Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Những Bức Chân Dung 


Thứ ba, ngày 23 tháng 5, 1989. . ., ba người đàn ông không hề có sự liên hệ rõ rệt nào với đoàn thể sinh viên ném sơn vào chân dung của Mao Trạch Đông treo trên Thiên An Môn ở công trường Thiên An. Sinh viên bắt được những người ném sơn.

Sau khi bà ngoại tôi mất được một khoảng thời gian khá lâu, bà cụ thân tôi nhận được một lời yêu cầu của các họ hàng ở Thượng Hải yêu cầu bà, với tư cách là chị cả đứng ra để chia gia sản của gia đình bên ngoại. Bà thân tôi trả lời ngay. Bà quyết định rằng tất cả tài sản của ông ngoại phải được chia đều ra cho mọi người ngoại trừ một thứ duy nhất. Bà thân tôi chỉ xin một bức họa đồ mà thôi.

Bức họa đồ bà thân tôi xin là tác phẩm của một họa sư vẽ hình một người ngoại tổ của tôi. Người ngoại tổ trong bức họa là một người thày lang sống vào đời nhà Minh. Câu chuyện của ngoại tổ tôi là một câu chuyện truyền khẩu của gia tộc trải qua đã nhiều thế hệ:

Một sáng nhiều sương ông thày thuốc họ Phương đang đi dạo một mình vào một chỗ rừng núi khá xa nhà. Ông vừa đi vừa thưởng thức khung cảnh tĩnh mịch của núi đồi, chốc chốc lại ngừng để hái nấm và những loại cây hiếm. Tuy chân ông vẫn bước thật đều, chính ông cũng không biết con đường trước mặt sẽ đưa ông tới đâu. Ông chỉ nhờ vào trực giác để định hướng.

Bỗng ông nghe một tiếng kêu mơ hồ thoảng qua nhẹ đến độ ông lầm tưởng rằng ông đang nghe nhịp tim mình đập. Rồi sau đó tiếng động lại khiến ông cho rằng đấy là tiếng kêu của một con cừu đang ăn cỏ trong một thung lũng kín khuất nào đó. Cuối cùng ông nhận ra có tiếng người gọi tên ông. Ông tự hỏi chẳng hiểu ai. Chính ông cũng chưa biết được là mình sẽ đến đây cơ mà.

Rồi vì tò mò, ông trèo lên một tảng đá và lên tiếng trả lời: “Đây, Tôi đây.”

Ông đợi. Cuối cùng một đứa bé lạ mặt chạy đến nắm lấy tay áo ông kéo rịt đi miệng vừa thở, vừa hối thúc: “Xin ông đi ngay, đi ngay cho kẻo quá trễ.”

Giọng điệu giục dã khẩn cấp khiến ông quên cả hỏi. Tuy lúc đó ông đã ngoài bảy mươi và chẳng hiểu sao chân ông lại mau mắn lạ thường. Thế là cả ông già lẫn đứa bé đều hối hả vượt qua hết cây thông này đến cây thông khác, hết tảng đá này đến tảng đá khác cho đến khi tìm được mục tiêu cuối cùng: một căn lều sơ sài dựng trên những mẩu đá chênh vênh. Cạnh căn lều có một bậc thang nhỏ bằng đá dẫn đến một con suối nhỏ trong suốt.

Bên trong bố đứa bé đang bệnh nặng và sắp trút hơi thở cuối cùng.

Thày thuốc vội lục túi lấy ra những lá thuốc vừa mới hái để nấu thuốc cho người bệnh và kiên nhẫn đổ từng muỗng thuốc vào cổ bệnh nhân. Sau đó, ông bình tĩnh đợi cho thuốc đẩy lui cơn bệnh.

