Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Những Chuyến Ra Đi 


Thứ ba, ngày 30 tháng 5, năm 1989… Đa số sinh viên đã rời công trường Thiên An Môn. Những người ở lại kéo màn để cho ra mắt tượng “Nữ Thần Dân Chủ.” Chính quyền Trung Hoa tuyên bố tượng nữ thần là một sự sỉ nhục đối với quốc gia.

Dì A Di là người em ruột duy nhất của mẹ tôi. Vậy mà tính tình tình hai chị em lại khác xa nhau.

Dì A Di rất sợ những sự liên hệ với người thân ở ngoại quốc. Năm 1973, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về lần đầu dì đã tránh gặp tôi. Dì rời Thiên Tân đến thăm họ hàng ở Thượng Hải nhưng thời gian đó lại vô tình rơi đúng vào lúc tôi cũng đáp xe lửa đi Thượng Hải. Thế là dì A Di không còn đường lẩn tránh. Khi chính quyền địa phương đến báo tin dì đành phải theo họ ra bến xe. Vừa thấy dì tôi đã nhận ra ngay và chợt rùng mình khi thấy tay dì cầm một quyển sổ đỏ nhỏ.

Trông thấy tôi, những sự dè dặt của dì A Di biến mất, dì ôm tôi khóc. Lúc ôm dì cảm giác của tôi thật chẳng khác gì ôm vào một chiếc bong bóng cao su khổng lồ. Người dì chỉ toàn là thịt, và gần như chẳng có xương. Tôi nói tôi rất mừng khi được gặp lại dì. Nghe xong, dì thở dài và lập tức cất ngay quyển sổ tay màu đỏ. Chính tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Quyển sổ đỏ không phải là quyển châm ngôn ghi những điều dạy bảo của Mao chủ tịch mà là một quyển tự điển Anh-Hoa để đề phòng trường hợp tôi không còn nói được tiếng Tàu.

Nhưng dì cũng chẳng giữ được phong thái tự nhiên như bình thường. Lúc cùng đi với tôi và viên chức trách, dì cứ hỏi liên miên không ngớt về bà thân tôi. Giọng dì vừa cao, vừa to chen lẫn với những câu bàn chẳng đâu ra đâu mỗi khi dì chợt nhớ ngoài chúng tôi ra trong xe còn có người khác.

“Thế mẹ và bố con cùng ở thành phố à.”

“Không dì ạ, bố mẹ con ở ngoại ô cách New York chừng 15 phút lái xe.”

“Con xem đó, đường xá Trung Hoa sạch sẽ biết bao. Khắp toàn quốc giờ chẳng còn người ăn mày nào cả. Từ ngày giải phóng cho đến nay trẻ con thật chẳng còn biết chữ ăn mày có nghĩa gì nữa phải không đồng chí?”

“Ở Hoa Kỳ con có còn ăn thức ăn Trung Hoa không?”

“Có chứ dì, tụi con lúc nào cũng ăn các thức ăn thuần túy của Trung Hoa cả trăm phần trăm .”

“Con còn ăn đũa được chứ?”

“Dĩ nhiên rồi dì, dì không thấy con còn nói được cả tiếng Tàu sao? Thế thì việc ăn đũa nào có khó khăn gì?”

“Và nhờ Mao chủ tịch mà tất cả mọi người dân Trung Hoa đều được no đủ phải không đồng chí?”

Ngồi cạnh người dì, lòng tôi những muốn đồng ý với dì về tất cả mọi vấn đề, nhưng hình ảnh của bà thân tôi với khoảng lông mày phía trái mắt như nheo lại cứ chập chờn trước mắt khiến tôi ngập ngừng. Thay vì đồng ý với dì, tôi lại kể chuyện em San San. Dì A Di chẳng còn biết tin gì thêm về em tôi trong suốt cả 11 năm trường, kể từ ngày em tôi đến Hoa Kỳ. Dì mở tròn mắt nghe chuyện trong khoảng thời gian xe đi qua vài dãy phố rồi hỏi một câu hỏi giọng đầy nghi ngờ rằng tại sao một cô gái do chính tay dì nuôi dưỡng đã lập gia đình trong suốt hai năm mà vẫn chưa có con?

