Nạn Bạo hành gia đình (Domestic Violence)

Tác giả:

Nếu phần lớn người Việt định cư tại Mỹ đều biết rõ luật pháp Hoa Kỳ cấm đoán nạn bạo hành gia đình thì ngược lại chỉ có một số ít ý thức được rằng sẽ bị những hình phạt rất nặng, cuộc nghiên cứu của giáo sư tiến sĩ Bùi Ngọc Hoàn của trường đại học Tennessee ở Knoxville cho biết.

“Bạo hành gia đình không dành riêng cho một xã hội nào, tất cả mọi nơi trên thế giới đều có vấn nạn này kể cả Hoa Kỳ nơi sự can thiệp của chính quyền và của luật pháp được xem là rất tích cực và cương quyết từ 20 năm qua. Nhưng đối với người Việt di dân tại Mỹ thì nguyên do chủ yếu là vì nhiều người không biết luật pháp rất nghiêm khắc với người vi phạm,” giáo sư Hoàn viết trong bản phúc trình.

Cuộc nghiên cứu thực hiện năm 2000 trong cộng đồng người Việt tại Quận Cam, Houston, Boston và Lansing (Michigan) của giáo sư Hoàn cho thấy phần lớn người Việt (97%) đều biết rõ luật pháp cấm đoán nạn bạo hành nhưng chỉ có một số ít (64%) biết rằng nếu vi phạm sẽ bị truy tố ra tòa, bị án tù, bị ghi vào hồ sơ tư pháp hay có thể bị trục xuất nếu không có quốc tịch.

Theo thống kê của Quận Hạt Santa Clara trong năm 2002, nơi có hơn 100,000 người Việt định cư, số các vụ bạo hành gia đình thuộc mọi sắc dân lên đến gần 5,300 vụ trong đó 3,500 vụ bị truy tố ra tòa, tức mỗi tuần có 67 vụ án hình sự liên quan đến vấn nạn này. Thống kê còn cho biết năm 2002 đã có chín người gốc Á trên tổng số 18 người thiệt mạng vì nguyên do bạo hành gia đình, với năm người Hoa, ba người Đại Hàn và một người thuộc vùng Đông Nam Á.

“Tổng số người gốc Á chết vì bạo hành đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2001, và đây là con số cao nhứt được ghi nhận tại Santa Clara,” bản phúc trình hàng năm của tổ chức phục vụ cộng đồng Á Châu – AACI cho biết.

Điều đáng quan tâm ở đây là mức bạo hành trong sắc dân gốc Á và vùng Thái Bình Dương tại Hoa Kỳ thấp hơn (12.8%) so với người da trắng (21.3%), da đen (26.3%) và các sắc dân thiểu số khác và nguyên do là vì các vụ bạo hành trong người gốc Á không được báo cáo đầy đủ cho chính quyền.

Nguyên nhân

Mức thất nghiệp cao trong Vùng Thung Lũng Điện Tử đưa đến những khó khăn về tài chính không phải là yếu tố duy nhứt đưa đến bạo hành mà chính yếu vẫn là người tấn công – phần lớn là nam, biết rằng nạn nhân của họ sẽ không báo với cảnh sát vì nhiều lý do.

Chị Nguyễn Thị Hoa, 39 tuổi, một nhân chứng trong buổi hội thảo Đêm Gia Đình Việt Nam do Asian Pacific Communities Against Domestic Violence bảo trợ tổ chức hồi tuần qua kể rằng đã chịu đựng khổ nhục trong tám năm trời.

“Mỗi lần đánh tui, ổng lại thách tui kêu cảnh sát, vì ổng biết tui phải tùy thuộc vào ổng,” chị Hoa kể lại nước mắt chảy dài cho dù giờ đây chị không còn lệ thuộc người bạn trai mà chị mô tả là một người đàn ông “ích kỷ, bất nhân và vũ phu.”

Chị cho biết khi vượt biên sang Mỹ từ hơn 10 năm nay chị phải tự lập nhưng vì không có nghề chuyên môn và không nói được tiếng Anh nên chị phải tùy thuộc vào một người đàn ông mà chỉ tưởng rằng đã thương yêu chị thật tình.

