Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Bạch Khuyển 


Thứ năm ngày 18 tháng 5, 1989. . . Trước lúc rạng đông bí thư đảng Triệu Tử Dương và những đảng viên nòng cốt của trung ương đến thăm những người tuyệt thực ở bệnh viện.

Lại một lần nữa 1 triệu người đổ ra đường để biểu đồng tình với những người tuyệt thực đang được những chuyên viên y tế trong khắp thành phố tình nguyện săn sóc.

Tối đó Lý Bằng đến gặp những lãnh tụ sinh viên ở tòa đại sảnh nhân dân.

Trong lần gặp đầu tiên, câu chuyện giữa tôi và bạn tôi chẳng có gì đặc biệt. Đôi bên chỉ nói với nhau những chuyện xã giao. Tôi còn nhớ trong lần gặp đó, tôi đã ngồi chăm chú nói chuyện với chồng bạn tôi và bạn tôi thì luôn tay xếp dẹp. Bạn tôi hình như không lúc nào ngừng di động. Cứ hết dọn dẹp quanh chỗ lò sưởi lại đến dọn dẹp chỗ bàn ăn nơi chồng bà và tôi đang nói chuyện. Vậy mà lúc về bạn tôi lại tạo cho tôi rất nhiều ấn tượng. Bạn tôi là người đàn bà duy nhất ở Trung Hoa đã thỏa mãn lời yêu cầu đơn giản nhất của tôi mỗi khi tôi nhận lời mời đến thăm gia đình bà. Mỗi lần đến thăm những gia đình Trung Hoa tôi vẫn thường yêu cầu một điều thật đơn giản: “Xin đừng làm tiệc tùng gì cả. Tôi thích ăn cơm dưa muối và đậu hơn là những thứ cao lương mỹ vị khác.” Thay vì tiếp tôi bằng những món lạ như vịt bát trân, bạn tôi đã tiếp tôi bằng một bữa cơm rau thật tươm tất -không cầu kỳ thái quá mà cũng không thanh đạm quá, chỉ vừa đủ.

Lần cuối cùng tôi gặp bạn tôi là lúc bà sắp qua đời. Tôi đã đứng cạnh giường bệnh cầm tay bạn tôi. Tôi tự hỏi chẳng hiểu bạn tôi có biết tôi đang đứng đây không? Bạn tôi cố hết sức lên tiếng. Tôi chẳng hiểu được bạn tôi nói gì nhưng tôi biết là bạn tôi đang cố nói tiếng Anh. Thường thì chúng tôi vẫn nói tiếng Tàu với nhau. Vì sao bạn tôi lại cố nói tiếng Anh trong lúc này? Và rồi tôi chợt hiểu. Đây là cách duy nhất để bạn tôi có thể chứng tỏ là bà đã nhận ra tôi.

Lần gặp gỡ đầu tiên kể đến nay đã tròn ba năm. Trong ba năm đó, tình bạn của chúng tôi đã chuyển thành thân thiết. Khác hẳn những đôi bạn thân khác, chúng tôi gần như chưa bao giờ tâm sự chuyện riêng hoặc đào sâu vào đời tư của nhau. Vậy mà lạ lùng thay những chuyện chúng tôi không nói lại càng khiến cho tình bạn của chúng tôi thêm thân chẳng khác gì những khoảng không gian trống của một bức họa đồ đã làm tăng vẻ nghệ thuật của bức họa đó. Bạn tôi đã thấy rõ tâm tư và con người tôi qua câu chuyện Xuân Nguyệt. Tôi cũng đã hiểu rõ bạn tôi qua cách bạn tôi dịch lại tác phẩm của tôi sang tiếng Trung Hoa.

Trước lúc bạn tôi bắt đầu dịch quyển Xuân Nguyệt, đã có rất nhiều các ấn bản khác. Tất cả những ấn bản đó đều là những ấn bản không có sự đồng ý của tôi dù là trước hoặc sau khi in. Chẳng có ấn bản nào diễn tả trọn vẹn được quyển sách tôi viết. Trong một ấn bản của Đài Loan có nhiều đoạn bị sửa chữa hoàn toàn và nhiều đoạn khác được viết thêm; trong một ấn bản khác gần như tất cả các đoạn nào có thể bị nghi là chỉ trích chính phủ quốc gia và biểu đồng tình với cộng sản đều bị cắt bỏ. Trong số các ấn bản dịch có một bản của nhà xuất bản An Huy ở đại lục được một tiểu ban dịch và cho in sau một thời gian ngắn sau khi chúng tôi đến Bắc Kinh. Chỉ mới trong lời nói đầu của bản dịch đó đã có 101 lỗi sai lầm. Tất cả những lỗi lầm trong ấn bản của nhà xuất bản An Huy hoàn toàn không phải do sự chọn từ của những người dịch, lại càng không phải vì lý do trình bày hoặc nội dung.