“Em San San và chồng cô ta chỉ mới bắt đầu sự nghiệp, cháu chắc rồi họ cũng sẽ có con thôi dì ạ.” Vừa nói xong, tôi đã hối hận rằng mình lỡ miệng vì chắc chắn dì A Di sẽ kết luận rằng San San đã tính toán nhiều quá, đã quá Mỹ hóa. Quả nhiên sự dự đoán của tôi hoàn toàn không sai trệch. Mười phút sau đó, dì liên tục nhắc nhở tất cả những điều mà tôi thề sẽ phải nói lại với San San. Có lẽ dì sẽ còn lập lại và nhấn mạnh thêm nhiều lần nữa nếu người cán bộ ngồi cạnh không hắt hơi khiến dì chuyển đề: “Trước ngày giải phóng những dân nghèo thường phải bán con cho các địa chủ hoặc ném con xuống sông, nhưng ngày nay ở một nước Cộng Hòa Dân Chủ như Trung Hoa, họ đã được đối xử hết sức xứng đáng phải không đồng chí?”

Lúc chuyến đi gần kết thúc, ngay cả viên công chức cán bộ cũng phải khó chịu vì những lời bình phẩm liên tục và không đâu vào đâu của dì A Di.

Buổi tiệc sinh nhật của tôi trôi qua đã khá lâu mà dì A Di vẫn còn ngượng. Hôm đó, khách đến dự toàn là những viên chức cao cấp. Đây là một cơ hội chưa từng có từ trước đến nay. Tôi đã thề rằng mình phải ăn mặc cho thật chỉnh tề, nói năng đúng cung cách giao tế của một nhân viên ngoại giao, tránh không dùng bất cứ danh từ bất nhã nào có thể ảnh hưởng đến những sự tế nhị ngoại giao của hai quốc gia lúc đó. Chẳng hạn như gọi một người đàn bà trẻ bằng “cô,” gọi hộp quẹt là “cái bật lửa ngoại quốc,” gọi chồng tôi là “nhà tôi” thay vì “anh ấy.” Nhưng điều quan trọng hơn cả là tôi thề sẽ giữ đúng phong cách của một bà đại sứ. Và thực sự thì tôi đang đóng tuồng nhân viên ngoại giao hết sức đúng với vai trò thì dì tôi, ngồi im lặng từ đầu buổi tiệc cho đến lúc đó, bỗng nhiên lên tiếng nói vọng sang bàn bên kia. “Tôi ước gì tất cả các đồng chí được nhìn thấy cháu tôi ngày còn bé, mới chập chững biết ngồi bô miệng bi bô gọi tôi đến chùi đít cho cô ta.”

Tôi ở lại Thượng Hải hai tuần, vào ngày tôi lên đường thì cả dì tôi lẫn tôi đều dường như trút được gánh nặng. Trong suốt thời gian tôi ở Thượng Hải, lúc nào tôi cũng nơm nớp lo mình lỡ lời và có ảnh hưởng không hay đến cuộc sống của một người có họ hàng sống ở Hoa Kỳ như dì tôi và riêng dì tôi thì lại sợ vẫn chưa nói đủ để chứng tỏ lòng trung thành của dì đối với Trung Hoa.

Sáu năm sau tôi lại có dịp đến thăm dì A Di một lần nữa. Lần này bà thân tôi cùng đi với tôi đến tận Hồng Kông để có thể đến gần dì A Di mà vẫn không bước vào vùng đất của Cộng Sản. Bà thân tôi tránh như thế là vì ông thân tôi vẫn còn làm việc cho Đài Loan. Bà thân tôi ở Hồng Kông để đợi tin tức của cả tôi lẫn dì tôi. Dì A Di viết rằng dì mắc bệnh, nhưng không viết rõ chi tiết cho chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều đoán rằng có lẽ đây là một căn bệnh ngặt nghèo mà dì khó lòng qua khỏi. Tôi có nhiệm vụ phải xem cho rõ xem dì có được chữa trị, thuốc thang đầy đủ hay không.

