Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Người Tiểu Thương 


Thứ ba, ngày 16 tháng 5, 1989. . . Ngày thứ tư của cuộc tuyệt thực. Hơn hai trăm người biểu tình bị đưa vào bệnh viện vì cơ thể thiếu nước, vì ngồi dưới nắng quá lâu. Mười hai sinh viên quyết định tuyệt ẩm.

Gorbachev và các nhà lãnh đạo Trung Hoa họp ở tòa đại sảnh nhân dân.

Công nhân cầm cờ liên đoàn lao động diễn hành trong công trường đòi chánh phủ phải thành thật thảo luận vấn đề.

Đã bao nhiêu Hoa Kiều thành công tuy sống cao sang suốt đời ở ngoại quốc mà lòng vẫn ấp ủ nguyện vọng một ngày nào đó họ có thể quay về sống ở nguyên quán trước ngày nhắm mắt? Đã bao nhiêu Hoa Kiều đầu tắt, mặt tối làm việc ở những quán ăn hoặc ở các cửa tiệm may vá, chẳng phải để dành dụm cho riêng bản thân mình mà là cố dành dụm để giúp đỡ những người họ hàng ở Trung Hoa mà họ chưa hề biết mặt? Đã bao nhiêu Hoa Kiều được xã hội Tây Phương đào luyện thành tài mà trong thâm tâm vẫn chỉ ước mong được phụng sự Trung Hoa?

Tôi có nghe chuyện một thiếu phụ Trung Hoa đã sang Hoa Kỳ bằng cách lấy chồng qua thư. Tuy chồng bà qua đời rất sớm, thiếu phụ đó vẫn an phận làm nghề may vá. Bà tiếp tục ở lại Hoa Kỳ, mỗi ngày khâu vá suốt cả 16 tiếng để dành dụm tiền trước ngày quay về làng cũ. Ngày quay về làng, bà đã dùng tất cả số tiền dành dụm để đãi toàn thể dân làng một bữa đại tiệc và một đêm xem hát. Tôi cũng biết chuyện một thiếu phụ Trung Hoa khác ở New Jersey. Bốn mươi năm trước, thiếu phụ đó bị chồng phụ rẫy ở Trung Hoa. Vậy mà bà lại vui lòng dùng số tiền mình đã dành dụm được giúp những đứa con của người chồng cũ với người vợ hai sang Hoa Kỳ du học. Tôi chẳng thể hiểu hoặc tỏ ý tán thành hành động khó hiểu của những Hoa Kiều đó. Nhưng những người Trung Hoa thuần tuý lại cho rằng tôi chẳng thể hiểu chẳng qua chỉ là vì tôi là một loại người vong bản: Tuy da vàng mà đầu óc đã trắng hoàn toàn.

Dù sao đi nữa thì có lẽ tôi cũng nên kể rõ hơn về những cảm tưởng khó hiểu của tôi, cảm tưởng của một người Trung Hoa đã xa quê hương suốt 27 năm. Những cảm giác khác lạ này đến thật bất chợt vào năm 1973, khi tôi qua Hồng Kông để trở về Trung Hoa. Trên chuyến đi đó, tôi chợt nhận ra rằng dường như lúc nào người ta cũng có chia xẻ một phần của con người mình cho những vùng đất họ đã đi qua. Những hình ảnh họ để lại đã phảng phất hòa nhập vào những vùng đất hoàn toàn khác biệt. Và khi họ nhắm mắt từ giã cõi đời thì tất cả những hình ảnh đó cũng theo họ đi vào một thế giới khác. Ở chiếc ghế trống đối diện, tôi nhìn thấy người em út San San mười bảy tuổi đang trên đường tìm gặp bà thân tôi và hình ảnh bà thân tôi trong suốt ba tháng trường thấp thỏm chờ đón tất cả những chuyến xe lửa từ Trung Hoa đến. Mặt em tôi trông xanh xao vì thiếu ăn, trán dồ ra vì rụng tóc, tay khư khư ôm lấy chiếc bọc vải có cài kim băng. Chúng tôi cùng yên lặng nhìn nhau chẳng khác nào đang lơ lửng trong một khoảng không gian nào đó, khắc khoải mong đợi. Em tôi đang từ bỏ cuộc sống quá khứ ở Trung Hoa để tìm về một đời sống khác cho tương lai, tôi thì đang buông bỏ cuộc sống hiện tại để tìm về quá khứ.

Khi xe lửa bất thần dừng lại ở biên giới gần Lộ Vũ, tôi cảm thấy hồi hộp lạ lùng khi nhìn quanh vào khung cảnh để tìm kiếm -cái gì? Có một tòa nhà lớn với những bình phong lữ thảo cô đơn xếp thành hàng cạnh tường; Lá cờ Anh Quốc treo lững lờ trên cột, lá cờ đỏ treo ở một cột khác; những người Nhật đứng thành hàng; các đàn trâu bò trong các chuồng nhốt di động dẫm chân thở phì phò; những thương gia người Úc mang những túi hành lý đầy những vật liệu quảng cáo để trưng bày ở Hội Chợ Thương Mại Quảng Đông; những du khách trong nước chen lấn nhau để lên xe. Xa xa là bóng một chiếc cầu có mái che và rồi xa hơn nữa tôi lại thấy bóng San San. Em tôi đứng ngay chỗ trạm kiểm soát, nóng lòng đảo mắt nhìn khắp mọi nơi trong khi người lính kiểm soát mặc quần áo kiểu quân đội giải phóng xem xét giấy tờ và cái túi vải nhỏ. Rồi người lính gác hô to: Ho la! Ho la. Em tôi ngẩn người. Người lính thét to hơn. Em tôi vẫn đứng lặng chẳng hiểu anh ta nói gì. Bất thình lình người đàn bà đứng sau em tôi giơ tay đẩy em tôi về phiá trước và nói bằng tiếng Quan Thoại, “Chạy đi, Giời Phật ạ, cô được tự do rồi, chạy đi!”

