thì mới đúng. Bởi vì, cách mạng bao giờ cũng ưu việt hơn, sáng suốt hơn. Cái nén bạc dĩ nhiên sao bằng cây vàng được! Hùng về, dĩ nhiên đem lại cho gia đình niềm vui đoàn tụ, nhưng cũng làm Thương bối rối. Nàng không còn hẹn hò được với Luân một cách tự do nữa. Những buổi gặp lén lút trong những căn phòng cho thuê một hai tiếng đồng hồ trên đường đi Thủ Đức hay những xuất ciné ở một rạp hát vùng chợ lớn không thực tế chút nào. Nàng vẫn thương Hùng nhưng nàng không quên Luân được, nhất là, trước cái không ưu thế của Luân, nàng cảm thấy Luân đáng tội nghiệp hơn. Bao giờ cũng vậy, người đàn bà thường tự đồng hóa mình với một quan tòa đầy lòng nhân từ để xét xử những giằng co tình cảm. Thành ra, nếu như Thương có thương Luân hơn Hùng, thì chắc chắn không phải vì nàng có mới nới cũ hay xa mặt cách lòng mà chính vì Luân đáng tội hơn! Mà Luân đáng tội thật, bởi, hai vợ chồng Luân đang làm thủ tục ly thân. Thương đâu biết rằng, giá như không có Thương, có lẽ chuyện ly thân của vợ chồng Luân đã không xảy ra, hay ít ra cũng còn lâu. 
Mấy tháng sau, anh vợ Luân, bác sĩ hành nghề ở Montréal, bảo lãnh vợ Luân và ba con sang Canada. Thực ra, giấy tờ bảo lãnh đã được làm trước tháng tư bảy mươi lăm mấy tuần, nhưng phải đợi đến giữa năm bảy mươi tám cách mạng mới cho đi. Luân dĩ nhiên không đi theo, bởi đã ly thân với vợ nên cũng chẳng còn liên quan gì đến người anh vợ. Luân không buồn. Nhưng cuộc đời vẫn luôn luôn tréo cẳng ngỗng: Lúc trước, Thương free thì Luân bận bịu, đến khi Luân free thì chồng Thương lại về. Suốt cả nửa năm sống với những dằn co tình cảm như thế, Thương đâm nghe mệt. Nàng không nỡ bỏ Hùng, cũng không nỡ rời Luân. Người nào cũng có điểm cho nàng thương yêu. Hùng chưa có lỗi gì nặng đối với nàng. Cái thân phận lính ngụy của Hùng càng khiến nàng không nỡ không thương. Còn Luân, vợ con không còn nữa, nếu như nàng xa Luân luôn thì lại không đành. Cái tình trạng hẹn hò lén lút, lây lất, sống ngày nào biết ngày ấy thôi, kéo dài đến cuối năm bảy mươi tám thì Thương quyết định thuyết phục và lo cho Hùng cùng Liên vượt biên trước. Thương ở lại cũng phải, vì lỡ chồng con bị bắt, cũng còn có nàng ở ngoài mà lo. Nghe cũng có lý, Hùng ưng thuận. Đêm đó Thương và Luân đưa Hùng và Liên xuống Nhà Bè. Thương giới thiệu Luân với Hùng như một người chuyên tổ chức các chuyến vượt biên. Không có lý do gì để Hùng không tin điều đó, nhưng tự dưng chàng cảm thấy lờ mờ một cái gì không ổn. Cảm thấy thì cảm thấy vậy thôi, nhưng trong hoàn cảnh của Hùng, chàng làm gì có tiếng nói khi người lo lắng trăm bề cho chàng là Thương. Mấy tuần sau, Thương đã có tin Hùng và con đã đến Mã Lai.Sau đó hai cha con Hùng được Canada nhận cho định cư ở Kitchener, Ontario. Thế là Thương và Luân hoàn toàn tự do, không còn lo sợ ai ràng buộc. Cái nghề chợ trời của nàng không những dư ăn dư mặc mà còn biến nàng trở thành một giai cấp mới trong thời buổi mới. Nhưng rồi, mấy cái chợ trời càng ngày càng bị công an bố ráp chặt chẽ hơn, nhất là vào những ngày trước khi có chiến dịch đánh tư sản. Đánh tư sản? Tư sản là ai? Họ là những người buôn bán, nhiều tiền nhiều của đã ngấm ngầm đóng thuế cho cách mạng mặc dù cách mạng không cấp môn bài cho họ làm ăn. Đến khi cách mạng mới chiếm được Sài gòn, trong loa phát thanh, họ được vinh danh là những nhà tư sản dân tộc đã góp phần cho cách mạng thành công. Nhưng ba năm, sau ngày cách mạng thành công thì khác. Cũng chính những nhà tư sản dân tộc ấy lại trở thành đối tượng của cách mạng dạy dỗ. Đó là cái giá của những đứa ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản! Thương và Luân nghĩ đến chuyên vượt biển. Cả hai đăng ký đi xuất ngoại bán chính thức trong những ngày đầu tiên của chiến dịch. Chuyến đi may mắn không gặp hải tặc, đến bờ Mã Lai bình yên. Thương và Luân khai là vợ chồng và cũng được Canada nhận cho định cư ở Montréal.