Chỉ nội nghĩ đến việc những độc giả Trung Hoa có thể nghĩ rằng đó là tác phẩm tôi đã bỏ trọn sáu năm để viết cũng đủ làm tôi sôi máu giận. Tôi viết cho nhà xuất bản một bức thư dài ba trang, yêu cầu giữ ý tứ bản dịch cho đúng với nội dung nguyên tác. Tôi nói rằng nếu nhà xuất bản An Huy dám đưa bản dịch đó ra thị trường thì tôi thề sẽ mua hết 50,000 quyển sách, rồi mời tất cả những ký giả có tiếng ở Bắc Kinh đến nhà rồi đốt làm lửa trại chào mừng họ.

Nhờ nỗ lực của nhà xuất bản, chuyện đáng tiếc đó không xảy ra. Tất cả những bản dịch của nhà xuất bản An Huy đều bị rút lại. Trước khi một tiểu ban dịch thứ hai có đủ thời giờ đưa ra một bản dịch khó chịu khác, tôi ra tay trước bằng cách chính thức đồng ý một bản dịch khác. Tôi tìm đến bạn tôi để nhờ bạn tôi giúp. Bạn tôi chẳng những đã lưu loát cả hai thứ tiếng Anh, Hoa mà còn có một con mắt nghệ thuật rất đặc biệt.

Khi viết quyển Xuân Nguyệt bằng tiếng Anh, tôi chỉ có thể diễn tả được một phần rất nhỏ những vấn đề chẳng hạn như: Hình tượng và âm điệu của ngôn ngữ Trung Hoa. Sự khác biệt giữa các loại và các ngôn ngữ địa phương, sự biến đổi của cách dùng chữ từ cuối đời nhà Thanh cho đến thời gian hiện tại. Nhưng khi viết bằng tiếng Trung Hoa thì tất cả mọi danh, tất cả mọi tục lệ thảy đều phải đúng với người, với chỗ, với thời điểm. Sự thể thật chẳng khác nào tôi đang soạn một bản nhạc giao hưởng Tây Phương để diễn tả âm điệu nhạc Trung Hoa mà bây giờ chính bản nhạc đó lại được tấu bằng những nhạc cụ Trung Hoa cổ truyền như hồ cầm, tỳ bà, tiêu, và thanh la.

Đã hẳn đây là một vấn đề đòi hỏi rất nhiều công phu. Mỗi khi dịch xong một chương, bạn tôi lại phải chép lại từng chữ rồi thâu vào máy thâu băng để chuyển cho tôi nghe. Cứ mỗi chương như thế, tôi lại nghe ít nhất là ba lần. Lần đầu tôi vừa nghe, vừa đối chiếu với bản tiếng Anh. Sau đó tôi nghe lại bản dịch bằng tiếng Trung Hoa. Cuối cùng tôi nghe thêm một lần thứ chót để được nghe giọng kể của bạn tôi. Mỗi lần dịch xong một chương, chúng tôi lại gặp nhau để bàn luận các câu hỏi hoặc thảo luận các đoạn dịch. Khoảng thời gian chúng tôi gặp nhau thường kéo dài thành nhiều giờ. Chúng tôi phải gặp nhau lâu như thế chẳng phải vì có nhiều đoạn cần thay đổi. Thực sự thì chỉ có vài chỗ cần thay đổi trong mỗi chương. Thời gian thảo luận phải kéo dài như thế chỉ vì tất cả những ẩn nghĩa của câu đối với chúng tôi đều quan trọng. Chúng tôi cùng say mê chọn lựa từng chữ cho thật đúng. Mỗi khi tìm được chữ như ý, chúng tôi hết mực giữ gìn chẳng khác nào hai người đàn bà nghèo trúng độc đắc nâng niu tờ vé số. Chúng tôi cố để dành thì giờ làm việc với nhau. Chúng tôi chỉ tạm ngưng vào những lúc bạn tôi phải về nhà để cho con ngủ.

Có lần, khi chúng tôi đang dịch đoạn nhân vật chính tắm cho đứa con 5 tuổi đã xa cách cô ta từ lúc chào đời, bạn tôi nói nhỏ, “Chính chúng tôi cũng cảm thấy vụng về như thế lần đầu.” Đó là câu nói duy nhất mà bạn tôi có ý ám chỉ những nỗi khốn khó bà phải trải qua trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Ngoại trừ lần đó, chưa bao giờ bạn tôi cho phép tôi hoặc bà quên đi cương vị của tôi như một bà đại sứ.

Tôi chỉ biết về những thảm cảnh của bạn tôi trong giai đoạn cách mạng văn hóa qua câu chuyện của những người khác. Có lần tôi hỏi cậu con bạn tôi xem những năm trong tù có khiến tính tình bạn tôi thay đổi không, cậu ta trả lời: “Mẹ cháu vẫn vui vẻ và đối xử với con cái hệt như trước kia. Chỉ có một điểm khác biệt. Điểm khác biệt đó tuy nhỏ nhưng lại là một điểm thay đổi then chốt. Trước kia, bất kể cháu có nghịch ngợm đến mấy, mẹ cháu cũng không bao giờ mắng cháu. Thế mà sau khi đi tù về, mẹ cháu cần kiệm đến độ nếu cháu vô tình bỏ phí một giọt nước bà cũng quở trách.”