Tôi chạy thẳng vào tòa bin đinh. Bên trong một người Trung Hoa mặc quần áo quan thuế Anh Quốc xem qua giấy tờ của tôi rồi chuyển tôi cho một cán bộ cộng sản. Anh cán bộ đưa tôi vào một căn phòng nhỏ rồi bảo rằng tôi đang mệt, cứ ở đây mà nghỉ. Tôi chưa kịp trả lời rằng tôi không mệt thì anh ta đã đi mất. Bỗng có tiếng nhạc phát ra từ một chiếc loa phóng thanh nằm khuất ở đâu đó -bài nhạc nghe thoảng như những bài nhạc của những cuốn phim hạng B hay chiếu lúc nhân vật chính ruổi ngựa vào bóng chiều tà. Vì chẳng thể ngồi yên, tôi mở cửa bước ra ban công. Phía dưới đường, một ban nhạc thiếu niên tiền phong đang diễn hành, những cánh tay khua khua trông chẳng khác nào những cánh quạt nước ở kiếng trước xe hơi.

Chẳng hiểu từ đâu anh cán bộ lại tự nhiên xuất hiện. Anh dẫn tôi tới một chiếc bàn tròn trống ngay giữa phòng ăn đang có nhiều người ngoại quốc ngồi thật đông đảo và bảo tôi rằng tôi đang đói và nên dùng chút ít đồ ăn. Tôi chưa kịp trả lời rằng tôi không đói, anh ta đã lại biến đi. Một người Nhật bước vào, nhìn quanh không thấy còn chỗ trống nào khác bèn ngồi xuống chỗ bàn tôi. Chúng tôi cùng dùng bữa trong một bầu không khí yên lặng nặng nề, cả hai đều cố tránh không gắp món ăn cùng lúc ở cùng một dĩa.

Sau bữa ăn căn phòng bỗng dưng lại trống trải, tôi ngồi đó thầm hỏi phải chăng người cán bộ đã thực sự quên tôi? Tôi còn đang thắc mắc thì người cán bộ lại xuất hiện và lần này anh ta dẫn tôi tới ga xe lửa. Trên xe, ghế ngồi được trải ga trắng toát. Xung quanh xe, những bức màn trong, những tấm thảm và những bức màn cửa đều trắng tinh. Ngoài ra trong khoang còn có cả hoa tươi và các cô chiêu đãi đang niềm nở rót trà. Ngồi đối diện với tôi là một người Quảng Đông nước da nâu như màu thuốc lá phơi khô, mặc quần áo kiểu bác Mao. Chúng tôi vừa ra hiệu, vừa hò hét để cố hiểu nhau. Người bạn đồng hành của tôi nguyên làm nghề quản lý đường rầy xe lửa. Vì vừa mới trúng mối và bán được một lúc bốn xe trâu, anh đang hết sức vui mừng. Những con trâu anh bán mới bán được đã quá già, không đủ sức để làm việc đồng áng mà nếu làm thịt thì lại quá dai. May thay, anh lại tìm cách bán được cho các thương gia ở Hồng Kông bằng một giá cắt cổ.

Vì cố gắng nói chuyện với người bạn đường, tôi cảm thấy xe đi qua những vùng đồng bằng thật chóng. Sự thân thiện của anh quản lý khiến tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi thầm kết luận có lẽ tất cả những người lạ khác cũng sẽ thân thiện như thế. Nhưng người cán bộ tôi gặp ở Quảng Đông lại cũng lạnh lùng chẳng khác nào người cán bộ tôi gặp lúc trước. Tôi cố gắng đùa bằng cách kể chuyện hoạt kê. Tôi kể rằng lúc tôi lên xe người tài xế đã cố gắng nhét cái bao hành lý to lớn của tôi vào phiá sau. Thấy anh ta hì hục, tôi bảo: Thôi thì cứ để cái “thi thể” đó ngay cạnh tôi cũng được rồi. Vẻ kinh hoàng trên mặt người cán bộ khiến tôi tự mắng thầm mình từ đây về sau không bao giờ nên nói những chuyện bông đùa kiểu này nữa.