Sau khi đến Montréal, Thương liên lạc với Hùng và con bằng điện thoại rồi hôm sau đi Kitchener ngay. Ngồi xe buýt một mình suốt bảy tám tiếng đồng hồ, Thương mường tượng cái cảnh mừng mừng tủi tủi khi gặp lại Hùng và Liên. Kitchener cách Toronto chừng trăm cây số, vẫn còn có những chiếc xe buýt dính với hai sợi dây điện trên cao. Thương gọi một chiếc taxi vì không biết đường. Đến nơi, nàng run rẩy bấm chuông. Khi thấy một người đàn bà ra mở cửa, Thương tưởng mình đi lạc:
-Thưa, đây có phải nhà ông Hùng không? Có lẽ đã được Hùng dặn trước, người đàn bà nhìn Thương mỉm cười, trả lời bằng tiếng Anh:
-Yes. Please come in!
Thương đang ngỡ ngàng thì Hùng và Liên chạy ra. Hùng giải thích: -Linda là gái Lào, không biết tiếng Việt.
Thương ngước nhìn Linda và cuối xuống ôm chầm lấy Liên, nước mắt đầm đìa. Liên thút thít, miệng kêu những tiếng mẹ bằng một thứ âm thanh nhão nhoẹt. Thương lấy khăn giấy lau nước mắt cho con và cho mình rồi đứng lên hỏi Hùng:
-Cô gái Lào này là ai?
Hùng nhún vai:
-Bạn gái của anh!
Thương sững sờ một lúc rồi lấy lại bình tĩnh:
-À, thì ra anh đã có vợ. Chúc mừng anh!
Hùng nhún vai:
-Em cũng đã có chồng rồi mà!
Thương trợn mắt, tức tưởi:
-Em có chồng hồi nào? Anh đã gặp chồng em chưa?
Hùng mỉm một nụ cười khinh bạc:
-Dĩ nhiên là chưa biết rõ, nhưng anh đã thấy rồi. Người đàn ông mà em giới thiệu lúc em đưa anh và con vượt biển chứ gì!
Thật ra, sau khi đến Canada, Hùng đã liên lạc với bà con còn ở lại Việt nam và đã biết rõ mọi chuyện giữa Thương và Luân. Hùng buồn lắm, nhưng nhờ mấy năm tù tội đã quen chịu đựng nên vẫn im lặng. Cái mặc cảm tự ti của một người đàn ông được vợ lo cho ra khỏi tù, rồi nhất nhất đều dựa vào lưng vợ, từ cái ăn đến cái mặc, từ cuộc sống đến chuyện vượt biên cũng do một tay Thương, cái mặc cảm ấy đã biến Hùng thành người ít nói, hay suy tư và im lặng một mình. Mà thật ra, không im lặng thì làm gì được bấy giờ? Chuyện Thương dan díu với Luân đâu phải riêng gì Hùng biết mà cả nước đều biết. Thế nhưng, con người hay tự che giấu với chính mình bằng ngụy tín. Thương trầm ngâm một lúc rồi đổi giọng:
-Được rồi. Em mang Liên về ở với em!
Hùng cười gằn:
-Em tưởng em đủ tư cách để nuôi Liên sao?
Cơn giận bỗng tràn tới ập lên đầu Thương. Nàng nói như hét lên:
-Anh tưởng anh đủ tư cách hay sao? Đồ vô ơn! Ai lo cho anh ra khỏi tù? Ai lo cho anh vượt biên? Nói đi! Anh nói đi!