Cho đến ngay cả lúc bạn tôi bị bệnh, tôi cũng chỉ được biết về tình trạng ngặt nghèo của bạn tôi qua một người bạn khác cùng quen cả hai chúng tôi. Dù bạn tôi đã can ngăn người bạn đó không nên làm phiền đến tôi, người bạn đó vẫn nhờ tôi can thiệp. Người bạn đó nhờ tôi chuyển bạn tôi từ nhà thương chuyên trị bệnh xuất huyết sang bệnh viện chuyên trị ung thư cho đúng với căn bệnh của bạn tôi. Lúc đầu nỗ lực của tôi không thành công. Và rồi tôi chợt nhớ đến một vị bác sĩ nói tiếng Anh tôi chỉ mới gặp qua ở chỗ tiếp tân. Vừa nghĩ đến vị bác sĩ, tôi lập tức gọi ông ngay. Rất ít khi tôi gặp được một người đặc biệt như ông. Người ông trông vừa đầy ắp năng lực vừa toát ra một vẻ từ hòa dễ mến. Trước đây, khi chúng tôi nói chuyện về vấn đề Y Khoa ở Trung Hoa, Ông đã chỉ trích thậm tệ nạn phân chuyên khoa một cách cực đoan ở các bệnh viện. Ông nói rằng nếu các bệnh viện cứ tiếp tục phân chuyên khoa theo đà đó thì có lẽ chẳng bao lâu sau nhà thương sẽ có một phân khoa chuyên trị bệnh ở lỗ mũi bên trái và một chuyên khoa khác chuyên trị bệnh ở lỗ mũi bên phải.

Ngay trưa hôm tôi gọi để nhờ vị bác sĩ can thiệp, bạn tôi đã được đưa vào bệnh viện ung thư và kể từ lúc bạn tôi nhập viện, bác sĩ đã chẩn bệnh cho bạn tôi thật kỹ lưỡng. Phòng điều trị cũng tìm khắp thành phố để có thể có đủ máu thay hàng ngày cho bạn tôi.

Trước ngày bạn tôi mất khoảng một tháng, bất cứ lúc nào tôi đến thăm, bạn tôi cũng dành phần lớn thời giờ nói về cuốn sách. Lúc nào bạn tôi cũng than thở, không phải than về chứng bệnh nan y mà than rằng bà chỉ cần thêm một tuần nữa để hoàn thành bản dịch quyển sách. Bạn tôi nhấn mạnh nhiều lần rằng chồng bà sẽ thay bà để hoàn thành quyển sách. Bà cũng đã nhắc nhở nhiều lần rằng tôi không nên để tâm lo lắng.

Vài ngày trước khi bạn tôi mất, tôi có đến thăm và mang theo thức ăn nấu sẵn cho gia đình bạn tôi. Chồng bạn tôi lúc đó đang công tác ở ngoại quốc. Bà cụ thân của bạn tôi, lúc đó đã 90 tuổi ra mở cửa đón tôi. Trông cụ vui mừng như thể đang đón một người đến dự ngày tiệc sinh nhật con cụ. Phải chăng cụ đã quá già và bắt đầu lẫn? Trước khi tôi có thời giờ để giữ cụ lại, cụ đã ra vườn mang ghế vào cho tôi ngồi.

Được một lúc thì con gái bạn tôi bước vào, hai mắt cô ta vẫn còn sưng lên đỏ ngầu vì khóc. Chúng tôi im lặng ôm nhau. Trong khi đó thì bà ngoại cô bé cứ lăng xăng chạy tới chạy lui vui vẻ lo rót nước cho chúng tôi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Giữa lúc cháu gái cụ sụt sùi khóc, thì gương mặt còn phảng phất nét đẹp của cụ trông vẫn bình thản. Cụ ngồi yên như thể hoàn toàn không nghe thấy tiếng khóc của cháu, như thể một người đang để hồn vào chỗ nào khác chứ không để ý gì đến câu chuyện của hai người xa lạ bên cạnh. Tôi tự hỏi phải chăng cụ điếc? Diện tích căn phòng chỉ độ bằng diện tích của một tấm thảm.

Một người bạn khác của gia đình bạn tôi đến thăm rồi nhiều người bạn khác nữa. Có người chỉ ở lại vài phút, có người ở lại cùng dùng bữa tối với chúng tôi. Suốt buổi tối lúc nào chuông điện thoại cũng reo nhưng gần như chẳng có cú điện thoại nào là cú điện thoại chúng tôi đang chờ; con gái bạn tôi cứ lập đi lập lại những câu trả lời như nhau trong khi đứa bé trai ba tuổi, cháu ngoại bạn tôi vẫn vô tư chơi đùa giữa đám quan khách. Chú bé cứ ra vào vùn vụt lúc thì cầm chiếc xe vận tải nhựa, lúc thì cầm những mảnh đồ lắp ráp, lúc thì cầm máy bay. Trong suốt buổi tối, bà cụ cũng thản nhiên chẳng khác gì đứa bé.