Cuối cùng chúng tôi lên đường. Khi xe chạy qua thành phố, tôi cảm thấy chẳng khác nào mình đang được đưa vào một phim trường đang dựng phim Á Đông trong những năm 1930. Xung quanh đường phố là cảnh những đứa bé thiếu quần thiếu áo đùa nghịch trong những ngõ hẻm, cảnh những người đàn bà đang phơi quần áo và nhặt lúa ngoài đồng, cảnh những người buôn bán đang đẩy xe, cảnh những người bán rau, cá tươi, cảnh xe hàng chở đầy thịt phía trong, cảnh những đứa bé gái đang tay trong tay rảo xem hàng, những đứa bé trai đầu tóc bù xù đang chơi cờ, cảnh trẻ em mang khăn quàng đỏ và những binh lính đeo sao đỏ đứng xếp hàng chờ mua kem, cảnh những đám đông đang chen lấn dành nhau đọc bích chương trên tường, cảnh những cụ già ngồi trên ghế thấp trước cửa ra vào ăn cơm. Trên khắp các nẻo đường chỗ nào cũng đầy người lũ lượt, gần như người nào cũng mặc quần áo py-ja-ma màu xanh hoặc màu xám. Trông họ chẳng có vẻ gì vội vã, họ đạp xe hoặc đi bộ thật thản nhiên chẳng chú ý gì đến chiếc xe chở chúng tôi, trong khi đó thì tài xế cứ đi được vài thước lại phải bóp còi dọn đường. Gần như ở ngã tư nào cũng có những bảng bích chương lớn nhắc nhở việc phải giải phóng Đài Loan xen lẫn với lời chúc tụng bác Mao sống mãi để đánh đuổi những kẻ thù của xã hội chủ nghĩa.

Khi chúng tôi đến khách sạn, tôi là người khách duy nhất. Lại một lần nữa tôi được cho lệnh nghỉ ngơi. Đúng 5g:55 tối, người cán bộ gõ cửa. Anh ta đến dẫn tôi đi ăn tối. Phòng ăn kích thước trông vào độ kích thước của một chiếc sân bóng rổ. Tôi là người khách duy nhất. Tôi chưa kịp nhìn thực đơn thì một người bồi bàn đã yên lặng mang cho tôi món heo quay, nước chấm mù tạt, và canh bí. Tôi thở dài và ăn như thể đang làm tròn bổn phận. Trên bức tường chỗ ăn có một bức tranh cao khoảng 5 mét vẽ hình Mao Trạch Đông. Hình họa lại Mao Trạch Đông giữa lúc thiếu thời, đang mặc trường bào, đứng trên đỉnh núi xanh. Tôi tự nhắc thầm từ giờ về sau phải nhớ đem theo một quyển sách để đọc trong khi dùng bữa.

Chẳng hiểu vì lý do gì đó mà cuộc đoàn tụ của tôi với những họ hàng ở Thượng Hải cứ phải nán lại hết giai đoạn này đến giai đoạn khác và thời gian phải chờ đợi thêm lần nào cũng xấp xỉ 10 ngày. Trong khi đó thì ở bất cứ nơi nào tôi đi qua cũng có cả trăm người bao quanh nhìn tôi chòng chọc. Tôi cố cười, cố nheo mắt, cố làm đủ mọi cách mà vẫn chẳng thể nào thay đổi được thái độ của họ. Họ cứ tiếp tục bu quanh ở các ngả đường, ở những nơi chùa chiền, công viên, bảo tàng viện và các nơi cửa hiệu mà người cán bộ đưa tôi đi. Tuy tôi đã cố gắng làm lơ mà sự hiện diện của họ vẫn cứ như đập vào mắt. Tôi chẳng thể quên được sự hiện diện của họ vào những ngày đầu mà cũng chẳng thể quên được sự hiện diện của họ vào những ngày cuối trong suốt khoảng thời gian sáu tuần tôi ở đó.

Tôi cứ cố gợi lại tất cả những cảm giác tôi hy vọng mình sẽ cảm thấy khi trở về Trung Hoa. Tôi muốn so sánh cảm giác đặc biệt của một người dân xa xứ hồi hương để so sánh với cảm giác khác biệt của tôi lúc sống ở Hoa Kỳ như một người dân thiểu số. Có lẽ điều khiến tôi khó chịu chính là sự cố gắng đó chứ chẳng phải sự hiếu kỳ của đám đông. Cũng có thể chính vấn đề phải tiếp xúc liên tục với các văn phòng hành chánh của Cộng Sản từ sáng đến tối đã làm tôi mệt mỏi. Tự dưng tôi lại nhớ Hoa Kỳ.

Thế mà lạ thay, lúc này khi viết tôi lại thấy nhớ Trung Hoa. Cuộc sống ở Trung Hoa thật là vất vả, nhưng nhờ đó mà mọi việc gần như đều có tính cách quan trọng; ngay cả những việc tầm thường nhất của một người dân bản xứ ở Trung Hoa cũng mang một ý nghĩa đặc biệt mà ở bên ngoài, ý nghĩa đó lại tự nhiên mất hẳn. Có lẽ cũng chính vì điều này mà nhiều người Trung Hoa đã hy sinh tất cả những phương tiện vật chất, hy sinh tất cả danh vọng và hy sinh đến ngay cả tự do để trở về Trung Hoa. Họ quay về để tìm lại một mối thông cảm huyền bí nào đó từ tổ tiên, để tìm lại một mối thông cảm mà họ chẳng thể nào tìm được trên đất khách.

Điểm chính khiến tôi khác với những người Trung Hoa khác là điểm nào? Thứ nhất, tôi tự tin vào khả năng của mình. Thứ hai, tôi đam mê công việc.