Khi hơi thở đã đã điều hòa và bệnh nhân đã yên giấc, thày thuốc mới bắt đầu tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện lạ lùng. Ông nhẹ cầm tay đứa bé hỏi: “Làm sao cháu biết tìm để gọi ta khi chính ta cũng không biết là mình đang ở đâu?” Đứa bé mỉm cười. “Tối qua khi cháu đang nằm trên giường với bố cháu thì có hai người đàn ông lạ mặt thình lình xuất hiện. Từ trước đến nay cháu chưa bao giờ thấy họ. Mặt họ trông trắng bạch chẳng khác nào ma quỷ. Quần áo họ phất phơ như bay trong không khí. Họ cứ cãi nhau như thể không trông thấy hai bố con cháu. Người đàn ông lùn, mập cứ một mực đòi ở lại. Ông thét lên rằng họ chẳng thể đi mà không đợi bệnh nhân trút hơi thở cuối. Người đàn ông cao gầy cứ một mực đòi đi. Ông hô hoán rằng họ phải lên đường trước khi người thày thuốc họ Phương lên núi sáng đó. Hai người cãi nhau cho đến lúc rạng đông rồi thì người cao gầy kéo sệch người bạn lên đường. Họ vừa mới đi thì cháu chạy ra tìm ông.

Câu chuyện của ngoại tổ đã gần gũi với tôi đến độ tôi tưởng như tôi có thể thấy ông. Và tôi thì cứ ngày đêm mong đợi chờ ngày bức họa đồ được gửi đến.

Bà thân tôi chẳng bao giờ nhận được bức họa đồ. Bà nhất định không nhắc nhở gì đến yêu cầu của mình một lần thứ hai nào. Bà thân tôi hành động thật chẳng khác nào một bà hoàng cao quý: Ra lệnh mà lại chẳng đoái hoài gì đến việc liệu luật lệ mình đưa ra có được áp dụng hay không?

Tôi thì không có được tính tình độ lượng và cao quý như bà thân tôi. Vào mùa thu 1973, khi đến Thượng Hải, tôi cố điều tra tông tích bức họa. Lúc hiểu rõ được nội tình, tôi cũng đồng ý với những người trong họ là nên giải quyết vấn đề yêu cầu của bà thân tôi như họ đã giải quyết. Thà rằng cứ để cho bà thân tôi nghĩ rằng một trong những người chị em bà đã cố tình giữ lại bức họa làm của riêng còn hơn cho bà biết rõ sự thật. Một người hồn nhiên như bà thân tôi có lẽ sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi tại sao những đứa bé tay mang băng đỏ, cầm bích chương hô hào lại có thể lục soát nhà người khác và đốt đi một bức họa chẳng mang mục đích gì khác hơn là giữ lại hình ảnh của một ông cố đối với con cháu.

Khi chuyến thăm viếng Trung Hoa lần đầu chấm dứt, vừa về Hoa Kỳ tôi đã gửi ngay tấm hình bà nội cho Cô Má. Tôi vội vã đến độ không gửi nổi thêm bất cứ thứ gì khác, dù chỉ là một vài hàng nguệch ngoạc về cuộc xum họp của hai chúng tôi. Tuy thế, tôi biết Cô Má sẽ tha thứ cho tôi. Vì ngày tôi đến thăm mộ ông bà nội, Cô Má đã cùng đi với tôi. Chuyến đi đó tôi vẫn còn nhớ như in.

Ở nghĩa trang, với những cây khô trụi lá rải rác gần nơi chôn cất ông nội, vết tích tàn phá của vệ binh đỏ thật là rõ rệt. Chúng tôi chia nhau tản ra quanh đó cố tìm đích thực chỗ chôn cất ông nội quanh những miếng đá của mộ bia bị đập nát vẫn còn rải rác. Trông chỗ chôn cất ông nội thật chẳng khác nào một chỗ vừa bị động đất chứ không phải là ngôi mộ của một người đã an nghỉ. Cuối cùng một người chị họ của tôi cất tiếng reo; cô ta đã tìm được nơi chôn cất ông nội. Tất cả chúng tôi đều chạy vội về hướng người chị họ, bu quanh chỗ chôn cất ông nội. Vết dấu mộ tuy trông đã hoang lạnh từ lâu nhưng còn rõ nét.

