Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Người Hoạt Náo Viên 


Chủ nhật, ngày 21 tháng 5, năm 1989. . . Radio và Ti Vi cùng loan tin của Tân Hoa Xã: “Chính phủ cho lệnh quân đội phải cứng rắn thi hành các mệnh lệnh, phải có những biện pháp hữu hiệu để đối phó với các cuộc biểu tình. Lệnh Thiết Quân Luật đã được thi hành.”

Trung ương ban hành lệnh thiết quân luật tuyên bố: “. . .quân đội có gặp trở ngại đôi chút khi thực thi lệnh thiết quân luật.”

Có tin đồn rằng thủ tướng Lý Bằng đã cho lệnh những quân nhân đàn áp các cuộc biểu tình tiến vào thành phố lúc 5 giờ sáng. Các trại giam đã sửa soạn để nhận tất cả những sinh viên còn đang ở công trường.

Hàng đoàn lính dàn thành hàng tiến vào thành phố.

Trời đã tối, một phóng viên chụp hình chuyên nghiệp vừa từ công trường Thiên An về, nước mắt đoanh tròng, bảo rằng ở bất cứ nơi nào anh cũng được dân chúng hoan nghênh. Ngày nay, những ký giả ngoại quốc không còn bị dân chúng Trung Hoa nghi ngờ nhiều nữa.

Tôi ngồi ở văn phòng đài CBS trong khách sạn Shangri-la. Xung quanh tôi dây điện thoại chằng chịt, nhưng chẳng có lấy một tiếng chuông reng. Tôi tự hỏi: Chẳng lẽ tất cả mọi người đều đi vắng? Đài truyền hình Hoa Kỳ chẳng có hình ảnh gì mới, còn những đài truyền hình Trung Hoa thì chiếu đi chiếu lại những bài diễn văn của Lý Bằng.

Tôi bước ra ngoài cho đỡ sốt ruột. Mặt trăng đêm thật tròn, gió nhẹ và một đám đông hàng trăm người tụ họp ở các ngã tư. Một, hai, ba hò dô! Các học sinh Trung Học đang cố đẩy những ống xi măng dọc theo đường phố làm chướng ngại vật. Khắp mọi nơi, dường như chỗ nào cũng có người tụ tập xì xào bàn luận. Dưới chân họ là những bình nước họ đã dành để uống cho trọn đêm không ngủ. Họ tụ tập cốt để chặn không cho binh lính tiến vào công trường. Tất cả đều muốn bảo vệ các sinh viên. Tôi vượt qua một nhóm người mù đã đi bộ cả dặm để đến chỗ tụ tập. Nhóm người mù đó nói với tôi: “Khi đoàn xe tiến vào công trường, tất cả chúng tôi cùng tình nguyện nằm xuống ngay giữa đường. Chúng tôi phải làm thế để đáp ứng lời mời của Thủ Tướng Lý Bằng. Chính ngày Thủ Tướng đã đích thân mời chúng tôi mà!”

Bỗng có một chiếc xe tiến đến và chỉ trong khoảnh khắc, tất cả những người đứng quanh đều bị chiếc xe thu hút. Cảm giác thu hút đó mãnh liệt chẳng khác nào sức hút của nam châm đối với những mảnh sắt vụn. Tôi đứng trên nắp một chiếc thùng rác để nhìn những làn sóng người cho rõ. Không một ai chen lấn hoặc xô đẩy. Đám đông chỉ đưa ra những lời thuyết phục nhẹ nhàng. Một lúc sau, chiếc xe hơi bỗng từ từ lui lại. Có tiếng vỗ tay, reo hò: Hay quá, đỡ quá, tốt quá. Đám đông đứng quanh vỗ tay ào ạt biểu đồng tình. Tôi rời nắp thùng rác bước xuống. Tâm hồn tôi tự nhiên phấn khởi. Trong khoảnh khắc cảm giác tự tin trong tôi bỗng dâng cao, hoà đồng với cảm giác tự tin của những người quanh đó.

Tôi đọc những tấm biểu ngữ họ tự làm lấy: “Xin tất cả đồng bào hãy che chở sinh viên.”

Đám đông lại lớn tiếng hoan hô khi thấy một nông dân lái xe kéo theo một chiếc xe buýt rỉ đến gần công trường để làm chướng ngại vật.

Một chiếc xe chuyển vận chở đầy lính mặc thường phục dân sự rú máy chạy xuống đường nhưng rồi bị những ống xi măng và đám đông cản lại. Một sinh viên dùng loa kêu gọi mọi người bình tĩnh và giữ trật tự. Chiếc xe bị đẩy lui qua hai dãy phố rồi trả tự do cho quay về.

Những người biểu tình chẳng tỏ vẻ gì sợ hãi. Có lẽ họ cho rằng Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân sẽ chẳng bao giờ tấn công họ. Điều đó có thể đúng, nhưng còn những đội cảnh sát dẹp loạn với những đồ khiên, mũ sắt và gậy dùi cui thì sao? Tôi bước vào nhà, cố xua đuổi những ấn tượng kinh hãi đó ra khỏi đầu óc.

Mãi cho tới lúc Lý Bằng tuyên bố áp dụng thiết quân luật, tôi vẫn hy vọng từng phút, từng giây rằng Đặng Tiểu Bình sẽ có mặt ở công trường. Mặc dù biết rằng mình không thực tế, chẳng hiểu sao tôi vẫn nuôi hy vọng được thấy hình ảnh Đặng Tiểu Bình bước xuống công trường, tay cầm một quả đào, biểu tượng của sự trường thọ để đưa cho những người tuyệt thực chỉ đáng tuổi các cháu, chít ông ta. Đã đành rằng dù Đặng Tiểu Bình có làm gì đi nữa thì Trung Hoa vẫn chẳng thể biến chuyển để trở thành Trung Hoa của những ngày trước, nhưng chỉ cần một cử chỉ khác thường là ông có thể chấm dứt cuộc khủng hoảng và chiếm lại cảm tình của tất cả những người đã từng có cảm tình với ông.