Vào năm 1979 ở Trung Hoa du khách không còn là một hiện tượng lạ và bầu không khí chính trị đã cởi mở hơn, bởi thế tôi được phép đến thăm họ hàng không phải có cán bộ đi theo hộ vệ. Tôi đến chỗ ở của dì A Di vào khoảng trưa. Nơi dì ở là một căn gác thuê ở lầu ba. Lần này, khi gặp nhau, chúng tôi ôm nhau trong yên lặng. Dì vội vã dắt tôi đến một chiếc bàn vuông, mặt bọc plastic. Trên mặt bàn đồ ăn trưa dì đã sửa soạn sẵn sàng. Dì vẫn nhớ tất cả những món tôi thích. Tôi khen dì nấu ngon. Dì cứ mãi tiếp thức ăn cho tôi. Tôi thấy câu chuyện hỏi han của tôi với dì thực khó bắt đầu. Dì cứ hỏi đi hỏi lại bà thân tôi có khoẻ không. Sau khi chúng tôi dùng bữa xong, tôi đánh bạo hỏi những gì tất cả chúng tôi cùng sợ hỏi: “Dì bệnh trạng ra sao hở dì?”

Dì thở dài: “Ung thư con à. Lá lách của dì không còn nữa. Chẳng còn thuốc thang gì khiến dì khỏi được nữa đâu con!”

Dì nhẹ chùi nước mắt tôi: “Con đừng khóc. Mọi chuyện rồi cũng xong. Con đến được là dì vui lắm rồi. Và mừng hơn nữa là dì còn được biết cả mẹ con lúc này cũng ở biên giới và ở gần dì hơn, chứ không phải ở xa tít bên kia bờ đại dương. Trong suốt bao nhiêu năm trường dì nhớ mẹ con không biết đến đâu mà nói.”

“Thế nào cũng phải có một cách chữa trị nào đó chứ dì?”

Dì lắc đầu: “Đã đến lúc dì phải đi rồi con ạ. Từ ngày còn bé, dì đã biết mình không sống được quá 60.”

“Làm sao dì biết trước được vậy dì?” Tôi hỏi.

Dì trả lời: “Ngày dì mười tuổi thì cô em họ thân nhất của dì mất. Dì thường nằm mơ thấy mình đi theo cô ấy đến một chỗ lạ có hai chiếc cổng thật to. Đến đó thì cô ta bước vào trong nhưng khi dì tiến đến gần thì cánh cửa đóng lại và dì nghe một giọng nói bảo rằng chưa đến phiên dì được vào. Dì hỏi rằng lúc nào thì đến phiên dì. Giọng nói trả lời rằng dì sẽ được vào trước ngày dì sáu mươi.”

Trong cơn khủng hoảng, dì A Di bình tĩnh thật chẳng khác nào bà thân tôi. Cho tới lúc đó, tôi vẫn còn để ý đến cung cách nói chuyện của mình cho đến độ quên cả những sự thay đổi trong cung cách nói chuyện của dì A Di. Dì không hề tỏ vẻ sốt ruột hoặc lo âu như lần gặp tôi trước đây. Trái lại, dì thật là bình tĩnh như thể dì đã sẵn sàng hành lý và lo toan mọi chuyện. Giờ đây, chỉ còn chờ đợi chuyến ra đi cuối cùng để gặp lại tất cả những họ hàng và bạn bè ở thế giới bên kia. Chấp nhận số phận không cần che dấu hoặc chiến đấu đã khiến dì không còn bận tâm gì đến những kẻ thù ở thế giới hiện tại.

Trong tuần lễ cuối cùng chúng tôi sống chung. Những ký ức của của dì về quãng đời ấu thơ khiến tôi ngạc nhiên. Dường như dì đang cố ôn lại cho rõ hơn những câu chuyện của những người đang ở bên kia thế giới. Dì cứ khăng khăng một mực kể rằng dì là đứa con yêu của ông ngoại chứ không phải bà thân tôi như nhiều người lầm tưởng. “Trong khi cưng chiều dì thì ông ngoại lại nghiêm khắc với mẹ con. Ông ngoại sợ rằng vì là trưởng nữ, có thể mẹ con sẽ thừa hưởng cả những nét đẹp lẫn những đặc tính cứng cỏi của bà ngoại. Ngoài ra, ông ngoại còn cưng chiều dì hơn vì một lý do khác. Ngày sinh dì, ông ngoại đã xem tướng mệnh và biết rõ rằng đời dì về sau sẽ khổ.”