Tôi nhìn quanh và thấy chung quanh chỗ chiếc mộ mất bia bị san bằng cỏ dại mọc đầy. Tôi nghĩ đến ông thân và nhớ đến mỗi sáng tôi thức dậy nhìn thấy ông ngồi cạnh giường, tay cầm thư, mặt đẫm nước mắt. Trước đây tôi chưa bao giờ thấy ông thân khóc. Tôi tự bảo mình, phải tìm cho bằng được thi thể của ông nội cho ông thân. Phải tìm cho bằng được. Trong khi mọi người có lẽ sững sờ vì hành động khác thường của tôi đều đứng lặng yên bất động. Tôi ngồi thụp xuống ngay giữa vùng đất lạnh giá, hai tay ra sức xới chẳng khác nào người điên, cố tìm lại dấu vết đích thực nơi ông nội được chôn cất. Những người khác cố đỡ tôi đứng lên nhưng tôi trằn mình khỏi tay họ và cuối cùng chẳng làm gì khác hơn được, họ đành ngồi xuống đào xới giúp tôi.

Mặt đất cằn thật cứng, cứng như những trái tim của những người đã nhẫn tâm cắt đứt sợi dây liên lạc thiêng liêng giữa những người con cháu như chúng tôi với tổ tiên. Có lẽ tôi đã ngồi xới đất khá lâu vì khi chúng tôi rờ nghĩa địa tôi thấy mình thở hổn hển. Tay tôi vừa nhức, vừa đầy vết sước.

Khi chúng tôi ngồi ở phòng trước gần Nhà Táng Nhân Dân, tôi cảm thấy thật ngượng vì những cử chỉ khác thường của mình lúc ngoài nghĩa trang và rồi bỗng nhiên tôi cảm thấy chóng mặt. Tôi vừa rụt tay vào sâu trong chiếc áo choàng, vừa mắng thầm sự kiêu hãnh không đâu của mình khi không chịu mặc chiếc quần dài nặng nề mà người Trung Hoa vẫn mặc gần như suốt năm. Làm sao mà hơi lạnh bên trong lại có thể lạnh hơn bên ngoài? Bất chợt tôi nghĩ đến việc chạy cho người bớt lạnh. Tuy nhiên sự khôn ngoan khiến tôi kềm hãm được ý tưởng điên cuồng đó. Người Trung Hoa cho rằng đi nhanh cũng là không đúng phong cách. Vấn đề chạy chung quanh văn phòng nhơ bẩn dựng lên do ảnh hưởng chủ thuyết thực tế của Mao Trạch Đông khi trước vào lúc này có lẽ sẽ bị coi là mọi rợ. Hơn nữa, chạy bộ cũng chẳng phải là điều tôi có thể chọn lựa. Lúc đó chân tôi đã tê cứng vì lạnh. Thật ra, phương pháp hay nhất đối với tôi lúc đó là cứ ngồi yên bất động, vì chỉ cần một cử động nhẹ có lẽ cũng đủ để cho những ngón chân hủ hóa, tiểu tư sản của tôi gãy đôi chẳng khác nào những mảnh đá vụn.

Chúng tôi ngồi thật ngay ngắn. Ngoại trừ những tiếng những hàm răng đánh vào nhau nghe cầm cập chẳng còn bất kỳ âm thanh nào khác. Bầu không khí thật là trang nghiêm. Chúng tôi ngồi theo thứ tự tuổi tác từ già đến trẻ. Tất cả các ghế ngồi đều được xắp thành hàng dọc theo bức tường.

Cuối cùng người trực nhà táng trở ra. Trong tay anh ta cầm một chiếc hộp chỉ lớn hơn hộp xì gà một chút. Tôi đã mua chiếc hộp trong một tiệm bán đồ cổ của địa phương hôm trước. Trong vòng một giây tôi nhìn sững vào chiếc hộp. Chiếc hộp trông nhỏ bé làm sao! Miếng gỗ bên ngoài trông thật tầm thường. Lớp sơn phía ngoài loang lổ. Làm sao chiếc hộp lại có thể bé đến thế?

Bỗng có ai đó thúc nhẹ cùi chỏ nhắc nhở tôi. Tôi vội đứng lên, vái chiếc hộp rồi đưa hai tay trịnh trọng nhận lấy chiếc hộp. Chiếc hộp nhẹ hẫng.