Có lẽ chẳng có tấn kịch nào bi thảm bằng một tuồng kịch cải cách mà trong đó chính nhân vật đầu tiên đứng ra hô hào cải cách lại trở thành nạn nhân của phong trào cải cách. Đặng Tiểu Bình là người Tứ Xuyên. Ông xuất thân từ quân đội và là một cựu quân nhân của cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Lịch sử sẽ ghi nhớ mãi thành tích của ông như một vị lãnh đạo đã đưa nhân dân Trung Hoa ra khỏi cơn cuồng bão của cuộc cách mạng văn hóa. Chính những phong trào cải cách của Đặng Tiểu Bình đã đưa Trung Hoa vào một thập niên mới tương đối có tự do và thịnh vượng hơn.

Đã nhiều năm Đặng Tiểu Bình có ý về hưu. Đã nhiều năm Đặng Tiểu Bình có ý thu xếp cho cuộc chuyển nhượng chính phủ thành một cuộc chuyển nhượng quyền hành nhẹ nhàng và có thứ tự. Nếu vấn đề chuyển nhượng quyền hành thành công như ý Đặng Tiểu Bình thì mọi việc đã hoàn toàn khác hẳn. Có thể Đặng Tiểu Bình đã trở thành người hùng của lịch sử và tránh được những sự nhục nhã đang trực diện với ông lúc này. Nhưng con tạo lúc nào cũng trớ trêu, cố tình xô đẩy những kẻ tộc trưởng phải rơi vào những thế đứng mũi chịu sào khó xử.

Tuy phong trào sinh viên đã khiến Đặng Tiểu Bình mất đi chỗ đứng trong lịch sử, nhưng nói chung thì người dân Trung Hoa cũng vẫn đạt được rất nhiều lợi điểm trên nhiều phương diện. Những lợi điểm người dân Trung Hoa đạt được vượt hẳn tất cả những tầm mức mọi người đã dự liệu khoảng một tháng về trước. Ngày trước, tuy lúc nào các khu trục vận cũng tải đồ lũ lượt và các hàng quán lúc nào cũng đầy ắp nhưng tinh thần dân chúng lại thật là thấp. Lúc nào người ta cũng dựa vào chuyện luồn lót để hoàn thành công việc, kể từ những chuyện nhỏ nhặt nhất trở đi. Ai cũng cảm thấy cuộc sống thật là nhơ nhuốc. Gần như lúc nào người ta cũng phải giải quyết những ẩn ức của đời sống bằng cách nhìn vào những người khác chứ không ai dám nhìn thẳng vào mình. Gần như tất cả đều cảm thấy bất lực. Những người lớn tuổi chỉ mong có được một cuộc sống giản dị và lý tưởng hơn cuộc sống hiện tại. Những người trẻ tuổi thì chỉ xem trọng thực tế và mỉm cười trước những mơ ước ngây thơ như vậy. Còn những người đứng tuổi thì vì đã hy sinh quá nhiều xương máu trước bàn thờ Mao nên lại sợ rằng họ sẽ phải hy sinh thêm một lần nữa. Giới nào cũng than phiền về các giới khác. Giới nào cũng nghi ngờ các giới khác. Gần như thiện chí hoàn toàn mất hẳn.

Thế mà giờ đây phong trào sinh viên xuống đường lại khiến những mâu thuẫn xã hội tan biến. Lớp người trẻ đã mở đường để lên tiếng trước công chúng. Tiếng nói của họ là biểu tượng của sự khao khát cần phải giải thoát ý tưởng. Tất cả những người từ trước tới nay vẫn trông chờ người khác giải phóng họ giờ đây đã tự vùng lên. Kinh nghiệm khác lạ này khiến họ ngây ngất. Cảm giác giải phóng đã khiến họ đồng lòng đoàn kết. Ngày nay, mặc dù chính bản thân họ đang căng thẳng tột độ, mặc dù chính bản thân họ vẫn sợ hãi những chuyện bất an có thể xảy ra, mà người dân Trung Hoa vẫn chỉ để tâm đến những chuyện đáng ngại sẽ xảy ra cho gia đình và bạn bè. Trong lịch sử Trung Hoa, đây là lần đầu tiên họ lưu tâm đến những người khác hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn không phải thân nhân.

Trước cả khi tôi được đến tận nơi để mục kích dân chúng chất chướng ngại vật, tôi đã thấy rõ sự biến chuyển mới trong cách suy nghĩ của người dân Trung Hoa qua điện thoại. Vì công việc của tôi là phải có mặt ở khách sạn để phụ giúp các ký giả mỗi khi họ cần thêm tin tức, tôi phải dùng điện thoại để liên lạc. Tôi phải liên lạc chẳng những chỉ với Bắc Kinh mà còn với khắp cả mọi nơi ở Trung Hoa để theo dõi tin tức. Lúc đầu tôi còn được các bạn tôi kể cho nghe những tin tức họ biết ở những vùng lân cận quanh họ qua cửa sổ, nhưng về sau tôi chẳng còn liên lạc được với bất kỳ người bạn nào nữa. Có thể lúc tôi gọi họ, thì trời đã quá khuya. Bởi thế tôi lại phải tìm cách gọi để lấy tin ở những khách sạn, ở sở cảnh sát, ở các nhà thương. Gần như bất cứ nơi nào các nhân viên tổng đài cũng làm việc suốt 24 giờ. Và lạ thay, họ làm việc hết sức tận tâm.