Đây là đề tài của những câu chuyện của tôi với dì A Di. Những phần Trung Hoa của con người tôi cảm thấy thật gần gũi với dì. Nhưng được một lúc thì những phần Hoa Kỳ của con người tôi lại chổi dậy hỏi rằng vì đâu mà bất kể đề tài, chỉ cần nói chuyện bằng tiếng Trung Hoa tức là đã khơi ngay được những cảm giác đặc biệt. Phần Trung Hoa của con người tôi cũng đồng ý rằng nói tiếng Anh thật chẳng khác gì chơi quần vợt, nếu không tính điểm thì cuộc đấu hoàn toàn vô vị. Nói chuyện bằng tiếng Tàu thật chẳng khác gì đi câu: Dẫu rằng chẳng bắt được con cá nào, người câu vẫn vui vì có dịp thả thuyền đi chung quanh hồ.

Vì thế nên dì tôi và tôi cùng thả thuyền dọc theo những bờ biển sương mù của ký ức dì, những điều đáng kể trong các câu chuyện đó chẳng qua chỉ là một chiếc tách sứt, một cái khăn quàng hồng, một bài tập trường cho về nhà mà dì quên làm, một cuộc đi bộ của dì với ông ngoại dưới những bụi tre sau lúc trời mưa. Lúc tôi về, mặc dù mệt, dì vẫn một mực khăng khăng đòi tiễn tôi xuống suốt ba tầng lầu và đưa tôi ra cổng. Chúng tôi ôm nhau lần cuối rồi dì mỉm cười, xua tay ra hiệu cho tôi lên đường. Khi quẹo qua khúc quanh ở một ngõ xa, tôi nhìn lại. Dì vẫn đứng đó yên lặng chẳng khác nào một đứa bé đang cố xem nốt những tia sáng cuối của mặt trời trước khi lên đường về nhà.

Nhà tôi xuất thân từ một gia đình với truyền thống lúc nào cũng sắp xếp hành lý sẵn để lên đường; trước khi chuyến đi kết thúc thì những sự sửa soạn cho chuyến đi sau đã bắt đầu. Hành lý chẳng những đã được sửa soạn bằng cách dán nhãn khác biệt cho riêng từng người mà còn được phân loại bằng màu cho dễ nhận. Ở nhà thì đồ đạc toàn những vật khác thường từ những làng mạc mang những địa danh thật là kỳ quặc và khó đọc. Tủ thì đầy những dụng cụ chụp hình từ những dụng cụ chụp những bức hình chụp phim phóng đại cho đến những dụng cụ chụp hình ba chiều. Những vật dụng đặc biệt dùng cho những người thám hiểm ở cả Bắc, Nam Cực lẫn các miền ở quanh đường Xích Đạo, thuốc để làm chậm, ngừng hoặc làm chóng tiêu hóa các thức ăn địa phương trước khi đưa vào dạ dày. Những dụng cụ cấp cứu mà trong trường hợp cần dùng thì phải có đủ cả bốn năm kiến thức ngành y mới mong tận dụng được và một món quà tặng không thể thiếu hoặc không thể vứt bỏ được mà nhà tôi đã mang về từ A-Phú-Hãn: Những tấm ra trải làm bằng lông thú ngâm nước đái ngựa cái lúc đang có mang.

Tôi sinh trưởng trong một gia đình có những quan niệm khác hẳn gia đình nhà tôi về vấn đề nghỉ mát. Ngày nghỉ đối với gia đình tôi có nghĩa là nhàn nhã ngồi thẳng trong bếp để nhàn đàm và thưởng thức hạt dưa bên những chén trà. Ông bà cụ thân và tôi thường ngồi đó từ điểm tâm cho đến khi mọi người ngáp ngắn, ngáp dài. Cuối cùng ông cụ thân tôi, một người từ trước đến nay vẫn xem trọng những thủ tục và nguyên tắc hợp lý sẽ gõ tay vào đồng hồ tuyên bố phiên họp trường kỳ tạm ngưng 10 phút, bà thân tôi dùng dằng đòi 20 phút và tôi thường thắng cuộc bằng cách lấy điểm trung bình của hai khoảng thời gian mà ông bà thân đã đưa ra. Và biết rằng chúng tôi vẫn còn nhàn nhã được một khoảng thời gian ngắn nữa khi mọi người chờ phiên đánh răng.

Hẳn nhiên quan niệm của nhà tôi về vấn đề du lịch mâu thuẫn với tôi gần như hoàn toàn. Lúc nào nhà tôi cũng hối hả vì chuyện du lịch. Vì là đại sứ, lần nào nói chuyện ông cũng thích nói đến chuyện ông đã đi tất cả 26 vùng phố chính của Trung Hoa. Riêng tôi tuy là người thông dịch và cùng đi với ông qua tất cả các tỉnh, nhưng thật tình tôi cũng chẳng để ý nếu chẳng may mình có quên không nhắc đến vài tỉnh đã qua.