“Tui bỏ nhà đi mấy lần, ngay cả sau khi có con nhưng nghe năn nỉ tui lại trở về vì nghĩ con cái cần mẹ cần cha nhưng hầu như ngày nào cũng gây lộn. Tui bị thương nhiều lần phải vào bệnh viện,” chị kể với Việt Mercury.

Chị nói rằng khi vào bệnh viện người ta biết rằng vết thương – nay vẫn còn thẹo trên bàn tay và ở chân, không phải vì vấp ngã mà phải do một người nào đó gây ra nhưng vì tấm lòng thương yêu thật tình, chị không nỡ nói sự thật.

“Mỗi lần gây lộn, ổng lại lấy dao đòi tự đâm vào người để nếu cảnh sát tới sẽ tưởng rằng tui đâm ổng và bắt cả hai,” chị Hoa nhớ lại những hình ảnh khủng khiếp của một cuộc sống chung không vẹn toàn.

Chị Hoa nhìn nhận rằng lúc trước có lần chị vi phạm luật cấm lái xe khi say DUI và bị quản chế nên rất ngại nhờ đến cảnh sát.

Theo giáo sư Hoàn vì các lý do kinh tế, tình cảm, muốn che dấu chuyện riêng tư, và tránh vấn đề ly dị ảnh hưởng đến tương lai của con cái, các nạn nhân thường chỉ ôm nỗi đau một mình.

“Ngay cả khi kêu cảnh sát rồi, đa số các nạn nhân đều không muốn người hành hung mình bị bắt hay đưa ra tòa. Điều này khiến nhiều người không muốn nhờ đến nhân viên công lực nữa.”

Trong tình huống này người ta không biết con số thực sự có bao nhiêu vụ bạo hành xảy ra mỗi ngày, như trường hợp của chị Hoa, khi vào bệnh viện rồi chị cũng không dám nói sự thật.

“Lúc đó nếu tui khai hết thì tui sẽ được giúp đỡ vậy mà tui cũng không làm,” chị tâm sự để sau đó đã nhiều lần chị toan tính tự vẫn.

Ông Davie Trương thuộc cơ quan quản chế Quận Santa Clara nói rằng khoảng 25% tổng số hồ sơ ông đang nắm giữ là những người đã vi phạm tội bạo hành:

“Trong thời gian quản chế – tức probation, người vi phạm phải theo học các lớp đặc biệt trong 52 buổi. Tuy nhiên sau đó vẫn có khoảng 10% những người này lại tái phạm với nạn nhân cũ hoặc nạn nhân mới.”

Luân lý

Vậy tư tưởng và luân lý Khổng Lão, nền tảng của xã hội và gia đình Việt Nam trước đây theo đó người đàn bà lấy chồng phải phục tùng chồng phải bị đả phá?

Giáo sư Hoàn đưa ý kiến:

“Văn hóa không phải là một khái niệm bất biến, văn hóa thay đổi với thời gian và môi trường chung quanh. Luật Hồng Đức từ thế kỷ 15 cho phép người nam được đánh người nữ nhưng không được gây thương tích, nhưng ngược lại nếu người nữ đánh chồng, cho dù không gây thương tích cũng bị đầy ải. Giờ đây đạo Khổng không còn được xem là một giá trị đạo đức thực tiễn nữa. Đa số những người được hỏi đều cho rằng bạo hành gia đình là một vấn đề cần sự can thiệp của chính quyền.”

Tuy vậy, chị Ánh Lê thuộc cơ quan ACCI cho biết người gốc Việt là nhóm sắc dân kêu đường giây khẩn cấp của ACCI nhiều nhứt nhưng chỉ có số ít thực sự muốn được giúp đỡ.

“Trong 12 tháng tính từ tháng Bảy 2001 đến tháng Sáu 2002 đã có 404 phụ nữ Việt gọi cho ACCI để trình bày về hoàn cảnh của mình nhưng sau cùng chỉ có 94 người thực sự chấp nhận vào sống trong nhà tạm trú hay đến tham khảo ý kiến tại văn phòng.”

Giải thích về vấn đề này, giáo sư Hoàn thuộc phân khoa xã hội học đại học Tennessee phát biểu:

“Những phụ nữ không thuộc diện thường trú (chưa có thẻ xanh) kết hôn với thường trú nhân hay người có quốc tịch Mỹ rất dễ trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình bởi vì người phối ngẫu của họ có thể đe dọa ly dị nếu họ báo với cảnh sát, và người phụ nữ này có thể được gởi trả về Việt Nam.”