Tại sao tôi lại lấy làm lạ? Vì rằng trong một quốc gia mà đến cả những thư ký cũng có thói quen bỏ mặc hoặc có khi sỉ nhục những người đến nhờ họ giúp đỡ thì chẳng trách gì các nhân viên tổng đài lại có thái độ vô lễ và làm việc thiếu lương tâm! Thông thường thì các nhân viên tổng đài chẳng bao giờ trả lời điện thoại và nếu họ có hạ mình để bốc điện thoại đi chăng nữa thì cũng chỉ là để khỏi phải nghe chuông. Trước khi người gọi có dịp hỏi bất cứ câu gì, họ đã cúp điện thoại.

Thái độ bất nhã của các nhân viên tổng đài có thể khiến người dùng điện thoại nổi trận lôi đình. Thái độ đó quả là là một sự vô lễ khó thể tha thứ, nhưng lại chẳng có gì khó hiểu. Thực ra thì ngay từ xa xưa, quan niệm đặt nặng gia đình của Khổng Tử đã khiến người dân Trung Hoa mang nặng quan niệm cần phải bảo vệ gia đình. Quan niệm đó khiến họ lúc nào cũng né tránh, không muốn tiếp xúc với người lạ. Chẳng những thế, những áp lực của đời sống xã hội Trung Hoa ngày nay còn khiến những quan niệm đó ăn khắc sâu thêm vào tiềm thức họ. Ngay cả khi các phong trào cải cách của Đặng Tiểu Bình đã thành công, đa số công chức vẫn bị buộc phải làm những việc họ không có quyền lựa chọn. Do đó, họ thường phải chấp nhận những công việc không mấy vừa ý để giữ lấy đồng lương. Họ đã nghiến răng chịu đựng cho tới ngày về hưu để có được miếng cơm, manh áo. Từ cương vị của họ -điều này đúng hơn bao giờ hết sau khi các phong trào cải cách thành công- họ thấy rằng tất cả những người họ thấy đều có được địa vị tốt hơn. Và với rất nhiều lý do chính đáng, họ cũng cho rằng, những người có được địa vị tốt hơn chẳng phải nhờ vào thực tài mà là nhờ vây cánh, con ông cháu cha, đút lót hoặc hối lộ. Tình trạng bất công do đó còn khiến những sự ganh ghét thường tình chuyển thành phức tạp hơn. Căn bệnh này đã phổ thông đến độ được gọi là “bệnh mắt đỏ”. Chứng mắt đỏ hoành hành trong khắp mọi tầng lớp xã hội và chuyển thành biến chứng thiếu lễ độ bất nhã như trên.

Lạ lùng thay, trong những tuần lễ học sinh xuống đường, lối suy nghĩ này hoàn toàn biến mất. Dường như ở khắp mọi nơi trong Bắc kinh, tất cả mọi người đều đóng góp tận tình cho những người xuống đường. Họ đóng góp từ tiền bạc cho đến thực phẩm. Tất cả đều cùng hết sức làm việc để giữ cho guồng máy chính phủ hoạt động đều đặn như thường lệ. Cuộc biểu tình tuyệt thực ở Thiên An Môn đã ảnh hưởng nhiều nơi khác. Ở nhiều vùng, dân chúng đã xúc động vì cảnh biểu tình và đã hết lòng ủng hộ các sinh viên xuống đường ở địa phương họ. Một trong những giới ủng hộ phong trào xuống đường là các nhân viên điện thoại ở tổng đài.

Tất cả những cú điện thoại tôi gọi đều được trả lời lập tức và vô cùng lễ độ. Chẳng ai hỏi gì đến tên hoặc tổ làm việc của tôi chứ đừng nói đến gốc gác của tôi nữa. Chuyện tôi hỏi về những tin tức không được tường trình cũng không gặp vấn đề gì khó khăn. Người nào cũng cố gắng trả lời tường tận các câu hỏi của tôi và ngay cả khi không trả lời được, họ cũng cho tôi biết thêm những chỗ tôi có thể hỏi. Qua những nhân viên điện thoại tôi gọi, tôi tìm được tin tức của tất cả các biến chuyển trong suốt 28 tỉnh. Ngoại trừ Tân Cương và Tây Tạng vì tổng đài không có đường giây trực tiếp ở hai vùng này.

Cảnh sát đang truy tầm anh. Về tội gì? Tôi chẳng làm thế nào để biết được rõ ngoài cách tự mình suy đoán. Anh thích bạn bè và nhà anh ở cách công trường Thiên An Môn chỉ độ một dặm. Chỗ ở của anh tiện lợi đến nỗi gần như tất cả những người quen biết anh trong số hàng trăm ngàn người đến xem hoặc tham dự cuộc biểu tình đều mong ghé lại chỗ anh để dùng tạm những phương tiện của anh hoặc uống nhờ bát nước.

Tôi đã gọi anh đều đặn từ văn phòng tin tức của CBS để nghe những tin tức chính mắt những người đang ở nhà anh được mục kích. Nhiều người khác cũng đã gọi như tôi. Chuyện anh có nhà đúng ở một vị trí thuận lợi như thế và lại có cả điện thoại trong nhà quả là một chuyện vừa may vừa rủi.