Hùng vẫn bình tĩnh, nhỏ nhẹ, cái thứ nhỏ nhẹ cay đắng:
-Anh biết rồi! Chính em! Chính em đã lo cho anh hết! Em muốn anh phải trả bằng gì đây? Em đòi gì nữa đây? Khốn nạn cho thân anh là thằng đàn ông hèn hạ chẳng ra gì nên vợ cắm sừng trước mặt mà vẫn phải cắn răng chịu đựng! Thời thế đã đổi thay rồi! Đàn bà đóng vai chồng còn đàn ông thì đóng vai vợ hay sao đây! Em đừng lo. Khi nào Liên đủ mười tám tuổi, nó sẽ biết lựa chọn về ở với ai!
Thương ngẩn người một lúc rồi cố làm ra vẻ bình thường trước cái nhìn dò hỏi của cô gái Lào. Thương nhìn Linda gượng cười, khẽ nói:
-Sorry!
Thương dắt Liên vô phòng của Liên rồi khép kín cửa lại, ôm Liên vào lòng, xoa đầu Liên và để những giọt nước mắt tự do rơi xuống má. Thương sắp mất hết! Người đàn bà nào lại không thương con, nhất là đứa con một. Những ngày còn ở Sài gòn, Thương không có nhiều thời gian âu yếm Liên. Trước bảy mươi lăm, vì phải giao thiệp tiệc tùng, Thương phó mặc Liên cho bà dì. Sau bảy mươi lăm, khi Hùng còn ở tù, vì buôn bán ở chợ trời, nên cũng chỉ mình bà dì săn sóc cho Liên. Khi Hùng về, Thương vẫn phải lê đời trên cái vỉa hè Võ Di Nguy nên mặc cha con Hùng ở nhà. Rồi từ ngày Hùng mang Liên vượt biên đến nay, mẫu tử thâm tình, biết bao thương nhớ! Thế mà, bây giờ, nơi xứ tự do này, Thương không gần gũi với con được hay sao! Hai tay ôm con, Thương để im lặng phủ vây, rồi thiếp đi lúc nào không hay. Đêm đó Thương ngủ luôn trong phòng Liên, không ra ngoài. Sáng hôm sau, mẹ con dắt nhau ra công viên sau nhà, vui đùa. Chơi với Liên được ba ngày, Thương phải trở về Montréal. Buổi chia tay, hai mẹ con khóc đầm đìa cho đến khi chiếc xe buýt chuyển bánh. Hình ảnh Liên nhòe đần trong mắt Thương. Nàng đờ đẫn quên chào cả Hùng và Linda cũng đưa nàng ra bến xe.
Trở về Montréal, Thương nín lặng mấy ngày không nói, bỏ cả lớp học tiếng Pháp(Cofi). Thương không muốn nhìn thấy bất cứ ai, ngặt nỗi trong cái apartment hai rưỡi nhỏ như lỗ mũi lại còn kê thêm hai bàn máy may kỹ nghệ, làm sao khỏi phải nhìn thấy Luân. Cuộc sống tị nạn khá chật vật vất vả. Thương bỏ luôn khóa học cofi, ở nhà may và chạy thêm hột lai rai. Phần Luân xin được một chân an ninh trong một building hạng sang nên cũng tạm yên thân.
Được mấy năm, có chút đỉnh vốn liếng, Thương mua một căn nhà duplex với giá hờ ba mươi lăm ngàn. Năm sau, căn nhà bán được sáu chục. Thừa thắng xông lên, nàng mua thêm mấy căn nhà nữa. Cũng may, nhờ Luân có đồng lương tương đối khá và làm một nơi lâu ngày đứng ra bảo lãnh nên ngân hàng cho vay cũng dễ dàng. Mấy năm sau, cơn sốt nhà tuy không biến Thương thành giàu có nhưng cũng đã thay đổi giai tầng xã hội của nàng. 
Khi Liên được mười tám tuổi, Thương nghĩ ngay đến việc đem Liên về ở với mình. Liên thương mẹ lắm nhưng đã ở khá lâu với Hùng nên cũng thương Hùng không kém. Vả lại, cuộc tình của Hùng và Linda cũng đã tan vỡ, thành ra Liên càng không muốn xa lìa người cha đã từng chia xẻ vui buồn hoạn nạn với mình. Như một cuộc trả giá, Liên đồng ý theo Thương với một điều kiện là Hùng cũng theo luôn và Luân phải ra đi. Thương giận tím mặt:
-Thì ra cha con mày bàn mưu tính kế với nhau!