Nỗi buồn bã ấp ủ từ lâu bỗng tràn ngập hồn tôi và tôi không thể nào cầm được nước mắt, tệ hơn nữa là những giọt nước mắt này lại chẳng nhỏ cho người khác mà nhỏ cho tôi: Một kẻ không may chẳng có ông bà nội để chung vui trong mỗi dịp vui hoặc an ủi vỗ về mỗi khi buồn bã. Giờ đây cả hai đều không còn nữa. Hình bóng của ông bà nội chỉ còn là một dúm ký ức mù mờ và lẫn lộn đến độ tôi chẳng còn phân biệt được phần ký ức nào là phần ký ức của chính tôi và phần ký ức nào là phần ký ức do những người khác kể lại. Tôi chẳng còn nhớ gì về bà nội. Chắc chắn là tôi đã gặp bà nội ít ra là một hai lần. Có lẽ ký ức của tôi về bà nội đã bị những ký ức sống động của ông thân và của em tôi về bà nội đẩy chìm vào quên lãng. Nhưng dù có là vì lý do gì đó thì tôi cũng chỉ biết đến ông bà nội như một thứ kỷ niệm dây leo trong tâm khảm của những người khác.

Tôi cũng chẳng rõ mình đã ngồi cầm bình đựng cốt của bà nội bao lâu trước khi để ý đến khe hở nhỏ bên hông chiếc hộp đen thanh bạch đó. Rõ ràng là mục đích của kẽ hở là chỗ để giữ di ảnh của người quá cố.

Bỗng nhiên tôi lên giọng vấn tội người cai mộ. “Thế tấm ảnh bà nội tôi anh để đâu?”

“Thưa bà, từ khi đưa hộp hài cốt đến đây, tôi nào có nhận được tấm ảnh nào!”

Tôi quay lại vấn tội họ hàng: “Tại sao không ai đưa hình bà nội cho họ cả? Bà nội có biết bao nhiêu là hình. Chính mắt tôi đã được xem rất nhiều hình chụp của bà nội rồi mà.”

Tự nhiên bầu không khí im lặng trở thành khó chịu và rồi có tiếng bước chân của người cai mộ vội vã ra khỏi phòng.

Tôi bóp mạnh vào chiếc hộp để dằn cơn giận. Bầu không khí khó chịu vẫn tiếp tục thêm một giây nữa rồi tất cả họ hàng, cô chú tôi đều cùng lên tiếng một lượt.

“Cháu không hiểu”

“Đâu phải lỗi do các cô, các em, các chú.”

“Cháu nghĩ là không ai để ý gì đến bà nội sao?”

“Khi ông thân cháu sang Mỹ ông đã gửi gấm bà nội cho chị. Khi em cô sang Mỹ xum họp thì chỉ còn chị nhận lãnh trách nhiệm một mình.”

“Bà nội cũng là bà của chị mà.”

Tôi xin lỗi. Tất cả họ hàng đều tha thứ ngay. Họ bảo phản ứng của tôi chẳng qua cũng chỉ là một phản ứng rất tự nhiên.

Tôi tránh không đưa đầu óc trôi theo cảm xúc bằng cách hỏi rằng có ai ở bên cạnh bà nội lúc bà trút hơi thở cuối hay không? Hết người này đến người khác thay phiên trả lời.

“Không,” một người chị họ trạc tuổi tôi trả lời. “Lúc đó chị đang ở Liêu Ninh.”

Chú tôi nói: “Không, lúc đó chú đang bị bắt lao động ở trại.”

Cô tôi nói: “Không lúc đó dì đang bị giam trong phòng đựng chổi trong trường.”

Một người em họ trẻ tuổi hơn tôi dõng dạc trả lời: “Sáng mùa hè năm đó, lúc bà nội qua đời thì em có ở bên cạnh bà nội. Xin chị cứ yên tâm, em đã làm đủ lễ cho cụ. Em thay quần áo cho cụ, tắm rửa, quấn chân, chải tóc cho cụ và trông xác cụ suốt đêm hôm đó.”

Tôi đứng lặng không nói nên lời. Người em họ tôi cho đến giờ này má cũng chỉ vừa mới mất lớp da của những đứa bé vừa lớn. Làm sao cậu ta có thể làm những việc vừa kể cả những năm năm trước đây?

Nếu chính tôi phải làm việc đó thì sao? Nếu chính tôi phải làm các thủ tục khâm liệm cho bà cụ thì sao? Ngay cả khi tự hỏi mình câu hỏi đó tôi cũng đã biết rõ câu trả lời. Tôi không thể nào chu toàn được cho bà ngoại như cậu em tôi. Sự hèn nhát, khiếp nhược sẽ đánh tan lòng hiếu thảo của tôi. Tôi chẳng tài nào có thể dám đụng vào thi thể của bà nội. Tôi chẳng tài nào có thể giữ được bình tĩnh. Tôi chẳng tài nào có thể đứng canh bà nội suốt đêm. Nếu là tôi chắc chắn tôi đã trốn chạy.