Chúng tôi gặp nhau lần đầu ở một trong những buổi tiệc của gia đình tôi. Lần đó mọi người được mời xem phim, nhưng trong số hàng trăm người khách đến xem cuốn phim Vượt Thoát đêm đó, tôi không hề chú ý gì đến anh. Lúc tôi và nhà tôi ra sàn để khai mạc cuộc khiêu vũ thì anh ta ở ngay phía sau tôi. Ba tiếng sau, anh vẫn tiếp tục khiêu vũ. Khi thì anh nhảy với một nữ minh tinh Trung Hoa, khi thì anh nhảy với những bà vợ già của các ngài lãnh sự và đôi khi anh nhảy một mình. Lúc nào anh cũng say mê lắc lư theo điệu nhạc. Cách nhảy của anh không giống kiểu nhảy như thể người nhảy đang trườn trên mặt tuyết mà cũng không giống kiểu nhảy co ro như thể người nhảy đang kẹp những trái bóng bàn ở nách và các khuỷu chân. Anh nhảy thật tự nhiên. Khuôn mặt khắc khổ và thân thể rắn chắc của anh khiến tôi nhớ đến hình ảnh tài tử Cagney đang đội nón, mặc áo tơ.

Vào khoảng nửa đêm, khi gần như tất cả mọi người khách khác đều đã ra về, anh vẫn còn ở lại với những người mê tiệc để tiếp tục thưởng thức những món bánh ngọt, chả giò bày trên chiếc bàn cà phê ở phòng khách. Lúc đó người bạn tốt của tôi mới giới thiệu anh với tôi. Vừa được giới thiệu xong, anh đã khiến mọi người cười rộ. Anh đưa cho tôi hết tấm thẻ văn phòng này đến tấm thẻ văn phòng khác cho đến khi số thẻ dày cộm lên đến gần như một xấp bài: “Đây là văn phòng tôi ở Hồng Kông, đây là văn phòng tôi ở Bắc Kinh, đây là văn phòng tôi ở Quảng Đông.”

“Thế anh làm gì?”

“Cũng làm việc tương tự như việc của bà.”

“Vậy có nghĩa là sao?”

“Công việc chính của tôi là dự tiệc.”

“Và?”

“Tôi là nhịp cầu của các buổi tiệc cũng như bà vậy!”

Câu trả lời thật sâu sắc biết bao! “Nếu thế thì chắc hẳn đôi khi anh cũng phải cảm thấy khó chịu như tôi?”

“Không! Tôi rất thích được nhập cuộc với mọi người. Với tất cả mọi loại người. Tôi có thể nói chuyện với những người phu đổ rác, người bốc mùi đất cát, hoặc những kẻ quyền quý đài các ở Hồng Kông. Tôi có thể bắt chuyện với những người Mác-xít, tư bản hoặc làm quen với các linh mục truyền giáo. Tôi có thể hòa đồng với tất cả mọi người kể cả người vợ trước của tôi!”

“Công việc của anh chỉ có thế thôi?”

“Thế mà bà vẫn còn cho là chưa đủ à? Những dịch vụ mướn tôi cho thế là đủ rồi. Họ trả tôi rất khá, nhưng họ còn kiếm được nhiều hơn thế. Nếu không có những người như chúng ta thì bà thử nghĩ xem những buổi tiệc trao đổi văn hóa như thế này sẽ khiến người đến dự phải buồn nản và mập thêm biết bao? Người nào cũng phải cố nhồi thức ăn vào để có thể đưa câu chuyện ra. Không có những người như chúng ta thì làm gì có vấn đề trao đổi, làm gì có vấn đề vui vẻ!”

Tôi phải thú thực rằng có nhiều tối ở tòa đại sảnh Nhân Dân, tôi đã phải cố gắng chẳng khác nào một anh xiếc đu bay cố chụp vào những mối dây vô hình khi cố tìm cách để tạo một bầu không khí thân thiện giữa một dân biểu của tỉnh Ozarks và bí thư đảng của tỉnh Urumchi. Những người làm được những việc như tôi quả là hiếm, thực sự rất hiếm. Tuy nhiên, người ta lại nhìn tôi chẳng khác gì nhìn những người đàn bà đang được sủng ái vì việc của tôi không có lương lậu chắc chắn. Công việc khó khăn của tôi được coi như một loại vũ ba lê ở một dạng khác không hơn không kém. Nhất là khi tôi ở Bắc Kinh, cảm giác này còn rõ rệt hơn nữa. Ở đó, tôi phải đến cả chục buổi tiệc mỗi tuần để giúp vui. Cuối cùng tôi đã nhận rõ được rằng tôi không phải là một con người biết giữ đủ kỷ luật để có thể viết.

Tôi hăm hở nhận ngay mình cũng là một người viết văn. Anh ta gật đầu chẳng khác nào như đã biết rõ việc tôi không hề đụng đến bàn viết đã nhiều tháng qua. Anh nói thêm rằng anh cũng có viết.

“Thật hả?” Tôi không thể tưởng tượng anh ta có thể ngồi ở đâu lâu đến khoảng thời gian có thể gọt trọn cây bút chì.

“Vâng, nhưng viết chẳng có gì đặc sắc. Có thể tôi không viết được một phần cũng là vì tôi đã nói hết rồi. Một phần khác khiến tôi không viết được có lẽ là vì tôi muốn quan sát phản ứng của tất cả mọi người. Có lẽ cả hai lý do đó đều đúng. Tôi cần tiếp xúc với mọi người.”

Tôi hỏi anh về chuyện đời anh.

Hồi còn ở Trung học tôi chơi thân với con của một cán bộ cao cấp. Bạn tôi thường lấy thẻ mượn sách đặc biệt của bố để mượn những quyển sách ở thư viện dành riêng cho cán bộ. Những quyển sách dịch ở đó rất ít người biết và số người được mượn còn ít hơn nữa. Đây là lần đầu tiên tôi được đọc cuốn Bắt Trẻ Đồng Xanh.

Khi đọc, những ý tưởng trong chuyện khiến tôi ngạc nhiên không biết đến mức nào mà nói. Tuy tôi và nhân vật chính sống trong hai thế giới hoàn toàn khác biệt, đây không phải là vấn đề chính. Vấn đề chính là cả hai chúng tôi đều cảm thấy như nhau. Chúng tôi cùng nhận thấy những sự giả dối trong đời sống và cùng khinh bỉ những sự giả dối đó. Chúng tôi lo lắng hết mức nhưng những người được chúng tôi lo lại chẳng màng gì đến chuyện lo của chúng tôi.