Hùng cay đắng:
-Sao em coi thường anh quá vậy? Cho dù hèn đến đâu, anh cũng không cần làm áp lực trên bất cứ ai em ạ! Con đã đến tuổi trưởng thành theo luật định rồi, quyết định là của nó! Còn anh, cho dù em mang cáng đến, anh cũng không đi với em đâu!
Liên xen vào:
-Mẹ muốn con về, con sẽ về, nhưng con không thể xa ba được. Mẹ tha thứ cho con!
Sau mấy hôm bàn tính, cả ba đồng ý là hai cha con Hùng đều về ở chung với Thương nhưng miễn điều kiện Luân phải ra đi. Ban đầu, Hùng vẫn không chịu giải pháp chung sống hòa bình chẳng giống ai này, nhưng vì thương Liên thiếu mẹ lâu ngày nên đành ép bụng nghe theo. Thế là, bốn người ở chung trong một căn nhà. Liên, Hùng và Thương mỗi người một phòng trên lầu, còn Luân thì chiếm một phòng ở tầng hầm. Trên nguyên tắc, bốn người ăn chung, nhưng Luân luôn luôn tránh mặt ăn sau! Cũng may là Luân làm ca đêm nên ít chạm mặt với Liên và Hùng. Phần Thương, nàng phải rán ép mình ở giữa hai thứ tình thương đối chọi nhau, một bên là Hùng và Liên, một bên là Luân. Cuộc sống lứa đôi của tuổi bốn mươi sung mãn của nàng chẳng khác gì cuộc sống của một nữ tu. Thật ra nàng cũng có thể đột xuất xuống tầng hầm với Luân nhưng lại sợ Liên thấy, đem lòng khi dễ. Chẳng lẽ có nhà lại phải đi thuê motel! Phần Luân, kể cũng buồn. Vợ đã ly dị thì khỏi nói làm gì, nhưng ba đứa con, liệu chúng có hổ thẹn khi nghe người ta bàn tán với nhau về cái cảnh một bà hai ông không? Dù thật sự, giữa Thương và Hùng hoàn toàn không có gì, nhưng ai chịu tin cho! Nhất là khi, hai người đàn ông ấy, một người đi làm ca ngày còn một người đi làm ca đêm!
Một hôm, nhân một ngày nghỉ phép, đến giờ cơm chiều, Luân thay đồ định đi ra ngoài ăn. Thương nói:
-Anh Luân nghỉ phép, ở nhà ăn cho vui!
Luân nghe hơi lười nên đồng ý. Trong lúc ăn, Luân sơ suất đánh rơi chén canh lên đùi Hùng. Hùng mắc mỏ:
-Bộ muốn đuổi tôi đi chỗ khác hay sao?
Liên, bênh cha, bồi thêm:
-Thôi cha ơi, phận mình ăn nhờ ở đậu mà nói gì. Coi chừng người ta giận lại tống cổ mình đi bây giờ! 
Nói xong, Liên nguýt Luân một cái. Thương nóng mũi:
-Mày con nít, sao lại chen vô chuyện người lớn! Còn anh Hùng nữa, anh Luân chỉ lỡ thôi mà làm gì nổi đình nổi đám lên vậy! -Đó là con Liên còn nhỏ, nhịn không được, thấy sao nói vậy chớ anh có ăn thua gì! Hùng phân bua.
Nãy giờ, Luân chưa nói một câu, lẵng lặng đứng dậy,xuống thang, vô phòng, đóng cửa, nằm nhìn trần nhà mà suy gẫm cuộc đời. Liên thì khóc tức tưởi, chạy vô nhà tắm. Hùng cũng bỏ lên lầu. Còn lại mình Thương nơi bàn ăn, nàng nghe như đứt từng khúc ruột. Nàng bật khóc, hét lớn lên để mọi người nghe:
-Được rồi! Tôi đi đây, để mấy người ở lại muốn làm gì thì làm!
Nói xong, Thương không kịp thay đồ, khoát đại chiếc áo choàng mùa đông lên người, ra khỏi nhà, đóng cửa cái rầm. Ngoài trời, tuyết rơi phủ trắng mặt đường. Đêm đó, Thương ngủ lại nhà một người bạn gái, không về.
Đêm sau, Thương trở về, trời đã tối mịt. Nhìn qua khuôn cửa sổ bằng kính, không thấy đèn đuốc chi cả, Thương thoáng mất bình tĩnh, loay hoay một lúc mới mở được ổ khóa. Bước vô nhà, nàng gọi lớn:
-Liên, tối rồi mà sao không bật đèn!