Phần Trung Hoa trong con người tôi tự hỏi chẳng hiểu vì sao người Hoa Kỳ lúc nào cũng phải chú ý đến thời gian và lúc nào cũng hăm hở tham gia các hoạt động đòi hỏi thể lực? Vì sao lúc nào họ cũng thay đổi ý kiến, công việc, nơi ăn chốn ở, người yêu; cho con cái ra khỏi nhà ngay vừa khi chúng nó mới có thể bắt đầu tự lập và cho bố mẹ ra khỏi nhà chỉ vì bố mẹ không còn đủ sức tự lập? Vì sao họ phải vật vã cả năm chỉ để trả tiền cho những chuyến đi bơi ở những vùng đầy cá mập hoặc những cuộc trượt tuyết từ những mỏm đá đóng băng qua những chỗ trơn tuột?

Chỉ có một cách giải thích: Người Hoa Kỳ là một chủng tộc bẩm sinh đã tự hoạch định trước những chương trình hoạt động cho cuộc sống tương lai. Số phận đã buộc không cho phép họ hưởng những êm ái của vật chất và những thiêng liêng của mái ấm gia đình. Bởi thế lúc nào họ cũng tự hỏi mình là ai? Họ không bao giờ có thể ngồi xuống suy ngẫm đủ lâu để trả lời thích đáng câu hỏi đó.

Phần Hoa Kỳ của con người tôi tự hỏi tại sao người Trung Hoa lại hài lòng về chỗ ngồi của mình, thư thả uống trà và gần như hoàn toàn thiếu những năng lực để đứng lên hoạt động. Vì sao họ cứ giữ mãi những truyền thống lâu đời, không chịu đánh liều để tìm những cơ hội mới, muốn được chết ở nguyên quán, sống chung với họ hàng và gia đình trong khung cảnh lúc nào cũng ầm ỹ, nhộn nhịp? Vì sao họ làm việc suốt năm dành dụm chỉ để xin những bậc trưởng thượng cho phép họ làm gần như tất cả mọi thứ?

Chỉ có một cách để giải thích: Người Trung Hoa là một chủng tộc bẩm sinh nặng giòng máu truyền thống, không bao giờ có thể thưởng thức được những phần thưởng thực tế và những cảm giác đặc biệt khi phải tự quyết định theo ý mình. Bởi thế họ chẳng bao giờ để ý đến câu hỏi mình là ai? Họ đợi người khác trả lời.

Vào ngày 30 tháng 5, năm 1989, hai tuần sau khi Gorbachev đến viếng Trung Hoa, thời hạn ở Trung Hoa của tôi bắt đầu chấm dứt. Dan Rather và đa số những nhân viên làm việc cho hãng tin CBS đã rời Trung Hoa để theo dõi những tin tức khác đáng chú ý hơn. Gần như tất cả những người biểu tình đều đã mệt mỏi và cũng đều biết rằng giờ phút vàng son của mình đã qua. Họ sợ rằng sự hiện diện của họ trong thành phố sẽ có ảnh hưởng không hay đến những nguyên nhân của cuộc biểu tình và chính vì thế nên họ đã rời nơi tụ họp. Chỉ còn khoảng vài ngàn người đang tụ họp ở công trường. Và theo ý kiến chung của cả những người tham dự cuộc biểu tình lẫn những người bàng quan đứng ngoài thì tất cả những sinh viên cuối cùng ở công trường cũng sắp sửa quay về đại học. Như thế câu chuyện ly kỳ của Trung Hoa vào mùa xuân 1989 đang đến hồi kết thúc.

Vì nghĩ rằng Trung Hoa đã tránh được cuộc đổ máu và cuộc khủng hoảng nhất thời đã bắt đầu được giải quyết, tôi sửa soạn hành lý để rời Trung Hoa. Tôi không còn những ảo ảnh về cuộc đấu tranh chính trị phía trong đảng bộ hoặc tin tưởng một cách hoang đường rằng tương lai trước mắt sẽ có phần dễ chịu hơn, nhưng tôi vẫn hy vọng. Tuy rằng những vấn đề sinh viên đòi hỏi đã được đáp ứng, tôi tin rằng vấn đề đó là một vấn đề đảng phải thực sự đặt ra để đối phó nếu không muốn để cho vấn đề đó ảnh hưởng đến Thiên Mệnh Lãnh Đạo. Những tiếng kêu gào trong công trường vắng sẽ còn vọng đi mãi mãi.