Tôi chép lại từng chữ cả cuốn sách. Tôi chuyền tay cuốn sách với những bạn bè thân. Chẳng bao lâu sau chúng tôi mặc quần áo như nhân vật chính, nói chuyện như nhân vật chính, hành động như nhân vật chính. Nhân vật chính của chuyện Bắt Trẻ Đồng Xanh trở thành mẫu người lý tưởng của chúng tôi và chúng tôi cũng muốn trở thành những mẫu người lý tưởng.

Khi Mao Trạch Đông kêu gọi Cách Mạng Văn Hóa và hô hào những người trẻ tuổi cùng đứng lên xây dựng lại xã hội, chúng tôi đáp lời. Với tấm lòng nhiệt thành, chúng tôi tham gia quên ăn quên ngủ và quên cả những tiện nghi của đời sống gia đình. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để vạch trần những sự giả dối của những kẻ cường quyền.

Rồi thì giấc mơ của chúng tôi bỗng nhiên tắt phụt. Cơn ác mộng trở thành sự thực. Chúng tôi không phải là những cứu tinh. Chúng tôi chỉ là những công cụ. Nạn nhân là những kẻ vô tội.

Tôi lên tiếng phản đối, bị bắt hai lần và bị xử án tù 10 năm.

Khi bị bắt lần thứ hai, và bị nhốt suốt tám năm, tôi vẫn không để những sự buồn rầu làm lay chuyển ý chí. Tôi sống như thể mê làm việc khổ sai. Tôi làm thơ. Tôi vẽ. Tôi kể hết chuyện này đến chuyện khác để giúp vui cho các bạn tù. Tôi trở thành người trông nom họ chẳng khác nào nhân vật chính của chuyện Bắt Trẻ Đồng Xanh.

Lần đầu tiên tôi bị bắt thì tình cảnh hoàn toàn trái ngược. Lần đó, tôi bị xử tử hình và được chuyển sang chỗ tội phạm đang chờ ngày hành xử. Lúc đó tôi phải ngồi trong xà lim chỉ lớn hơn chiếc va li một chút và tay chân đều bị cùm chặt.

Một viên chức được sai đến nhà tôi để báo tin. Ông ta luống cuống không nói rõ lời và rồi nói với mẹ tôi: “Dù sao thì bà cũng còn những đứa con khác.”

Mẹ tôi trả lời thật bình thản rằng: Khi còn bé bà vẫn thường được đọc chuyện về những người bị quốc gia hành hình, bà không ngờ rằng lại có ngày mình được hãnh diện làm mẹ của một người như vậy.

Viên chức thông báo trở về nói rằng mẹ tôi điên.

Tôi đợi và nhiều người khác cũng đợi như tôi. Sau nửa đêm, trước cả khi chúng tôi nghe tiếng bánh xe nghiến trên con đường trải đá sỏi dẫn đến nhà tù, chúng tôi vẫn giật mình tỉnh giấc. Tất cả đều biết chiếc xe vận tải đến để đưa tù nhân ra pháp trường. Cứ mỗi lần xe đến là lại có một người trong nhóm tù nhân bị hành hình. Tuy thế, chẳng ai trong số các tù nhân được biết rõ tù nhân nào sắp bị hành hình. Chúng tôi không tài nào ngủ được. Có người rên rỉ, có người khóc, có người hò hét, hứa hẹn. Những người canh gác không hề can thiệp. Ngay cả những kẻ ác độc nhất cũng động lòng trắc ẩn và không nỡ hành hạ thêm những kẻ sắp bị hành hình như chúng tôi.

Mỗi sáng, sau khi tiếng nghiến của bánh xe trên đường nhựa đã xa, cuộc sống bình thường lại trở lại.

Tôi đợi suốt một tháng, rồi suốt một năm. Chỉ có một lần tôi toan tính kết liễu việc đợi chờ. Họ bảo rằng tôi chẳng thể nào thành công. Bởi vậy, vấn đề trở thành một sự thử thách. Mỗi ngày tôi tìm những sợi mì rớt dấu đi cho đến khi tôi đã nhặt đủ số lượng cần thiết. Sau đó, tôi nhúng nước và nặn những sợi mì cho ăn liền với nhau thành một chiếc vòng hình lưỡi câu khổng lồ. Tôi xé áo, quần để bện thành một sợi cà-vạt thật dài. Tôi thắt sợi cà-vạt đó vào chiếc lưỡi câu. Sau đó, tôi buộc chiếc lưỡi câu vào tấm thanh sắt chắn ngang cửa tù. Vì trần trại giam quá thấp, tôi vừa quỳ, vừa thắt phần còn lại của sợi dây cà-vạt vào cổ cho chặt. Lúc đó, tôi chỉ cần ngồi xuống thay vì quỳ là sợi dây sẽ xiết chặt tôi cho đến chết dù rằng thời gian có thể hơi lâu. -Tôi chẳng thể nào tìm được cách nào khác chóng vánh hơn.

Rồi tôi nghĩ đến mẹ tôi.

Nếu họ giết tôi thì ít ra mẹ tôi cũng còn được an ủi rằng dù gì đi nữa thì cuộc sống của tôi cũng còn mang một ý nghĩa nào đó. Nếu chính tôi tự tử thì ngay cả niềm an ủi đó cũng mất.

Tôi lại đợi thêm một năm nữa và hàng đêm nghe tiếng bánh xe nghiến qua những hòn sỏi cuội.

Gần đến ngày Tết thì có một viên cai tù đến gặp tôi.