Cứ mỗi khi tình thế căng thẳng, tôi lại ôm con gái bạn tôi. Tôi cố nhắc lại những câu chuyện cũ giữa tôi và bạn tôi ngày trước để giúp cả hai chúng tôi quên đi hoàn cảnh hiện tại. Con gái bạn tôi đã hơn một lần nói rằng: “Cho đến ngày mẹ cháu bắt đầu dịch cuốn Xuân Nguyệt mẹ cháu chưa bao giờ có dịp làm những chuyện bà cụ thích. Nhưng trước ngày mẹ cháu bị bệnh, bà cụ đã viết thư cho cháu bảo rằng bà mơ được cùng dịch những tác phẩm của văn hào Shakepeare với ông thân cháu khi ông cụ về hưu.”

Dần dà chẳng hiểu bằng cách nào đó, chúng tôi cũng dùng xong bữa tối. Chuông điện thoại và những khách đến thăm bạn tôi càng ngày càng nhiều. Trong khi những người khác lo dọn bàn chỉ còn mình tôi và bà cụ ở lại trong phòng. Tôi không dám lên tiếng, chỉ đưa tay nắm lấy tay cụ.

Cuối cùng cú điện thoại viễn liên của chồng bạn tôi gọi về. Con gái bạn tôi nói một cách rõ rệt và quyết liệt. “Không, thứ ba không được. . . Phải sớm hơn vậy mới được. . . Anh con bay về ngày mai. . .”

Cô lập đi lập lại câu nói và ít lâu sau cô hạ giọng nhẹ chào bố. Sau khi cúp điện thoại, cô quay sang chúng tôi báo tin: “Ngày mai bố về.” Thình lình có tiếng xe Jeep đồ chơi hú lên và tiếng cười hồn nhiên của đứa bé đang chơi vang dội khắp phòng. Tiếng vọng bất nhẫn cứ vang lên mãi.

Tôi không còn thấy bà cụ đâu nữa.

Một lúc sau tôi thấy cụ đang đi qua sân sau và tưởng rằng cụ đang sửa soạn đi nghỉ.

Nhưng sau đó tôi lại thấy cụ đi ngược lại. Có lẽ cụ đã đi như thế đến cả chục vòng. Lại một lần nữa tôi nghi ngờ cụ không già và lẫn như tôi nghĩ.

“Bà ngoại biết rõ mọi chuyện phải không cháu?”

“Cho đến hôm nay, mọi người vẫn bảo cụ là chẳng có gì đáng quan tâm. Cả nhà vẫn có ý dấu cụ. Nhưng đã gần đến giây phút chót, cháu không thể dấu cụ được nữa. Trước lúc cô đến cháu đã thu hết can đảm để nói thật với cụ. . .”

Tôi nhớ lại cách chào đón vui vẻ của cụ và rồi chợt hiểu được nguồn khích lệ khác thường của bạn tôi đã tìm được sự khích lệ từ đâu.

“. . . Cháu bảo bà ngoại rằng bà ngoại phải can đảm, đừng để nỗi buồn làm bận tâm và vào lúc này cả nhà chẳng thể nào lo buồn vì bất cứ chuyện gì khác được nữa.”

Khi chúng tôi lên đường đến nhà thương, bà lão ôm tôi và nói nhỏ cho riêng tôi nghe, “Thật trời đất ác không lúc nào bằng lúc bắt một bà lão bạc đầu phải chôn đứa con tóc hãy còn xanh.”

Mỗi lần người ta thì thầm, “Coi chừng Bạch Khuyển,” họ có ý chỉ tôi, một thành viên của hội đoàn bác sĩ. Với tư cách là bác sĩ, tôi rùng mình vì nhục nhã. Với tư cách là người Trung Hoa, tôi thông cảm với những cảm nghĩ phổ thông loại này.

Ngày nay tất cả những bệnh nhân đến khám đều phải mang theo quà tặng. Tội nghiệp thay cho những bệnh nhân không biết rõ điều luật này, vì rằng chắc chắn sẽ có lúc những bộ máy tiếp dưỡng khí của họ bị rút công tắc, những thuốc chích cho họ là những loại thuốc pha trộn, những thuốc uống hàng ngày của họ không được chuyển đến, quần áo của họ không được thay và thời khóa biểu giải phẫu của họ bị hoãn lại vô định kỳ. Tệ hơn nữa là những người thân của họ chỉ biết rõ khi mọi sự đã trở nên quá trễ.

Căn bệnh kinh tởm này mới chỉ bắt đầu vài năm trước, nhưng lại giờ đây lại phổ thông đến độ chính những vị bác sĩ giải phẫu cũng lo chẳng hiểu nhỡ chính họ cần giải phẫu thì họ có tránh được trường hợp đó không? Và ngay cả những người có đủ tiền bạc để lo liệu cũng chưa chắc đã được thuốc thang cẩn thận. Bệnh nhân phải biết khôn ngoan. Vì rằng chẳng ai có thể đưa thẳng tiền được nên bệnh nhân phải diễn xuất một màn kịch câm để dấu cả những người ăn tiền lẫn số tiền đút lót. Một trong những cách thường dùng là để cho bệnh nhân trả một số tiền thật lớn cho ban điều hành săn sóc để “đền bù những bữa họ phải bỏ cơm săn sóc bệnh nhân.” Một cách khác nữa là mua những thứ chỉ tình cờ có bán ở bệnh viện với một giá cắt cổ. Qua nhiều lần hết mực từ chối, một khi món quà tặng “khiêm tốn” của bệnh nhân được nhận thì người nhận quay lại ngay chỗ bán để đổi lấy tiền. Và những quà tặng trả về lại được những bệnh nhân khác “mua” trở lại để tỏ lòng biết ơn đối với những dịch vụ mà nhà nước hứa và trả bằng tiền thuế của nhân dân, nhưng lại chưa thực thi.