Đây không phải là những tính nết bẩm sinh. Sự thực có lẽ còn hoàn toàn trái ngược. Tôi sinh vào giữa thập niên 1950 trong một gia đình đặc biệt với quá khứ chính trị cực kỳ đen tối. Ông nội tôi là người Trung Hoa đầu tiên tốt nghiệp ngành luật ở Đại Học Đông Kinh. Tất cả những người Trung Hoa thời đó, bất kể Cộng Sản hay Quốc Dân Đảng đều cho rằng ông tôi là kẻ phản quốc. Sau khi Nhật chiếm Mãn Châu, đổi tên Mãn Châu thành Mãn Châu Quốc và đưa Phổ Nghi lên làm vua bù nhìn thì họ cử ông tôi làm bộ trưởng Luật Pháp. Đây đích thực là một văn phòng bù nhìn vì tất cả luật lệ đều do chính người Nhật đưa ra và thực thi. Chẳng bao lâu sau, ông nội tôi bị thất sủng và chuyển về sống ở Đông Kinh. Ông kinh doanh ở Đông Kinh, làm ăn rất phát tài và dành dụm được rất nhiều của cải, tiền bạc.

Khi Đệ Nhị thế chiến chấm dứt, vì yêu nước ông lại cùng gia đình trở về Trung Hoa. Con ông lúc đó đang độ thiếu niên. Ngoài những người trong gia đình ông ra, lúc đó còn có một cô công chúa của triều đình Phổ Nghi. Cô thà đi làm công để giữ tròn danh dự gia tộc chứ không chịu ở lại với triều đình Phổ Nghi. Cô công chúa là một người đặc biệt. Cô là người có nhan sắc và có can đảm chấp nhận đời sống. Bất kể cuộc sống có cay cực đến đâu lúc nào cô cũng giữ được nụ cười trên môi. Tuy rằng cô lớn hơn người con trai độc nhất của ông nội những tám tuổi và không có căn bản học vấn gì nhiều, ông nội vẫn dàn xếp cho con trai ông với cô thành duyên gia thất.

Ngày cộng sản giải phóng Bắc Kinh, ông nội tôi hiến tất cả sản nghiệp cho chính phủ mới, kể cả khu biệt thự khang trang có tường bao khắp xung quanh của giòng họ; gia đình tôi tiếp tục trú ngụ trong một căn nhà nhỏ và vẫn phải trả tiền mướn. Vài năm sau, chỉ một thời gian ngắn trước khi tôi chào đời thì ông nội mất.

Vào năm 1958, ông thân tôi bị buộc tội phản động vì những câu phát biểu mà nhà cầm quyền đã gán cho ông. Chúng tôi chẳng còn gì quý giá để cầm và lương của ông thân tôi lúc đó chỉ còn khoảng 50 xu mỗi tháng, nên chúng tôi bị buộc phải dọn vào một chỗ ở thuê; mẹ tôi phải đi làm công thêm cho những gia đình khá giả.

Ông thân dạy chúng tôi cách tránh tất cả các vấn đề phức tạp, và không bao giờ để ai chú ý gì đến mình. Bà thân dạy chúng tôi chấp nhận những sự ác độc của cuộc đời sao cho thanh thản.

Tất nhiên khi cuộc Cách Mạng Văn Hóa khởi đầu thì gia đình chúng tôi trở thành mục tiêu chính. Vệ Binh Đỏ bắt chúng tôi quỳ và đánh tất cả gia đình chúng tôi. Gia đình chúng tôi bị đánh đập chẳng những chỉ vì quá khứ chính trị đen tối mà còn bị gán thêm tội cố tình dấu diếm vũ khí. Trong lúc cả gia đình bị đánh đập, tôi cố giải thích lý do tôi nhặt được những vỏ đạn. Tôi nói rằng gần như đứa bé nào trong xóm cũng nhặt những vỏ đạn đó như tôi ở những đống rác của một xưởng sản xuất vỏ đạn gần đó. Chẳng có viên đạn nào có thuốc. Chẳng có viên đạn nào có đầu. Tôi khẩn khoản van nài họ đi vào những nhà khác trong xóm để tìm hiểu cho rõ thêm. Nghe xong, họ còn đánh tôi dữ hơn. Trước khi rời nhà chúng tôi, họ niêm phong lại tất cả những tủ quần áo và dọa rằng khi trở về, nếu có bất kỳ tờ niêm phong nào bị xé thì chúng tôi sẽ không tránh khỏi những hậu hoạn nặng nề.

Ông thân tôi bị gửi về miền quê lao động để cải cách. Anh Cả tôi bị lên án 13 năm tù vì nói xấu Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Lâm Bưu. Khi thấy anh cả mình bị bắt, anh hai tôi gần như dở dại. anh hai tôi biết rõ rằng chẳng có thanh niên 17 tuổi nào có thể dám phạm một lỗi lầm như thế chứ đừng nói đến một thanh niên nguyên là cháu của một kẻ phản quốc và con của một người phản động. Lúc đầu anh hai tôi chỉ còn biết dùng những những bài hát ca tụng Mao chủ tịch để làm vỏ che thân. Ít lâu sau, anh chỉ toàn nói đến những điều bác Mao dạy. Trên xe buýt, lúc nào anh cũng là người đầu tiên hát mở màn bài “Đông Phương Hồng.” Chị tôi bị gửi về các miền biên giới để học tập thêm với nông dân. Bà thân tôi mất việc và phải kiếm không biết bao nhiêu tháng trường mới tìm được một cựu chiến binh vạn lý trường chinh với quá khứ hoàn toàn trong sạch thương tình mướn vào nhà làm công.