Không có tiếng trả lời. Thương gọi lớn hơn nhưng cũng chỉ nghe tiếng mình dội lại. Thương hốt hoảng:
-Anh Hùng, anh Luân, mấy người đâu rồi!
Cũng chẳng ai trả lời. Thương sờ soạng, tìm contact đèn. Khi ánh đèn sáng lên, Thương mới biết rằng trong phòng khách chẳng có ai. Thương bước vô bếp, nhìn trên mặt bàn ăn, thấy một tờ thư gấp hai, nằm dưới một cái ly uống nước. Đó là lá thư của Hùng:
“Thương em,
Thật ra, anh đã không nên về đây để làm em khó xử, cho dù cái động lực chính là vì Liên, đứa con gái duy nhất của hai ta. Hoàn cảnh của Liên thật đáng tội. Khi còn ở Việt nam, Liên thiếu sự săn sóc của cha vì anh bị cảnh tù tội. Qua đây, Liên lại thiếu em. Chính vì lẽ đó mà anh dẹp mọi tự ái để về cùng em, thủ một vai kịch bi hài với hy vọng đem lại hạnh phúc cho Liên được ngày nào hay ngày nấy. Thế nhưng, như em đã thấy, màn bi hài kịch của chúng ta cho dù đóng suốt đời đi nữa, thì cũng chỉ là một màn bịp bợm mà thôi. Không những bịp đối với Liên, với đời mà còn đối với chính chúng ta. Em dù giỏi nhịn đến đâu, tình thương của en dù bao la đến đâu, em vẫn không thể đáp ứng được một lúc hai chiều đối kháng. Anh vẫn yêu em, có thể yêu em suốt đời này, nhưng anh không thể đóng cái màn kịch ngột ngạt này lâu hơn thế nữa!
Xin em hiểu mà tha thứ anh buộc lòng đã dắt Liên theo. Anh sẽ ở vậy một mình cho đến khi Liên có người thay anh mà chăm sóc cho nó. Đừng tìm anh vô ích. Vĩnh biệt em. Chúc em hạnh phúc”.
Đọc xong tờ thư, Thương muốn ngất xỉu. Công lao khó nhọc biết bao nhiêu mới thuyết phục được Liên và Hùng về đây ở chung với nàng. Như chợt nhớ ra điều gì, Thương chạy ào xuống tầng hầm, đẩy mạnh cửa phòng Luân. Cũng chẳng có ai. Luân đang nghỉ phép, đâu có đi làm. Nàng chạy mở tung cửa tất cả các phòng trong nhà, kể cả phòng tắm nhưng chẳng thấy bóng dáng Luân đâu. Thế là hết! Thế là đi hết! Thương uất nghẹn, vật người lên ghế salon, ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi những tia nắng sáng, qua lần cửa kính, chiếu đầy lên mặt Thương.
Một ngày sau, Luân cũng chưa về nhà. Một tuần sau, cũng không. Thương không nghĩ là Luân có thể trở về với vợ cũ. Đúng một tháng sau, Thương nhận được một lá thư của Luân gởi từ Vancouver, vỏn vẹn mấy chữ:
“Vĩnh biệt Thương. Đừng tìm anh mất công! Anh đã quyết định trả Thương lại cho những người cần Thương hơn anh. Chúc Thương hạnh phúc!”
Thương lặng người nhưng không khóc được. Thốt nhiên nàng phá lên cười, miệng lẩm bẩm: hạnh phúc! Hạnh phúc là gì? Tại sao cả ba người cùng bỏ ta đi và cùng chúc ta hạnh phúc? Hạnh phúc với ai?! Liên, con ơi!
Thương ngẩn ngơ, quờ quạng như đang ở giữa khoảng chân không, suy nghĩ về những chuyện đã qua, rồi bất chợt nghiệm ra được một điều, rằng, kẻ ở giữa, nhất là ở giữa những lực đối nghịch nhau, cho dù khéo đến đâu, cuối cùng, sẽ chẳng còn thấy ai ở lại với mình!
Ngoài trời, tuyết vẫn rơi đều, tưởng như đang cố đem trời đất vào sâu trong lòng một mùa đông quạnh vắng./

 

Thảo luận cho bài: "Mùa đông quạnh vắng"