“Chẳng còn bao lâu nữa là đến ngày lễ” ông ta nói đều đều như thể đang viết rõ ra từng chữ.

Tôi gật đầu.

“Anh có thể về nhà lâu hơn.”

Tôi gật đầu.

“Anh không phải trở lại đây nữa.”

Tôi gật.

“Anh có hiểu tôi đang nói gì không?”

Tôi gật.

“Anh có hiểu là anh được trả tự do rồi không?”

Tôi gật đầu. Tự nhiên tôi cảm thấy tội nghiệp người cai tù. Trông ông có vẻ thất vọng quá. Ông là người tốt bụng. Ông đã cẩn thận báo tin thật thận trọng và từ từ chẳng khác nào đang mớm thức ăn cho một kẻ bị bỏ đói lâu ngày. Ông ta sợ rằng tôi sẽ phản ứng bất ngờ như một gã tù bất hạnh khác trước đây đã lăn đùng ra chết khi nghe tin mình được tự do.

Tôi ước rằng tôi có thể nói được một câu gì đó với người cai tù. Tôi ước rằng tôi có thể mỉm cười. Tôi ước rằng mình không phải là một thằng khốn kiếp vô ơn.

Sau đó tôi gặp anh bạn hoạt náo viên thường xuyên hơn. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều, lúc nào cũng cùng một đề tài. Đây cũng chẳng phải là điều gì lạ. Ở Trung Hoa gần như đề tài có là gì đi nữa thì kết cục vẫn là chuyện có liên quan đến vấn đề quốc gia. Bất kể tôi đang nói chuyện với một người tài xế tắc-xi hoặc đang nói chuyện với các viên chức nhà nước, đang nói chuyện với một người thường dân, với bạn thân hoặc với người lạ thì đề tài câu chuyện vẫn chỉ là những chuyện chính trị. Phản ứng của họ khiến tôi lấy làm lạ và đã có nhiều lần tôi cố mở đề bằng những đề tài hoàn toàn khác biệt để xem họ phải mất bao lâu để chuyển đề tài. Cuối cùng tôi thâu được kết quả: Thời gian kỷ lục để họ chuyển về đề tài chính phủ: 5 hoặc 6 phút.

Hiện tượng này không phải là di sản của những quan niệm cổ của Trung Hoa ngày trước như những người Trung Hoa vẫn thường cho rằng chỉ có Trung Hoa mới xứng đáng để họ suy nghĩ hoặc lưu tâm. Hiện tượng này xảy ra có lẽ là vì tất cả những người Trung Hoa đều đang quằn quại vì những cơn đau và đang tự bắt mạch, tự thử nhiệt, đang tự xem xét tất cả mọi biến chứng để tìm thuốc chữa trị và chẳng còn tâm trí đâu để nhớ đến bất cứ vấn đề nào khác nữa.

Và vì chính trị và chính sách của đảng vừa là nguyên nhân gây ra bệnh trạng, vừa là phương thuốc để chữa bệnh trạng đó nên đây là những đề tài chủ chốt của tất cả mọi cuộc nói chuyện.

Số người than phiền lúc này nhiều hơn so với tất cả những con số từ trước đến nay. Vấn đề than phiền không phải là vì hoàn cảnh ngày càng khó khăn mà vì hoàn cảnh ngày càng đỡ hơn trước. Thực phẩm lúc này đầy đủ hơn. Người ta không còn phải cám ơn chủ tịch trước mỗi bữa ăn nữa. Áo quần cũng thay đổi nhiều hơn trước. TV đã giúp cho đầu óc người dân Trung Hoa bớt bị những việc thường ngày ám ảnh. Người ta không còn dốt nát về thế giới bên ngoài. Sau nhiều thập niên câm lặng và giữ kín ý kiến cho riêng bản thân mình, giờ đây người ta có thể phát biểu với gia đình và bạn bè mà không sợ báo cáo.

Quả thật đời sống của người dân Trung Hoa cũng như cuộc sống của nhiều người ở các nơi khác trên thế giới đã tốt đẹp hơn trước. Nhưng đây đâu phải là lý do để im lặng? Con người lúc nào cũng chỉ loay hoay trong những giới hạn khuôn khổ của con người. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi mà người Trung Hoa cho rằng mặt trăng to hơn, sáng hơn và tròn hơn bất cứ ở những nơi nào khác trên thế giới mà cũng vẫn có người than phiền và yêu cầu Hoa Thịnh Đốn phải lưu ý đến tiếng nói của họ.

Một khi con đê tự kiểm đã bị phá vỡ thì còn có gì tự nhiên hơn là để mặc cho những ưư phiền dồn nén có dịp phát tiết? Cơn lũ phát tiết càng ngày càng nhanh, càng rộng và được những luồng sóng của sự bất định bấp bênh đưa đẩy thêm. Nào ai biết rõ ngày mai rồi sẽ ra sao? Chính sách thay đổi hàng ngày. Phương thức áp dụng thay đổi tùy theo người nắm quyền. Và vì thế, người ta than phiền. Chẳng những thế, người ta còn than phiền nhiều hơn vì từ trước đến nay ý kiến của họ chưa hề được những người cần phải nghe họ chú ý.

Có quá nhiều nhà lãnh đạo già nua không còn đi nổi và phải đến họp bằng xe lăn. Họ nghe được vài câu qua loa qua máy trợ tai rồi lại ngủ gật ngay vài phút sau. Họ ngủ cho đến khi tiếng vỗ tay của cử tọa khiến họ giật mình tỉnh giấc để nghe thêm vài câu nữa. Thế thì có thể phỏng đoán đến mức nào? Quyết định những quyết định nào?