Gia đình tôi do vậy chỉ còn lại bà ngoại, anh hai và tôi. Quãng đời thơ ấu của tôi kết thúc năm tôi 10 tuổi. Chẳng bao lâu sau, anh hai tôi phát chứng rồ càng ngày càng nặng. Đã không biết bao nhiêu lần tôi ước rằng mình có thể quên đi cảnh phải kéo tay một người lạ vừa cao, vừa ăn mặc sốc sếch miệng ca hát vu vơ qua đường phố để đến dưỡng trí viện. Tôi phải kéo anh tôi qua những con đường chật hẹp, lên cầu thang, qua cửa dưỡng trí viện; tôi còn nhớ rất rõ cảnh tôi run rẩy lúc phải điền đơn nhập viện cho anh. Lúc đó lòng tôi thấp thỏm không cùng chỉ lo họ sẽ không cho anh tôi nhập viện vì quá khứ phản động của gia đình. Tôi chẳng còn cách gì khác ngoài cách nói láo vì nếu khai thật thì chắc chắn anh tôi chẳng thể nào được phép nhập viện.

Mỗi tuần tôi đến thăm anh tôi hai lần. Mỗi lần tôi lại cố xén đi một hai xu từ 20 đồng lương mỗi tháng để mua kẹo cho anh. Lần nào anh tôi cũng giựt thẳng kẹo từ tay tôi rồi quay phắt đi ra khỏi phòng chẳng nói chẳng rằng.

Cuối cùng, năm 16 tuổi, tôi tìm được một chỗ làm việc chịu mướn tôi. Đây là một cơ xưởng nhỏ của xã do những phụ nữ lớn tuổi thiết lập trong phong trào đại Nhảy Vọt, lúc này đang làm kẽm gai cho các đội quân Việt Cộng dùng trong cuộc chiến chống Hoa Kỳ. Tôi tận lực làm việc. Tổng số kẽm gai tôi làm trong thời gian ở đây có lẽ đủ để quấn đến hai lần vòng chu vi trái đất.

Những cách cấu trúc cơ động của máy móc khiến tôi đam mê. Sự đam mê này một phần có lẽ là do các bộ phận máy hoàn toàn khác hẳn những biến cố vượt ngoài tầm với mà tôi đã gặp phải trong đời sống. Với máy móc, tôi có thể tháo gỡ để tìm hiểu từng phần và hiểu rõ nguyên nhân nào đã khiến máy không hoạt động như ý và tìm cách mò mẫm, tự học để sửa chữa. Sự khéo léo của tôi làm những người thợ sửa máy ngạc nhiên và quý mến tôi. Gần như chẳng người thợ nào để tâm đến quá khứ chính trị của tôi. Giữa chúng tôi chẳng hề có bất kỳ sự mâu thuẫn giai cấp nào.

Khi cuộc cách mạng văn hóa kết thúc và gia đình tôi được phục hồi cương vị cũ qua những chính sách của Đặng Tiểu Bình thì tôi tìm được một việc thợ máy trong một xưởng vải. Nơi đây, tôi bắt đầu tìm tòi tất cả những máy móc tôi có dịp mó tay vào, kể cả những máy móc trong bộ phận mô-tơ. Tôi hết sức mãn nguyện với cuộc sống của một người thợ máy, lãnh lương đều đặn, mò mẫm, cặm cụi và cảm thấy sung sướng vì mình được đối xử giống hệt như những người khác. Tuy thế, năm tôi 27 tuổi lại có nhiều chuyện khác xảy đến khiến tôi phải kết luận rằng một cuộc sống như thế chưa đủ.

Một hôm, người thủ trưởng xí nghiệp mới cho tôi xem một cái máy đặc biệt bị hỏng. Nguyên cái máy được nhập cảng của Đức, trị giá cả hàng trăm ngàn đang bị bỏ xó mặc cho rỉ sét vì chẳng ai biết xử dụng ra sao. Người thủ trưởng xí nghiệp hỏi tôi liệu tôi có thể sửa được cái máy hay không? Tôi thú thực rằng tôi chẳng thể sửa được và cũng chưa hề thấy cái máy này bao giờ. Rắc rối hơn nữa là chẳng có tài liệu nào chỉ cách sử dụng hoặc mô tả cách cấu trúc các bộ phận của máy. Người thủ trưởng xí nghiệp bảo tôi: “Anh cố gắng sửa thử xem được không? Nếu được tôi sẽ thưởng anh 60 quan.” Gia đình tôi đang hết sức túng thiếu, món tiền thưởng thật là hấp dẫn và tôi bắt tay vào việc cùng với sự hồi hộp thôi thúc.

Tôi cho lệnh chuyển bộ máy vào một căn phòng trống lớn. Sau đó tôi giăng kẽm gai xung quanh và làm một cái cổng có khóa để tránh những người khác khỏi tò mò táy máy. Chỉ có mình tôi được phép ra vào căn phòng chứa máy.

Chẳng bao lâu sau tôi nhận rõ được rằng người mua máy thật chẳng hiểu gì khi đặt mua. Chiếc máy nguyên gồm có hai bộ phận khác biệt, và anh ta đặt mua hai bộ phận giống hệt nhau thay vì một bộ phận này và một bộ phận kia. Tôi báo cáo với người trưởng xí nghiệp. Trông anh thất vọng ra mặt. Tất cả ngoại tệ đã được dùng vào việc mua máy và xí nghiệp chẳng thể có đủ tiền để mua ngay được những loại máy đắt như thế nữa. Lúc này vì đã quá đam mê với các cấu trúc kỹ thuật của cái máy, tôi tình nguyện tìm cách để chế tạo bộ phận thiếu sót.