Tiêu chuẩn đạo đức của Ngành Y sao lại suy vi đến độ này?

Tôi là sản phẩm của một trường đạo Hoa Kỳ ủng hộ Hồng Quân. Chúng tôi ủng hộ Hồng Quân là vì những quân nhân Hồng Quân thật khác hẳn các quân nhân Quốc Dân Đảng. Họ không dùng bạo lực để thủ lợi mà dùng sức mạnh để xây dựng một xã hội mới trong sạch và lý tưởng. Đã có lần sinh viên phải quyên tiền mua súng để bảo vệ trường học khỏi bị cướp phá. Sau ngày giải phóng họ không còn phải làm thế vì Cộng Sản đã đem lại hòa bình.

Đầu tiên thì những lý tưởng cộng sản không mâu thuẫn với đạo thiên chúa của tôi. Họ không hề bắt tôi phải bỏ đạo mà cũng không cấm tôi chữa trị cho những quân nhân bị thương của Quốc Dân Đảng. Sự tham gia của tôi vào các đoàn thể chính trị của họ được hoan nghênh hoàn toàn.

Trong chiến tranh lục địa Đại Hàn, khi Hoa Kỳ đã trở thành kẻ thù của Trung Hoa tôi vẫn bị những ấn tượng tốt về Hoa Kỳ ám ảnh. Hình ảnh những người lính Hoa Kỳ giúp chúng tôi chống Nhật đối với tôi cũng giống như hình ảnh của những đứa bé tốt nay đã lớn quá tuổi. Tôi vẫn nhớ cảnh những người lính Hoa Kỳ đã kéo xe chở chúng tôi chạy qua lại trên đường phố, cho chúng tôi thuốc lá và dùng những chiếc mũ sắt để che gió mỗi khi họ đứng gác lúc máy bay dội bom. Tôi vẫn nhớ cảnh họ cho kẹo trẻ em nhưng không cho kẹo sinh-gôm vì sợ các em nuốt. Nhưng khi Đảng thông báo với cả nước rằng quân Hoa Kỳ định vượt sông Áp Lục để tấn công Trung Hoa, tôi tin rằng tin tức này hoàn toàn xác thực.

Chỉ khi đảng công khai bắt chúng tôi phải chỉ trích các giáo sư tôi mới thật tình không hiểu nên phản ứng ra sao. Những giáo sư dạy tôi đã cho tôi một món quà tặng vô giá: kiến thức y khoa, phương pháp chữa lành các căn bệnh. Làm sao tôi có thể chỉ trích họ về điểm đó. Quả họ có liên hệ gần gũi với những công dân của đế quốc tư bản nhưng tôi thật không thể thấy có bất kỳ sự liên hệ nào giữa hai vấn đề tư bản và y khoa. Đúng ra thì chính các vị thày đã dạy tôi cách phụng sự nhân loại. Nhưng lòng thành kính đối với đảng đã dập tắt sự lý luận của tôi. Tôi kết luận rằng những sự chỉ trích của đảng dĩ nhiên là đúng và có lẽ kiến thức của tôi vẫn còn thiếu sót.

Tuy thế, đây lại chẳng phải là một kết luận thực tế có thể giúp tôi phát biểu cảm tưởng trong những buổi họp chính trị. Tôi chẳng thể đặt chuyện để chỉ trích mà cũng không muốn vi phạm luật lệ. Cuối cùng tôi tìm được một giải pháp: Tự làm cho mình mắc một chứng bệnh hay lây rồi nại vào cớ đó để trốn tham gia các cuộc họp.

Sau khi bình phục, tôi tránh xa tất cả các hoạt động chính trị và nhất loạt từ bỏ tất cả những thú tiêu khiển kể từ thể thao cho đến âm nhạc, từ săn bắn cho đến quan sát các thiên thể. Tôi để hết tâm trí vào vấn đề y khoa. Những tháng sau đó, trong khi toàn thể ban quản trị còn đang lo việc điều tra những thành phần phản động thì tất cả những học viên chuyên ngành đã tốt nghiệp như chúng tôi phải cật lực làm việc để trông coi toàn thể bệnh viện. Tất cả chúng tôi làm việc gần như cả ngày lẫn đêm. Cứ hết giải phẫu lại đến trị các chứng bệnh chuyên môn. Chúng tôi ai cũng là bác sĩ chuyên khoa, kiêm bác sĩ toàn khoa, kiêm y tá, kiêm phụ tá, kiêm thư ký. Chúng ai chẳng còn thì giờ để suy nghĩ hay nghi ngờ. Nếu chúng tôi không làm thì việc chắc chắn sẽ chất đống.