Người ngoại quốc hay nói chuyện chi li về các con số thống kê chẳng hạn như tổng sản lượng quốc gia của Trung Hoa tăng lên gấp đôi sau một thập niên cải cách. Họ quên rằng người Trung Hoa không phải chỉ đơn thuần là những con số mà là những con người hoàn toàn bằng xương, bằng thịt. Ngay cả những con vật bốn chân cũng còn được thiên nhiên ban cho bản năng bẩm sinh để lo cho tương lai và biết liệu định cho phù hợp. Nhưng riêng người dân Trung Hoa chỉ thấy tương lai hoàn toàn mịt mờ và bất định. Chẳng có quyền lợi nào là quyền lợi được hoàn toàn bảo đảm. Vì sao người dân phải cảm ơn khi những món quà tặng hôm nay có thể bị tước bỏ ngay ngày mai?

Mới đây một ban hành chánh ở một bệnh viện địa phương tuyên bố chính sách mới; tất cả những bác sĩ muốn xuất ngoại du học đều phải trả 5.000 quan. Đây là số tiền sẽ được dùng vào phí tổn lo cho việc du học trước khi bệnh viện có thể nộp đơn đơn xin giấy thông hành cho họ. Mục đích chính của sắc lệnh được ban hành là để ngăn cấm bác sĩ xuất ngoại. Và rồi khi thấy nhiều người có thể vay mượn hoặc xin xỏ để có đủ số tiền đòi hỏi thì chính người ban lệnh lại khám phá ra rằng bán giấy thông hành là một việc làm ăn rất khá. Họ quyết định nâng cao giá cả và còn mở rộng thị trường chẳng chỉ cho bác sĩ mà còn cho bất kỳ ai muốn xuất ngoại cũng đều có thể mua giấy thông hành cả.

Đã đành rằng cải cách sẽ giải phóng chế độ nhưng nếu không có luật lệ chung để áp dụng lẽ công bằng cho tất cả, nếu không có phương pháp để thực thi sự công bằng thì tất cả những cán bộ đứng đầu các đội làm việc đều có thể là một ông vua. Thực sự thì ngay cả những nhân viên cấp thấp nhất cũng có thể là một ông quan. Một người thư ký có thể tự quyết định liệu có nên giúp những người đến văn phòng hay không. Anh ta có thể tùy ý quyết định mà không sợ thiệt hại quyền lợi gì cả. Chẳng ai có thể đuổi anh ta. Bất kể tinh thần làm việc của anh có thế nào đi chăng nữa thì chính phủ vẫn trả lương cho anh như thế. Chính phủ cũng trả lương cho người đàn bà lao công quét hành lang hệt như đã trả cho người thư ký. Bà ta có thể tự quyết định tùy hứng liệu có nên quét hay không. Một trong những vấn đề sinh hoạt điển hình của họ là: Người thư ký có thể nói rằng đôi giầy người quét hành lang muốn mua đã bán hết mặc dù những đôi giầy đó anh đã dấu qua loa ngay phiá dưới chân bàn. Chiều đó, người quét hành lang đổ rác ngay trước cửa văn phòng của người thư ký. Xã hội Trung Hoa lúc này là thế.

Lỗi của ai? Vừa chẳng phải của riêng ai mà cũng vừa là của tất cả.

Không có luật lệ thì quyền hành định đoạt tất cả. Thế thì ai là người có nhiều quyền hành nhất? Đảng. Và làm cách nào để có thể có ảnh hưởng với các đảng viên? Bằng cách móc nối. Nếu một bác sĩ không biết cách móc nối sẽ phải trả 5.000 quan trong khi một bác sĩ biết cách móc nối sẽ không phải tốn một xu.

Tôi biết một người biết lợi dụng những luật tiểu thương của nhà nước và mở một cơ xưởng làm máy hát, radio hết sức tốt và kiếm được tiền. Rồi có những cán bộ của thành phố đã xin phần. Anh ta từ chối. Những người cán bộ bèn nâng thuế lên cao đến mức công ty của anh ta phải phá sản vì thuế cao.

Tôi biết một người khác định mở một tiệm sách. Rồi thì có một cán bộ ở xưởng điện tới dọa, anh ta nếu không chi tiền thì sẽ bị phạt vì tội mắc dây không đúng tiêu chuẩn. Rồi một cán bộ khác ở công ty nước đến đòi hỏi y như thế rồi một cán bộ khác ở hãng ga cũng đòi hỏi y hệt. Cứ hết cán bộ nọ lại đến cán bộ kia. Sau khi trả hết những món tiền đòi hỏi, anh chẳng còn đủ tiền để mua sách nữa.

Mặt khác tôi cũng biết rất nhiều con cái của các cán bộ chỉ cần bỏ tiền để mua lấy một bộ âu phục, chiếc cà vạt và một cái cặp táp đủ để đựng đầy những thẻ điện thoại của bố mình. Họ chỉ cần đổi những thẻ này cho những ai đang cần móc nối để lấy những khoản tiền khổng lồ. Chẳng trách nào mọi người đều cho rằng tất cả những người giàu có đều là những người nếu không có nhiều móc nối thì cũng là ăn cướp. Ngay cả những khi luật pháp đang được thực thi mà phương pháp thực thi cũng không công bằng. Mới đây một người làm việc ở khách sạn vừa nói bị xử tử hình vì tôi ăn trộm của người ngoại quốc. Nếu tội ăn trộm là tội trộm của người Trung Hoa thì án nặng nhất cũng chỉ bị đến 10 năm tù. Hơn nữa, còn nhiều kẻ khác cũng làm việc ở khách sạn mang tội ăn cắp rành rành mà vẫn chẳng bị hình phạt gì cả.