Khi quay về nguyên quán của tổ tiên, tôi cố mong mỏi sao cho tôi có thể vẫn vừa là tôi, vừa giữ được những cái tôi đã bỏ lại khi rời Trung Hoa. Giờ đây tôi đã nhận ra những gì tôi đánh mất. Trong tôi không còn những tiềm lực giòng tộc mạnh mẽ như những người họ hàng khác nữa. Tôi thấy rằng tôi đã trở thành một con người hoàn toàn khác hẳn. Tôi chẳng còn là người Trung Hoa nữa.

Tôi muốn hỏi làm sao họ có thể học hỏi để có được những tình cảm mạnh mẽ về giòng tộc như thế, nhưng câu trả lời của họ có lẽ thừa vì trong thâm tâm tôi đã biết rõ câu trả lời. Và tôi cũng biết rằng họ đã phải trả giá quá cao trong cuộc sống để có được những đức tính như thế. Bất kể là thành quả có rực rỡ đến đâu đi nữa thì ngay cả những người Trung Hoa không hiểu biết gì nhiều về những tiêu chuẩn sống của người Hoa Kỳ cũng chẳng chịu trả một cách dễ dàng. Và chính tôi là người đầu tiên chẳng thể trả được cái giá đó.

Chính vì thế nên thay vì hỏi câu hỏi chính, tôi hỏi một câu hỏi khác: “Làm sao cậu biết phải làm thủ tục khâm liệm thế nào?” “Bà nội có dặn em rất nhiều lần rồi.”

Bà nội quả đúng là người đàn bà ông thân tôi vẫn thường hay kể: Lúc nào bà cũng tự phụ về tính hiếu thảo của những đứa con trai bà, những người đã biếu bà một chiếc áo quan bằng gỗ quý trạm trỗ tuyệt đẹp ngày bà sáu mươi. Chính bà nội chỉ cách khâu sáu cái áo dài để mặc lúc bà qua đời. Chính bà nội đặt những chiếc áo đó bên cạnh những phần thưởng của ông thân tôi ở cuối chân giường bà. Bà nội còn cuộn cả những tờ tiền vàng để đốt lúc mai táng bà để trong cuộc sống kiếp sau bà sẽ không bao giờ phải ngửa tay xin tiền tiêu xài trong gia đình.

Bà nội sinh ở Ninh Ba. Năm bảy tuổi, chân bà nội bị bó để đi vừa những chiếc giày nhỏ còn hơn cả tay trẻ con. Năm 14 tuổi bà nội lấy ông nội, một người đàn ông chẳng có gì đặc biệt và cũng chẳng có tiền của gì, một người đàn ông mà bà chưa hề biết mặt. Cũng giống như những người đàn bà cùng thế hệ, bà nội đã được dạy chấp nhận số phận không một lời than van. Bà nấu nướng, khâu vá. Bà dọn dẹp nhà cửa và lúc nào cũng lo cho mọi vật trong nhà có thứ tự, gọn gàng ngăn nắp. Đây là một tính tốt của bà nội mà ông thân tôi được thừa hưởng nhưng tôi thì không. Bà nội đã chịu đựng sự thiếu thốn của chồng và sinh cho chồng được tám người con.

Ông thân tôi nghĩ rằng có thể bà nội còn sinh nhiều hơn nữa nhưng những người anh em ông đã chết trước lúc ông đủ lớn để nhớ hết; năm lên bảy tuổi, ông thân tôi đã biết rằng bất kể bà nội có bao nhiêu người con mất trước ngày ông sinh, thì đây cũng là điều mà không đứa trẻ Trung Hoa nào có quyền hỏi đến. Ông thân tôi còn nhớ rằng có lần chỉ trong một đêm bà nội đã mất đi cả ba người con cùng một lúc.