Tôi khổ công miệt mài vẽ lại sơ đồ kiến trúc của toàn thể bộ phận máy và rồi cố tưởng tượng ra phần cấu trúc của bộ phận thiếu sót. Tôi làm việc bất kể giờ giấc mỗi đêm cho đến khi mắt tôi chẳng còn mở thêm được một giây nào nữa, càng ngày tôi càng tự tin rằng công trình thiết kế của tôi hoàn chỉnh; đã đến lúc cuộc thử thách bắt đầu.

Công trình thiết kế và xây dựng tốn mất cả năm. Tôi chẳng còn tâm trí đâu để để ý đến bất cứ vấn đề gì khác. Ngay cả trong giấc mơ tôi cũng mơ đến những cấu trúc của cái máy. Chẳng bao lâu sau tôi đã thuộc lòng sơ đồ cấu trúc rành rọt đến từng con ốc trở đi. Cho đến khi công trình thiết kế bộ phận thiếu sót hoàn thành, tôi tin chắc cái máy sẽ hoạt động như ý. Quả nhiên sự dự đoán của tôi đúng hoàn toàn.

Sau khi cái máy đã hoạt động như ý được một tuần, tôi tìm đến người trưởng xí nghiệp để hỏi về khoản 60 quan tiền thưởng, nhưng trước khi tôi có dịp nhắc nhở anh ta về vấn đề thưởng thì anh thông báo rằng anh đã mời được hai chuyên viên từ Thượng Hải về để sửa máy. Chuyên viên? Sửa máy? Máy có gì hư đâu mà sửa? Anh ta đang mưu toan chuyện gì vậy? Tôi lập tức chạy ra khỏi văn phòng anh ta để hủy bỏ sơ đồ thiết kế. Những sơ đồ thiết kế đó là công trình của một người duy nhất là tôi. Xí nghiệp đã trả lương cho tôi và giờ đây số tiền trả đó được đền bù bằng một chiếc máy hoạt động như ý nhưng chẳng ai có thể cướp đi công trình sáng tạo của tôi. Ai là người đã gửi tôi đến trường để học hỏi kỹ thuật? Ai là người đã chu cấp sách vở cho tôi tìm tòi? Ai là người đã bỏ công bỏ của để tôi có thể xuất ngoại học hỏi kinh nghiệm ở những cơ xưởng Đức? Ai đã giúp đỡ hoặc cộng tác với tôi trong suốt những năm tháng tôi miệt mài học hỏi? Chẳng có thằng khốn nạn nào cả trừ tôi!

Khi hai người chuyên viên cùng những người tò mò làm việc ở cùng xí nghiệp đến để xem xét máy, tôi đã sửa soạn trước để đối đáp với họ. Người chuyên viên đứng tuổi hơn hỏi tôi máy bị hỏng ra sao? Tôi vặn máy cho rồ ở mức tối đa rồi hỏi họ tự tìm xem máy có chỗ nào cần sửa? Hai chuyên viên nhìn nhau lộ vẻ bối rối. Người trẻ hơn nói rằng dường như chẳng có vấn đề gì cần sửa cả. Người đứng tuổi hơn ra hiệu cho người trẻ tuổi đi theo sau vào chỗ tôi sửa chữa máy móc. Trong khi đó đám đông tiếp tục quan sát, xì xào vì những biến cố sắp xảy ra. Tôi nhìn đồng hồ. Đúng 22 phút sau hai người chuyên gia bước ra. Họ không hề đụng đến một con ốc.

Anh thủ trưởng xí nghiệp đến nơi và yêu cầu họ báo cáo. Người chuyên viên đứng tuổi hỏi rằng anh ta lấy tư cách nào để thẩm định công trình của tôi. Anh trưởng xí nghiệp lặng người. Cả hai chuyên gia bắt tay tôi với ánh mắt ngưỡng mộ. Họ bảo rằng tuy họ đã có 50 năm kinh nghiệm nhưng họ vẫn cho rằng nếu họ được học hỏi với tôi thì là một sự vinh dự cho họ.

Tuy thế anh thủ trưởng xí nghiệp vẫn không chịu trả tôi 60 quan như đã hứa. Tôi tuyên bố nghỉ việc. Anh ta hầm hè giận dữ: “Chưa có nhân viên nào tự ý thôi việc từ trước đến nay.” Tôi quạt lại: “Tốt, nếu vậy tôi là người đầu tiên!”

Khi rời bỏ xí nghiệp để tìm việc, tôi cảm thấy tôi đã có đủ khả năng để ngẩng mặt với đời. Vấn đề tôi không có tiền trong trương mục tiết kiệm, gia đình tôi hoàn toàn trông chờ vào số lương của tôi, chẳng ai hiểu nổi tại sao tôi có thể nghỉ việc, nhất là một công việc tôi đam mê, trong khi họ vẫn làm việc mà lại phải làm những việc họ không thích, chẳng ai hiểu nổi tại sao tôi không thể chịu đựng một chuyện bất bình nhỏ nhoi như thế trong khi nhiều người khác tuy gặp phải những chuyện bất bình lớn hơn vẫn có thể chịu đựng được. Từ ngày đó, tôi không còn nghi ngờ gì về khả năng của mình và tôi tin chắc rằng tôi sẽ được trả lương xứng đáng ở một công xưởng khác.