Bị bắt và bị trừng phạt chẳng qua chỉ là vấn đề may mắn hoặc thời gian. Rất nhiều người vui lòng chọn con đường phạm pháp và cam chịu tù tội nếu bị bắt vì chẳng có con đường hợp pháp nào cho phép họ tiến thân. Và khi đã tìm được một kẽ hở của cơ hội thì dù cơ hội đó có bất hợp pháp họ cũng sẵn sàng tóm lấy. Rồi thì có nhiều người phạm pháp đến độ người ta quên cả những chuyện họ làm đã có lần được coi như những chuyện bất hợp pháp. Ngày nay những người không biết lợi dụng đường dây bất hợp pháp bị coi như những người phải chịu thiệt thòi vì ngu dại.

Cũng có vài lãnh tụ bảo rằng Trung Hoa chẳng thể làm tất cả mọi việc trong cùng một lúc. Tôi hỏi rằng tại sao chính phủ không thể cải tổ luật pháp bằng cách thẳng tay áp dụng luật lệ, dù chỉ là một đạo luật thôi. Sau khi đã ấn định rõ một đạo luật cho thật hẳn hòi, chính phủ sẽ phạt tất cả những người vi phạm luật lệ bất kể phạm nhân là ai hoặc quen biết ai. Đây cũng là một phương pháp để phục hồi lòng tin của dân chúng. Thay vì cho ra những luật lệ mới trong khi có cả hàng ngàn người đang tìm cách vượt qua những luật lệ cũ.

Đó là lý do tại sao chính phủ chẳng thể áp dụng cải cách nếu không có luật lệ nghiêm túc. Ai sẽ là người tình nguyện vào cuộc khi những luật lệ hoàn toàn do những cấp lãnh đạo tùy hứng ban ra? Bởi thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi đã có cải cách mà sự than phiền vẫn lũ lượt chất đống chẳng khác gì những đống củi. Và quả thật chỉ cần một đốm lửa nhỏ châm mồi thì chắc chắn những đống củi đó sẽ biến thành biển lửa đốt rụi tất cả.

Có lần tôi hỏi anh bạn nếu giới lãnh đạo Trung hoa hỏi ý kiến anh thì anh sẽ cho ý kiến ra sao? Anh trả lời tôi bằng cách kể cho tôi nghe một câu chuyện như sau:

Thời cổ khi chưa ai tin vào chính phủ, có một vị quan đề nghị cách hồi phục lòng tin. Ông đứng ra trước công chúng tuyên bố rằng bất kỳ ai là người đầu tiên mang cây gậy từ cổng thành này đến một cổng thành khác sẽ được thưởng 10 lượng vàng. Mọi người đều cười. Vấn đề này quá dễ. Ai cũng có thể làm được và vì thế chẳng ai làm. Và phần thưởng treo không có người lãnh.

Cuối cùng có một người chất phác làm theo lời yết thị. Anh ta lãnh được phần thưởng trước sự kinh ngạc của những người khác. Nhà chức trách đã thưởng anh như lời đã hứa. Từ đó trở đi tất cả các lệnh của chính phủ đều được áp dụng công bằng và chính vì thế được tuân hành.

Lúc anh bạn tôi kể chuyện câu chuyện nghe có vẻ hơi quen quen, nhưng trước khi tôi có dịp nhớ lại thì anh đã chuyển qua đề tài khác. Lúc này, khi ngồi viết tôi mới nhớ ra người mà anh nói đến là Thương Ưởng, một chính khách sống vào thế kỷ thứ tư trước Tây Lịch trong thời Chiến Quốc. Tuy câu chuyện của bạn tôi hoàn toàn có thực, câu chuyện đó không phải là một câu chuyện có hậu. Sử chép rằng tuy Thương Ưởng áp dụng luật pháp thật công bằng, những đạo luật ông đề ra thường rất hà khắc. Hơn nữa, người áp dụng luật pháp thường là lính mật thám của Thương Ưởng.

Về sau, trong nhiều cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi với nhau, anh bạn hoạt náo viên có nói chuyện anh đang phân vân chưa quyết định được liệu có nên mua một căn nhà đang được quảng cáo bán hay không. Căn nhà này đã cũ, không mấy rộng và cần phải sửa sang lại rất nhiều, nhưng lại có một cái sân sau anh rất thích. Tuy căn nhà chẳng có máy sưởi và không có hệ thống ống cống, nhưng anh đã từng chịu đựng nhiều cảnh khó khăn hơn thế nhiều. Giá bán cũng cao nhưng theo giá lạm phát của thị trường thì giá chỉ có thể tăng chứ không thể giảm.

Tuy thế, cứ mỗi lần sắp sửa quyết định thì anh lại ngập ngừng. Điều làm anh khó nghĩ nhất mỗi khi mua nhà cũng chính là điều làm anh khó nghĩ nhất về vấn đề pháp luật và chính phủ ở Trung Hoa. Liệu những luật lệ cho phép người dân có quyền tư hữu đang thi hành lúc này có thực sự bền vững hay chăng? Hôm nay người ta có quyền mua nhà để làm chủ trong vòng 50 năm nhưng còn ngày mai thì sao? Có thể năm tới số lượng năm giảm đi chỉ còn 25. Và rồi năm sau đó? Chẳng ai có thể tiên đoán trước. Anh ta phân vân giữa sự hấp dẫn của khu vườn sau trong căn nhà và những chiếc bẫy ngầm bất định mà anh chưa thấy. Cuối cùng có một người khác cũng định mua căn nhà và anh bị buộc phải quyết định mua trước.

Tôi trở lại Hoa Kỳ được khoảng độ một tuần thì được tin người bạn hoạt náo viên không còn ở Trung Hoa nữa. Anh đã trốn ra ngoại quốc. Thời gian anh ở căn nhà anh mua tính cho tới lúc đó thì vừa được đúng một năm.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"