Câu chuyện thật là lạ lùng đối với một người không tin dị đoan như ông thân tôi. Năm đó, bệnh dịch hoành hành khắp nơi trong thành phố. Một đêm, ông thân tôi bỗng giật mình tỉnh giấc và nhìn thấy một cái bóng. Chiếc bóng đó dẫn ông thân tôi vào căn phòng nơi các em ông đang ngủ. Vừa vào phòng các em, ông thân tôi đã thấy cả bốn người em ông đều đang vật vã vì dịch sốt. Người nhà lập tức tìm cách cấp cứu, nhưng đã quá trễ. Cả ba người em ông đều chết, trừ người bé nhất. Về sau khi ông thân diễn tả lại diện mạo chiếc bóng, bà nội bảo chiếc bóng đó chính là nội tổ tôi.

Câu chuyện của ông thân tôi lúc nào cũng kết luận một cách lạc quan: “Con biết không, sau lần đó, ngay cả một người nghiêm khắc như ông nội con mà cũng chẳng bao giờ nỡ đánh chú út. Bà nội vẫn bảo bà đã cướp lại được mạng chú út vừa đúng từ tay tử thần.”

Còn bà nội thì vì chỉ quanh quẩn ở nhà nên chẳng cho chuyện ly kỳ đó có gì khác thường hơn là những vấn đề bình thường khác của con người. Bà nội không được đi học và ông nội chẳng bao giờ dạy bà chữ nghĩa gì cả. Bởi thế việc bà nội là người đầu tiên đưa ra ý kiến phải tìm cách cho em tôi sang Hoa Kỳ xum họp với gia đình đối với tôi vừa có lý mà cũng vừa vô lý.

Nếu bà nội không qua đời quá sớm như từ năm 1961 có lẽ chính bà cũng không ngần ngại nếu cần phải nói rõ với em tôi câu chuyện thực của gia đình. Có lẽ bà sẽ đích thân nói thực rằng dì A Di chẳng phải là mẹ ruột của cô. Và nếu em tôi không biết rõ câu chuyện thực như thế thì chẳng bao giờ cô lại có dịp để nghĩ đến chuyện xum họp.

Tôi hỏi: Bà nội qua đời nhẹ nhàng chứ?

Mọi người đều gật đầu ngay. Những cái gật đầu gần như quá cấp bách.

Trước khi tôi có dịp hỏi thêm thì người cai mộ đã trở lại để mang chiếc bình đựng cốt bà nội đi cất. Và rồi chiếc hộp đựng hài cốt nhỏ thó, nhẹ tênh lại được mang đi, để rồi lại được đặt vào một khoảng không gian bé nhỏ nào đó bên cạnh vô số những bình hài cốt khác trong nhà mồ.

Tự dưng tôi nói gần như thét với Cô Má rằng khi trở lại Hoa Kỳ tôi sẽ gửi cho Cô Má một bức ảnh của bà nội ngay lập tức.

“Gửi nhiều vào cho mọi người với! Chúng tôi chẳng ai còn giữ được ảnh cụ. Tất cả đều bị đốt cả rồi.”

Trên chuyến xe về Thiên Tân, người em họ kể cho tôi những ngày cuối khi bà nội qua đời. “Vào lúc cuộc cách mạng văn hóa phát động thì cụ đã ốm liệt giường nhiều năm rồi. Đầu óc bà cụ đã bắt đầu lẫn. Cụ chẳng còn đủ tỉnh để phân biệt thời gian. Cụ cũng chẳng biết ngoại trừ em ra còn thì tất cả đều đã xa nhà hơn sáu tháng. Cụ chỉ còn nhớ đến mẹ chị mỗi lần cần thay băng quấn chân và rửa ráy. Từ trước đến nay cụ chưa cho ai nhìn thấy bàn chân méo mó vì bị bó từ bé của cụ ngoại trừ mẹ chị. Khi em nói dối cụ rằng mẹ chị có việc phải lên thành phố, cụ sai em đem tất cả mọi thứ cần thiết đến và rồi tự mình thay băng, rửa chân. Mỗi lần cụ thay băng chân phải mất đến cả hàng giờ mới xong.