Trên đường đến phi trường, tôi thấy mình lại lập lại những điều đã làm trong suốt thời gian tôi ở Trung Hoa. Tôi nhìn vào những đám đông cố tìm bóng dáng của một người đàn bà ngũ tuần, không cao, không thấp, không cứng rắn, không mảnh mai. Tôi cố tìm bóng dáng của tôi. Mỗi lần nhìn thấy bóng dáng đó, tôi sẽ đi theo để trở về nguyên quán. Dĩ nhiên tôi chẳng bao giờ tìm được. Tôi phải diễn tả sự hiện diện của mình bằng cách nào? Nếu tôi nói thật rằng tôi ở Trung Hoa chỉ để đáp ứng với những nhu cầu tâm lý lúc nào cũng đòi hỏi, để nhìn ở bóng dáng người tôi muốn tìm những khoảng đời mà tôi có thể đã sống -Có lẽ người đàn bà đó sẽ cho rằng đầu óc tôi chỉ toàn những chuyện mơ mộng hão huyền.

Giả sử tôi không rời Trung Hoa vào lúc 8 tuổi thì tôi có vẫn là tôi không? Hẳn nhiên là không, nếu không có những phần Hoa Kỳ trong con người tôi thì chắc chắn con người tôi chẳng bao giờ hoàn toàn được. Sự hiện diện của phần Hoa Kỳ đó nếu bảo rằng tôi được may mắn gấp hai chỉ là một sự thật đơn giản. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi không dám viết câu chuyện của tôi và Hoa Kỳ, ngoại trừ qua một quyển sách dành cho trẻ em. Vì rằng viết thế có thể làm mất tất cả uy tín của người viết lẫn câu chuyện. Thực ra thì câu chuyện Hoa Kỳ của tôi chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn mà ngay cả những người ngây thơ như Bạch Tuyết cũng khó lòng tin nổi. Tôi đến tỉnh Brooklyn vào một ngày chủ nhật hãy còn buồn ngủ và vào trường tiểu học vào một ngày thứ hai vừa mới hắt hơi thức giấc. Tôi vừa cảm thấy dốt nát, vừa cảm thấy xấu hổ vì không nói được một chữ tiếng Anh, nhưng may thay tôi lại luôn luôn được ở quanh những người vui lòng muốn dạy tôi. Và trong suốt khoảng thời gian tôi ở trường tiểu học, chưa ai nói đụng đến tôi bất cứ câu gì tương tự như “Về đón tàu lại Trung Hoa đi em nhỏ. Ở Hoa Kỳ chỉ có người Hoa Kỳ bản xứ mới thành đạt được. Và em chẳng thể nào vươn lên được đâu!”

Ngày đầu tiên vào trường, ông hiệu trưởng hỏi tôi: “Em bao nhiêu tuổi?”

Bà thân tôi dịch câu hỏi sang tiếng Trung Hoa. Tuy rằng mới chỉ tám tuổi, tôi giơ đủ cả 10 ngón tay. Những nhà khoa học xã hội giải thích rằng tôi làm thế vì người Trung Hoa vừa chào đời đã được kể là một tuổi. Và khi tròn năm đầu thì đứa bé được cho là hai tuổi. Phần tiểu thuyết gia của con người tôi giải thích rằng hành động đó có tính cách tiên tri, nếu không có phần đó thì câu chuyện sẽ thiếu ly kỳ và trở thành một bài tiểu luận.

Tôi là đứa bé thấp nhất trường trung học trong suốt cả 5 tỉnh. Chẳng ai cho đó là điều lạ. Người Tàu nào chẳng nhỏ con so với người Hoa Kỳ?

Ngày tôi còn ở Trung Học bà thân tôi đã kỳ vọng nơi tôi giấc mơ của một người Trung Hoa thành đạt trên đất Hoa Kỳ: Con cụ sẽ phải là một thứ “gia” nào đó. Hóa học gia, vật lý gia, sinh học gia. . . nói tóm lại là khoa học gia.