Cũng trong thời gian này, rất nhiều các bạn bè tôi đã phạm phải lỗi lầm khi thật lòng hưởng ứng những yêu cầu sửa sai của đảng. Trong tinh thần đó, họ đã đề nghị những phương pháp cải cách cụ thể. Cuối cùng họ bị lên án là phản động chẳng qua chỉ vì họ thực lòng ủng hộ phong trào cải cách. Tôi thề sẽ không bao giờ phát biểu những điều tôi nghĩ. Để tránh cám dỗ, tôi không còn nhận lời đến nhà ai mà cũng chẳng bao giờ mời ai đến thăm. Tôi không hề viết thư. Tôi chỉ nói chuyện với người khác mỗi khi cần nói. Ngay cả trước mặt con cái, vợ chồng tôi cũng cẩn thận từng lời nói. Chúng tôi chỉ nói những chuyện thật an toàn hoặc khen ngợi sự lãnh đạo cực kỳ sáng suốt của đảng. Chúng tôi chỉ chia xẻ những sự suy nghĩ của chúng tôi riêng với nhau và với Thượng Đế.

Tôi chỉ cho phép mình tìm vui trong những lúc giải phẫu. Thời khóa biểu giải phẫu của tôi nhiều hơn tất cả mọi người. Tôi dành dụm tất cả tiền bạc để có đủ tiền mua báo y khoa và tìm hiểu thêm những công trình nghiên cứu hiện đại mới của Y Khoa. Sách nào quá đắt không thể mua nổi, tôi tìm cách hỏi xin các đồng nghiệp ngoại quốc. Thư viện của tôi đầy đủ đến mức gần như có thể dùng làm thư viện của bệnh viện. Năm nào tôi cũng được bầu làm bác sĩ kiểu mẫu.

Làm sao một người như tôi lúc nào cũng cẩn thận, lúc nào cũng đề phòng lại có thể thấy trước được những gì được hoan hô hôm nay có thể sẽ bị đả đảo ngày mai?

Thời khóa biểu làm việc của tôi chứng tỏ sự tận tụy quên mình của một bác sĩ đối với bệnh nhân, nhưng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa thì những thời khóa biểu đó lại là những chứng cớ điển hình tố cáo sự ích kỷ và háo danh của tôi. Tôi bị kết án: “Chỉ biết lo mang gánh nặng mà không biết nhận thức đường lối.” Tủ sách y khoa của tôi chứng tỏ sự hy sinh quên mình của một bác sĩ trong khi phục vụ, nhưng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa thì đó lại là chứng cớ điển hình tố cáo tội trạng phản cách mạng của tôi. Tôi bị giam vì tội gián điệp.

Quá trình chuyển dạng của tôi từ một vị bác sĩ kiểu mẫu thành một loài “chó hoang” diễn ra trong một khoảng thời gian chỉ độ bằng khoảng thời gian đi từ thành thị đến đồng quê. Buổi sáng mới lên đường tôi vẫn còn được một đám đông nông dân tụ họp để hoan hô đưa tiễn. Đây là những người tôi đã huấn luyện trong suốt một năm trời để trở thành những bác sĩ dã chiến. (Thực sự thì khóa học này chẳng qua chỉ là một khóa học làm tốn thời giờ của một vị bác sĩ. Chỉ cần một người y tá hướng dẫn là khóa học cũng hữu hiệu chẳng kém.) Vừa bước xuống xe lửa trưa đó tôi đã bị một đám đông đang cầm biểu ngữ đả đảo chào đón. Tất cả đang đợi để đội lên đầu tôi một chiếc nón dán nhãn bù nhìn. Tôi lặng người chẳng biết phải tiếp xúc với đám đông ra sao. Làm sao một bác sĩ như tôi lại có thể cùng chung số phận với những chính khách có hình dán ở khắp nơi?

Tôi chẳng hiểu phải đối xử với thế giới mới này như thế nào cho phải cách. Bởi vậy, do thói quen tôi lại đến nhà thương. Tôi vẫn chào đồng nghiệp như thường lệ nhưng họ lại làm như thể không trông thấy tôi. Tôi cảm thấy dường như tôi đang đứng trong một khoảng chân không, dường như tôi không còn đứng trên mặt đất nữa. Chỉ trong khoảnh khắc tôi đã chìm sâu vào một thế giới đen tối khác. Thế thì người bác sĩ một lòng tận tụy với bệnh nhân đâu? Tôi đang ở đâu? Tôi là ai?

Những nhân viên cấp dưới nghĩ rằng tôi là một kẻ thù chỉ xứng đáng quét cầu tiêu cho họ. Nhưng nếu họ mượn cách quét cầu tiêu để hạ nhục tôi thì họ hoàn toàn thất bại. Vấn đề vệ sinh là một vấn đề lúc nào tôi cũng cho là quan trọng, và hàng ngày tôi lao mình vào việc chùi rửa và đánh bóng khắp nơi trong phòng vệ sinh cho đến khi cả phòng vệ sinh không còn một vết bẩn.