Đầu tiên tôi làm ca đêm, sửa chữa xe cộ ở một xưởng xe. Kể từ ngày tôi vào làm việc, số tiền sửa chữa những bộ phận máy móc của xưởng càng ngày càng giảm. Nhờ vào số tiền thưởng của xưởng xe, sau một năm tôi đã để dành được cả ngàn quan. Sau đó tôi tình nguyện làm cố vấn cho các cán bộ cầm đầu các tổ đan không bán được áo vì thiếu phẩm chất hoặc không đạt đủ chỉ tiêu. Tôi nói rằng họ không phải trả tôi xu nào nếu số lượng bán không tăng, nhưng nếu tôi có thể gia tăng số lượng bán thì họ phải trả tôi năm phần trăm số lượng tăng. Những cán bộ quản lý thật chẳng có gì để mất. Chẳng những thế, nếu tôi tình nguyện giúp họ, họ còn có nhiều thời giờ hơn để tiêu khiển, chè chén, bài bạc và làm chuyện riêng. Tất cả đều vui vẻ giao trách nhiệm cho tôi.

Trong tất cả mọi cơ xưởng, tôi bỏ thì giờ học hỏi tất cả các chi nhánh hoạt động và lựa ra tất cả những người làm việc giỏi nhất. Tôi cho họ làm trưởng nhóm và hứa hẹn sẽ chia cho họ một phần tiền lãi nếu họ giúp tôi tăng gia mức sản xuất. Ai cũng nhận lời tôi và chúng tôi cùng nghĩ đến những phương pháp làm việc sao cho hữu hiệu hơn. Bất cứ khi nào máy hỏng, tôi sửa hoặc chế tạo một bộ máy khác hoàn hảo hơn. Chẳng bao lâu sau tôi đã thâu thập được một số tiền khá lớn.

Tuy thế, vẫn có rất nhiều khó khăn tôi chẳng thể nào giải quyết được nếu không có sự hợp tác của các cán bộ. Tôi báo cáo với một trong những người cán bộ rằng trong cơ xưởng anh ta trông coi mỗi năm số lượng áo bị mất cắp lên đến 2.000. Cơ xưởng của anh gồm khoảng 300 công nhân viên. Tôi bảo rằng sau khi điều tra ở các nơi bán, tôi biết rõ số áo mất cắp được bán ở đâu. Nhưng khi tôi đề nghị điều tra thì anh cán bộ cấm tôi không được điều tra.

Ở một cơ xưởng khác, tôi được biết trong cả một đợt sản xuất, số lượng áo được chuyển đi có cổ đan quá nhỏ, không đủ để bỏ qua đầu con nít. Khi tôi báo cáo với người cán bộ có trách nhiệm kiểm tra phẩm chất của áo, anh ta bảo rằng tôi nên lo việc riêng của tôi thì hơn.

Trong một cơ xưởng khác nữa, công nhân viên lúc nào cũng về sớm hơn nửa tiếng. Người cán bộ cầm đầu lại không chịu áp dụng kỷ luật.

Thế thì làm sao một người không phải đảng viên như tôi có thể đi ngược lại với những đảng viên mà hy vọng thắng cuộc? Họ chẳng có gì để mất và riêng tôi thì lại có rất nhiều.

Sau một năm cố gắng thay đổi thế cờ thất vọng này, tôi quyết định phải tự mình đầu tư và mở hãng riêng. Tôi mời tất cả mọi người, ngay cả những người không tin tưởng chương trình của tôi mấy. Sau khi nhận định được tất cả những sự khó khăn, rất nhiều người bỏ cuộc, nhưng có mười người hết lòng tin tưởng và quyết định liều để thử. Tôi bỏ ra hàng tháng để mượn tiền hầu như tất cả mọi người quen biết. Ngoài ra tôi còn mượn cả tiền của vài người tôi không hề quen biết. Dần dần tôi mượn được một trăm ngàn quan. Chẳng ai nhắc nhở gì đến việc tôi phải trả tiền lời. Có lẽ họ không nghĩ đến vấn đề lấy tiền lời cũng vì đã lớn lên dưới chủ nghĩa Mao và được dạy rằng cho vay ăn lời không phải là một vấn đề đứng đắn.

Tôi dùng số tiền mượn được để mua một số dụng cụ tự động bán phần và vật liệu để làm dù. Tôi cũng thuê thêm một căn hầm tối tăm, không cầu tiêu, không nước, không cửa sổ mà chẳng có ai mướn để làm xưởng chế tạo. Nếu tờ hợp đồng của chúng tôi không ghi rõ một điều khoản đặc biệt thì có lẽ cũng chẳng ai muốn ký hợp đồng với chúng tôi. Chúng tôi ghi rằng nếu số lượng dù không được chuyển đến đúng ngày thì hãng đặt có quyền nhận không số dù họ đặt miễn phí. Tờ hợp đồng đầu tiên cho chúng tôi một tháng để xúc tiến công việc.

Toán 11 người chúng tôi làm việc đến kiệt lực và gần như sống luôn trong căn hầm mặc dầu căn hầm chẳng có giường chiếu gì cả. Chúng tôi chỉ ăn những đồ ăn rẻ nhất như bánh khô và dưa muối. Khi nào kiệt lực chúng tôi cứ nằm thẳng trên sàn nhà mà ngủ. Tất cả đều cùng chịu khổ và chẳng một ai than vãn. Ngược lại, ai nấy đều cảm thấy một niềm vui mà tất cả đều thú nhận là chưa từng cảm thấy từ trước đến nay. Chính niềm vui này đã thúc đẩy chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng làm việc vượt chỉ tiêu của ngày hôm trước.