Ông Lê Minh Hải thuộc dịch vụ di trú RMI ở San Jose nói rằng trường hợp bạo hành người phối ngẫu đem từ Việt Nam sang xảy ra rất phổ biến trong cộng đồng Việt.

“Nếu người phối ngẫu được bảo lãnh đến Mỹ theo diện vợ chồng (tức có hôn thú) sẽ được cấp thẻ xanh tạm trong hai năm. Trong thời gian đó người vợ có thể là nạn nhân của người chồng và đưa đến ly dị. Nếu có đủ bằng chứng về các vụ hành hung, người vợ có thể được sở di trú chấp thuận cho gia hạn thẻ xanh. Trong trường hợp đến Mỹ theo diện hôn thê, và trong thời gian chờ đợi cấp thẻ xanh (sau khi làm hôn thú trong vòng 90 ngày sau khi đến Mỹ) người phụ nữ cho dù bị hành hạ thể xác cũng không được cứu xét theo bất cứ diện nào.”

Tôn giáo

Những ràng buộc của tôn giáo cũng là một trong những lý do khiến nạn nhân của bạo hành gia đình ngần ngại khai báo với chính quyền.

Linh mục Phan Thế Lực, chánh xứ tại nhà thờ St. Patrick giải thích:

“Một số phụ nữ tin ở điều răn nói rằng một khi Thiên Chúa đã kết nạp thì loài người không thể phân chia, và họ cố gắng sống trong cuộc hôn phối đầy những hành vi bạo hành. Họ ngại nếu ly dị sẽ trái với giáo hội và không được chấp nhận. Trong hoàn cảnh này Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ có giải pháp là thủ tục ‘tiêu hôn’ để hủy bỏ cuộc hôn nhân đó và điều này thường mang lại những kết quả tốt.”

Linh mục Lực nhấn mạnh rằng tuy giáo hội Thiên Chúa không khuyến khích hay chấp nhận ly hôn nhưng trong vấn đề bạo hành gia đình, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (www.nccbuscc.org) nhận định rằng không người nào bị buộc phải sống trong một cuộc hôn nhân có bạo hành, và nếu không hàn gắn được thì thủ tục tiêu hôn- annulment là một bước để giải quyết sự việc.

Trong khi đó về phía Phật giáo vì không có những giáo điều khắt khe về cuộc sống gia đình cũng như không có những lớp học dự bị hôn nhân nên các nhà tu hành Phật giáo thường dùng lời khuyên răn của kinh Phật để nhắn nhủ tín đồ của mình.

Hòa Thượng Thích Giác Lượng nói:

“Bạo hành gia đình xảy ra là vì sự tương kính nhau không có hay không còn nữa, một phần nào cũng do ở sự ỷ lại quá mức vào sự tự do ở Mỹ. Người nào cũng cho rằng mình có thể tự lập được thì tại sao phải gắn bó với nhau làm gì. Lời khuyên giải theo tinh thần và đạo đức Phật giáo cũng giảng hòa được cho nhiều cặp vợ chồng bên bờ vực của đổ vỡ. Đôi bên biết nhìn lại những tâm tư tình cảm ban đầu và cảm thấy hổ thẹn khi chỉ nhìn thấy những điểm xấu của nhau.”

Chị Nguyễn Thị Hoa, giờ đây đã sống ở một nơi an toàn trong một căn hộ hai phòng với người con trai 5 tuổi. Chị được hưởng chương trình trợ cấp nhà ở theo diện người có lợi tức thấp nhưng ảnh hưởng về tinh thần đã ghi sâu vào tâm khảm của chị.

“Tám năm sống trong hãi sợ, bị đánh đập ngay cả khi đang mang bầu nên giờ đây tuy qua rồi nhưng tui như bị tâm thần. Cái đầu còn chưa hoàn toàn bình phục, có khi nửa đêm thức giấc và hãi sợ,” chị nói trong buổi tiệc ăn tân gia hồi tuần qua với ba người bạn gái Việt Nam cũng là nạn nhân của bạo hành gia đình.

Đức Hà
Việt Mercury

Thảo luận cho bài: "Nạn Bạo hành gia đình (Domestic Violence)"