Tôi quan sát khung cảnh hỗn loạn chính trị của nhà thương qua con mắt của một người ngoại cuộc. Có rất nhiều nhóm phát xuất từ “đại đa số các tầng lớp cách mạng,” mỗi nhóm lại tuyên bố họ là những người Marxist chân chính và trung thành với Ủy Ban Trung Ương, những nhóm đó lại chia thành nhiều nhóm nhỏ hơn để tố cáo lẫn nhau về chính sách đề cao cá nhân, tất cả đều đeo huy hiệu của Mao Trạch Đông, đều hăng hái sinh hoạt văn nghệ và đều hát những lời ca ngợi chủ tịch thật là thô thiển và cực đoan như thể cả Trung Hoa đang trở về những ngày nguyên thủy trước thời văn minh.

Vì vừa là một quái vật, vừa là một ác quỷ, tôi bị những nhân viên trẻ và các sinh viên đánh đập thường xuyên hoặc bằng roi vọt, hoặc bằng ống nước có gắn lò so sắt bên trong. Thái độ và những câu hỏi của họ cho thấy họ là những người thiếu hiểu biết và có quan niệm lạ lùng đến độ trông họ chẳng khác nào một đàn bò dại. Một hôm, sau khi lục soát tất cả hồ sơ của tôi họ tuyên bố rằng họ đã tìm được bằng cớ hiển nhiên về những mục đích xấu xa của tôi. Họ đưa cho tôi xem những tấm ảnh chụp trước và sau khi tôi giải phẫu các bệnh nhân. Đây nguyên là những bệnh nhân đã bị lửa thiêu hoặc bị thương tật trong các tai nạn ở các nhà máy kỹ nghệ hoặc trong chiến tranh Đại Hàn. Trong tất cả mọi trường hợp, sau cuộc giải phẫu những bệnh nhân của tôi đều đỡ hơn nhiều. Ngay cả khi đang ở trong một trường hợp khó chịu như tình cảnh lúc này mà tôi vẫn cảm thấy tự hào. Tôi chẳng hiểu trong những bức hình đó có gì làm họ nổi giận. Họ bắt tôi nhìn vào những bức hình thật kỹ để có thể nhận ra những lỗi lầm của mình. Tôi nhìn kỹ lại những bức hình và quả thật chẳng thể nhìn ra được những điều lỗi lầm mà họ đang ám chỉ. Tôi càng im lặng lâu hơn thì họ lại càng đánh tôi đau hơn. Cuối cùng, họ mất hết kiên nhẫn và tuyên bố một cách khoái trá về sự khám phá đặc biệt của họ: Nếu quả thực mục đích của tôi chỉ là phụng sự thì tại sao tôi không chụp hình tất cả những bệnh nhân trong bệnh viện? Sự thể cho thấy rằng tôi thực sự chỉ để ý đến mình và thực sự trong tâm tôi đang mưu đồ tìm cách đưa mình lên đài danh vọng.

Vừa bàng hoàng vì lối lý luận của họ, vừa quá đau đớn không thốt được nên lời, tôi cố lắc đầu nhưng cổ tôi vẫn cứ trơ trơ. Có lẽ sự bàng hoàng của tôi khiến họ cho rằng giả thuyết của họ đã đúng hoàn toàn. Tên trưởng nhóm tuyên bố sẽ dạy cho tôi một bài học đích đáng để trừng trị tật tự cao của tôi. Để nhắc tôi mãi mãi phải nhớ lấy bài học khiêm tốn, hắn lạnh lùng vặn gãy ngón cái của tôi chẳng khác nào một người lớn tuổi bẻ gãy cục phấn của một đứa trẻ nghịch ngợm đã chọi mình.

Sự điên rồ của họ truyền nhiễm chẳng khác nào một con bệnh. Ý nghĩ về việc mình chẳng còn khả năng giải phẫu trong tương lai nữa làm tôi lặng người. Rồi thình lình tôi bật tiếng cười rộ khi đọc thư ông thân tôi báo tin rằng bà thân tôi không còn nữa.

Bà thân tôi là trưởng nữ của một người đàn bà bị bán sang Hoa Kỳ làm vợ cho một người phu ở một làng nhỏ ở gần trạm xe lửa xuyên lục địa của tiểu bang Missouri. Ông ngoại tôi nguyên là phu đắp đường rầy đã suốt đời đắp đường cho đường rầy xe lửa xuyên lục địa Hoa Kỳ. Ngay sau khi bà thân tôi mới tốt nghiệp trung học thì gia đình gặp phải hoàn cảnh khó khăn. Gia đình ông bà ngoại đã bị một gã di dân lừa bịp cuỗm hết tiền của. Để giúp đỡ bố mẹ, bà thân tôi dẹp mộng bác sĩ để học làm phụ tá cho y tá.

Bà thân tôi là một người hết sức hiền hòa và chăm chỉ. Tất cả những người được biết bà đều quý mến bà. Trong khi làm việc, bà vẫn theo học các lớp đêm và dần dà lãnh bằng được bằng y tá cao cấp. Trong khi đó ông ngoại, bà ngoại tôi đều đã qua đời và bà lại có trách nhiệm với bốn người em nhỏ hơn, bà làm việc bất kể ngày đêm và rồi tất cả các dì, các cậu đều được bà đưa vào những trường đại học danh tiếng.