Ngày vào đại học đầu óc tôi đầy những hình ảnh mơ mộng về giải Nobel và tôi ghi tên học ngành Hóa. Trong phòng thí nghiệm tôi là một sinh viên làm thí nghiệm vụng về nhất. Chuyện này đối với tôi không thành vấn đề. Trong lớp học tôi là một sinh viên học kém nhất lớp. Chuyện này đối với tôi cũng không thành vấn đề. Tuy thế đây lại là những vấn đề tối quan trọng đối với ông khoa trưởng ngành Hóa. Ông ta cho tôi một cơ hội tôi khó thể chối từ: “Tiếp tục học ngành Hóa để rớt hoặc chuyển ngành.” Tôi chuyển sang học lịch sử.

Hẳn nhiên nếu ở bất kỳ quốc gia nào khác thì sự thất bại của tôi là khởi điểm của một cuộc đời chẳng có gì đáng hãnh diện. Nếu tôi không rời Trung Hoa, không nhảy hai lớp, không rớt ngành Hóa thì tôi đã chẳng có dịp để gặp chứ đừng nói đến chuyện lập gia đình với một một sinh viên cùng học lớp kinh tế. Người sinh viên đó đã mang tặng tôi một bình đất đỏ của Trung Hoa khi vấn đề sang Trung Hoa còn khó hơn cả lên mặt trăng và rồi có dịp mang tôi sang tận Trung Hoa trong một chuyến đi dài suốt 42 tháng ở ngay giữa thủ đô Trung Hoa.

Có lẽ ông ngoại tôi sẽ kết luận những chuyện vừa kể hoàn toàn là do vấn đề số mệnh. Vì khi tôi chào đời, bà thân tôi nhờ ông ngoại xem tướng mệnh cho tôi. Ông ngoại xem rất kỹ đường chỉ tay của tôi, những khoảng cách giữa hai hàng lông mày chiều dài của mỗi trái tai, xem xoáy trên đầu tất cả những nét trên khuôn mặt tôi. Ông ngoại cũng xem những bức đồ hình phức tạp và các bản chiêm tinh, xem năm và giờ tôi sinh. Ông ngoại nói rằng giờ sinh của tôi là 3 giờ sáng, nhằm đúng năm Dần và giờ đó là giờ mà tinh Dần đang ở cao điểm. Hơn nữa, cả bà thân tôi cũng sinh vào năm Dần. Chẳng những thế, tôi còn sinh đúng vào ngày sinh nhật của ông thân và ông nội.

Cuối cùng sau khi đã xem kỹ tất cả, ông ngoại nói với bà thân tôi: “Cô cả ạ, tôi chưa bao giờ thấy nhiều điềm may đến thế ở một đứa bé. Đứa bé sẽ sống một cuộc đời đầy đủ và tâm thần sung túc. Cô chẳng phải lo nghĩ gì cả. Đứa bé sẽ có một cuộc sống giàu sang.”

Tôi chẳng còn nhớ gì về ông ngoại, nhưng những lời tiên tri của ông ngoại đã từng khuyến khích và là niềm an ủi cho tôi mỗi ngày. Ngay cả trong lúc khó khăn họa hoằn, tôi cũng thường phấn đấu và nhắc nhở để kêu gọi những vị thần số mệnh hãy nhớ lấy lời hứa. Tuy thế, có nhiều lúc tôi cũng bị ảnh hưởng của Lão Giáo mà cho rằng chẳng qua ông ngoại nói thể chỉ cốt làm vừa lòng trưởng nữ của ông. Và từ trước đến nay câu chuyện là thế.

Ngay cả lúc viết lại câu nói trên, tôi cũng cảm thấy khó chịu vì những phần Trung Hoa của con người tôi vẫn còn quá mạnh mỗi khi nói đến chuyện bổ báng thần thánh. Nhưng phần Hoa Kỳ của con người tôi lại khiến tôi không mấy e dè câu chuyện thần thánh. Có lẽ câu nói hay nhất là câu nói của Shirley Temple Wong, nhân vật chính trong chuyện trẻ em của tôi: “Hoa Kỳ là một phép màu. Ở đây tôi cảm thấy mình khoẻ chẳng kém gì 10 con cọp. Ở đây tôi cảm thấy mình cao chẳng kém gì nữ thần tự do.”

Tôi sắp sửa quay về Hoa Kỳ.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"