“May thay đầu óc lẫn lộn của cụ khiến cụ qua đời thật nhẹ nhàng. Cụ tưởng nhóm vệ binh đỏ là bạn em, tưởng những phương pháp khủng bố của họ là những trò nghịch ngợm ngây thơ, tưởng ngọn lửa họ đốt những tấm áo của cụ là pháo. Khi bọn nữ vệ binh đỏ giật xõa bó tóc cụ vẫn giữ trọn đời chưa cắt và lúc nào cũng quấn quanh cổ, cụ cười. Tiếng cười của cụ làm bọn vệ binh đỏ kinh hãi. Bọn chúng bỏ đi vì cho là cụ điên.

“Em cũng chẳng biết lúc đó mắt cụ có còn trông thấy gì nữa không vì chẳng thấy cụ nhắc em dọn dẹp những đồ đạc bừa bãi còn lại lúc đó sau khi bọn vệ binh đỏ bỏ đi. Tất cả những lọ hũ, cụ thường sắp thật thẳng và dùng cất tất cả những thứ lẩm cẩm, ngay cả đến những sợi dây cũng bị đập tan. Tất cả ngăn kéo trong nhà đều bị lật úp và những vật bên trong đổ ra tung toé khắp nơi.

“Lúc em mang cơm trưa cho cụ, cụ không ăn và bảo rằng cụ không đói. Rồi cụ lại nhắc thêm một lần nữa những việc em phải làm khi cụ qua đời. Cụ dặn đi, dặn lại mỗi việc rất nhiều lần. Trước khi thiếp đi vào giấc ngủ trưa, cụ luồn tay vào chỗ dấu ở dưới gối, rút quyển kinh của cụ ra và dặn: “Con phải nhớ gói cho bà quyển kinh. Nhớ đừng quên con nhé.”

“Cụ đi luôn trong giấc ngủ trưa đó.”

Trong toàn cõi Trung Hoa đã có biết bao nhiêu người không bao giờ được dịp nhìn mặt những người họ yêu mến hoặc những người họ đã được dạy phải quý mến? Trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa những sự sùng kính đó bị coi là phong kiến và chính vì thế nên tất cả những thế hệ đi trước đều bị sỉ nhục ngay trong một nền văn hóa đã tôn thờ họ, không phải tôn thờ như những vị thần mà tôn thờ như những tổ tiên đã tạo cho con cháu họ cả cốt nhục lẫn tâm hồn.

Ngay đêm rời Trung Hoa, một người bạn biết rõ tôi nhất quyết hiểu cho rõ thực chất của cuộc cách mạng văn hóa đã cho tôi thêm một món quà giã biệt khác. Món quà là một cái áo ka-ki cũ và chiếc mũ cô ta đội trong thập niên 60. Cổ áo và tay áo đã sờn, chiếc áo đã bạc phếch qua nhiều lần giặt. Hai tay áo và phần thân trước chiếc áo mang đầy những nút có sơn hình Mao Trạch Đông. Có đến cả trăm chiếc nút lớn, bé đủ cỡ khác nhau, không cái nào giống cái nào. Cái nào cũng vẽ hình Mao chủ tịch. Cái vẽ hình nghiêng, cái vẽ trực diện, cái vẽ bán thân, cái vẽ toàn thân, cái vẽ hình nghiêm trang, cái vẽ hình cười, cái vẽ cả mũ, cái vẽ đầu trần, cái vẽ ngồi, cái vẽ đứng, cái vẽ hình giơ tay, cái vẽ hình vẫy tay, cái vẽ hình vỗ tay, cái vẽ có cả chữ ký, cái vẽ có cả nơi sinh, cái vẽ bên đài tưởng niệm, cái vẽ bên mạn thuyền, cái vẽ bên nhà máy, cái vẽ bên quốc kỳ, nhưng tất cả đều chỉ có hình Mao đứng một mình và không còn ai khác.

Hiển nhiên là Mao chủ tịch muốn thay thế tất cả. -Thượng đế, tổ tiên, gia đình, bố, mẹ để ngự trị mãi mãi trong tim các “con cháu”. Mao Trạch Đông thất bại. Nhưng sự hiện diện của ông vẫn còn mang một điều bí ẩn nào đó; nó chính là di sản của Mao Trạch Đông đối với những thế hệ sau. Đêm đó, bức chân dung bị ném sơn trong ngày 23-5 được thay thế bằng một bức chân dung khác. Vào lúc rạng đông lại có một bức chân dung mới của Mao Trạch Đông nhìn xuống công trường Thiên An.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"