Chúng tôi hoàn tất số lượng dù đặt vào khoảng hai giờ sáng ngày thứ 30. Để hoàn tất như tờ hợp đồng đã đề ra, toàn thể số lượng dù phải được chuyển đến một nhà kho ở phía bên kia của thành phố trước tám giờ. Tuy trời mưa như trút và sấm sét đùng đùng, chúng tôi vẫn ra sức chất dù lên xe vận tải. Có lẽ trời cũng phải nực cười trước cảnh tượng có những kẻ lưng vai đầy dù dưới mưa mà không chịu mở dù để che như chúng tôi.

Sau khi đã chuyển hết dù lên xe vận tải, chúng tôi mới nhớ ra rằng chúng tôi không có giây thừng để buộc những hộp dù lại để chở đi cho khỏi rớt. Biết tìm đâu cho được giây thừng ở giờ phút đó? Chẳng còn cách nào khác ngoài cách bện giây bằng người. Thế là chúng tôi cùng giang tay nắm lấy tay nhau chẳng khác nào những pho tượng để chắn những thùng dù cho khỏi rớt xuống khi chuyên chở. Chúng tôi vừa đứng cản dù, vừa nguyện cầu cho tài xế đến nơi đúng giờ. Chiếc xe gần như chỉ nhít đi từ chút.

Chúng tôi đến nhà kho để chuyển dù vào lúc năm giờ. Thời gian còn lại chỉ vẻn vẹn ba tiếng, đủ để chúng tôi tắm rửa thay quần áo và quay lại để thâu tiền. Chẳng có ai trong chúng tôi nghĩ đến chuyện ngủ. Chúng tôi vui đến độ quên cả mệt.

Trong năm đầu, tất cả số tiền thâu được chúng tôi dùng để trả tiền vốn, tiền công và tiền mua vật liệu cho những chuyến làm hàng tới. Lúc nào chúng tôi cũng làm được trước thời gian hạn định nhưng lần gửi hàng nào cũng vật vã, hối hả chẳng khác gì lần làm hàng đầu tiên. Dần dà khi nhận thấy tình thế lúc nào cũng căng thẳng, 5 người nữa bỏ cuộc. Số tiền khẩu phần phải trả cho họ khiến số nợ của chúng tôi cao hơn.

Trong khi đó, những người cho tôi mượn tiền cứ đến gõ cửa đòi nợ liên tục. Tôi chẳng có gì để đưa cho họ ngoài những lời hứa hẹn. Đầu tiên họ chỉ đến một mình. Và sau đó họ mang theo vợ và rồi mang cả giòng họ đến để khóc với tôi. Tôi chẳng biết làm gì khác hơn là cùng khóc với họ.

Sau đó, tôi quyết định về miền quê để tìm chỗ đầu tư nơi những cộng đồng nông gia giàu có cư ngụ và kiếm được một hợp đồng với một ngôi làng hợp tác xã nhỏ. Chúng tôi chuyển cơ xưởng về nơi đó vào mùa đông, lúc nhu cầu về dù không còn nhiều. Khi những người nông dân đa nghi thấy chúng tôi không có đủ tiền để mua than sưởi ấm, thấy chúng tôi lúc nào cũng chỉ ăn cải với dưa cà và thấy chúng tôi phải ôm những con chó để ngủ cho ấm, họ cho rằng đầu tư vào cơ xưởng của chúng tôi là một sự đầu tư lầm lạc. Họ cho rằng bất cứ lúc nào chúng tôi cũng có thể ra đi cùng với số tiền đầu tư của họ. Để tránh không cho chúng tôi di chuyển máy móc đi nơi khác, họ chắn cửa ra vào xưởng bằng những chiếc xe vận tải, vì vậy mỗi lần ra vào chúng tôi lại phãi trườn người dưới gầm xe đầy những xăng nhớt và mặt đường lạnh giá. Chúng tôi không nhịn được cười mỗi khi nghĩ đến hoàn cảnh oái oăm của mình. Nhưng không vì thế mà chúng tôi bỏ cuộc. Trái lại những khó khăn đó đã tôi rèn chúng tôi để chúng tôi vượt qua được mọi trở ngại. Và dần dà quả nhiên chúng tôi đã vượt qua được trở ngại.

Ngày nay, cơ xưởng của chúng tôi là một trong những cơ xưởng thành công rực rỡ. Dù của hãng chúng tôi có phẩm chất tốt nhất; hàng đặt của chúng tôi lúc nào cũng đến đúng lúc; nhân viên của chúng tôi lãnh lợi nhuận cao và tinh thần họ cực cao. Chúng tôi là một trong những người mà Đặng Tiểu Bình đã có lần gọi là “giới giàu sang tột đỉnh.”

Chúng tôi chỉ còn một vấn đề duy nhất còn lại. Nếu chúng tôi không phải bị buộc phải làm những việc hối lộ nhơ nhuốc cho cán bộ để được tự do làm ăn thì thật không còn gì bằng! Hối lộ chính là hạt sạn trong bát cơm của tất cả những người trong giới tiểu thương.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"