Như thế bà thân tôi đã phải nhận lãnh trách nhiệm của bậc phụ huynh trước ngày thành hôn rất lâu. Bà đang là Y Tá trưởng trông coi một toán y tá ở bệnh viện New York thì gặp người chồng tương lai của mình trong một buổi hướng dẫn cho các sinh viên y khoa. Ông thân tôi là một sinh viên Trung Hoa sang Hoa Kỳ du học. Đầu tiên, khi ông nói tiếng Trung Hoa với bà thân tôi thì bà thân tôi chẳng hiểu gì cả, nhưng việc đó không thành vấn đề vì vừa thấy nhau họ đã biết mình cùng chia xẻ những gì có ý nghĩa nhất trong đời sống với nhau: Lòng tin đối với Thượng đế và sứ mệnh xoa dịu nỗi đau thương của nhân loại.

Sau ngày ông thân tôi tốt nghiệp, cả hai cùng quay về Trung Hoa. Ông thân tôi phục vụ ở một nhà thương có tiếng. Bà thân tôi bỏ hết thời giờ chăm sóc nhà cửa, con cái. Những khoảng thời giờ rảnh còn lại, bà tình nguyện làm những công tác phúc thiện xã hội. Bà thân tôi đã ban cho chúng tôi một mái ấm gia đình thật hạnh phúc và một môi trường học hỏi vượt qua cả sách vở. Bản thân tôi tuy không được sống lâu với gia đình nhưng tôi vẫn chẳng bao giờ quên được những khung cảnh đầm ấm của gia đình trong thời gian đó.

Ngày Nhật chiếm thành phố, ông thân tôi tìm cách gửi dần chúng tôi đi xa mỗi khi xét thấy chúng tôi đã đủ lớn để tự lập. Lương tâm nghề nghiệp không cho phép ông bỏ mặc các bệnh nhân của mình và dĩ nhiên bà thân tôi không bao giờ đả động gì đến việc có thể bỏ rơi ông thân. Chiến tranh kéo dài tám năm. Khung cảnh chiến tranh khiến đời sống chúng tôi trở thành bấp bênh, bất định. Chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc gia đình của chúng tôi, nhưng sau chiến thắng 1945, tất cả gia đình chúng tôi đều cho rằng những sự thử thách đã chấm dút.

Làm sao chúng tôi có thể tưởng tượng được rằng cho đến cả một phần tư thế kỷ sau ông thân tôi cũng vẫn còn phải trả giá cho những món nợ cuối cùng vì quyết định chọn cách ở lại với các bệnh nhân của mình? Làm sao tôi có thể tưởng tượng được một người con có hiếu như tôi lại có thể khoanh tay đứng yên không bào chữa cho bố mình? Nhưng quả thật tôi đã không bào chữa. Không bào chữa cho dù là bào chữa sau khi những cánh cửa đã khóa chặt và khi chính các con tôi là người nêu ra câu hỏi. Thay vì bào chữa, tôi đã nhỏ giọng lạnh lùng bảo các con tôi rằng nếu đảng đã cho rằng ông thân tôi là gián điệp của Nhật và phản quốc thì đó phải là sự thật.

Ngày ông thân tôi bị bắt, bà thân tôi đã yếu lắm. Lúc những toán Vệ Binh Đỏ đến nhà thì bà đã nằm liệt giường. Bà qua đời luôn ngay khi họ đi khỏi. Những hơi thở cuối cùng của bà không phải là những làn không khí tươi mát mà là mùi khai của am mô nhắc mà những đám thiếu niên đã đổ lên bộ áo cưới cổ truyền của bà. Hai chữ làm họ gai mắt là hai chữ được thêu nổi trên màu lụa đỏ: “Hạnh Phúc.”

Một năm sau tôi nghe tin đồn rằng ông thân tôi tự vẫn. Tuy thế, chẳng ai cho tôi biết là ông mất ở đâu hoặc mất khi nào. Tôi chẳng thể tin là ông đã qua đời chứ đừng nói đến chuyện ông đã tự vẫn. Sở dĩ ông thân tôi cố kéo dài cuộc sống chẳng qua chỉ để khích lệ cuộc sống của tôi. Ông thân tôi chỉ tự vẫn khi ông cho rằng trên cõi đời này mọi sự đối với ông đã hoàn toàn vô nghĩa. Và nếu điều đó hoàn toàn đúng thì tôi còn giữ lại nước mắt để làm gì nữa?

Tôi bị gửi đi lao động ở một vùng nằm xa mãi phía Tây Bắc, nơi đó tôi sống suốt tám năm để nuôi lợn và trông coi những người bệnh hoạn. Đã ba lần, những người trong làng dấu tôi trong nhà để bảo vệ tôi. Họ là những người Hồi rất sùng đạo. Tất cả đều thờ thần Allah trước rồi sau đó mới đến bác Mao. Đã ba lần chính phủ đã gửi quân đội đến để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân làng. Chính sách tàn nhẫn của các chính quyền địa phương đã khiến họ làm loạn và giết hết các cán bộ đã áp bức họ. Toàn thể dân chúng trong làng đều bị kết án phản động và phải chịu trừng phạt.

Một hôm, sau ngày Cách Mạng Văn Hóa chấm dứt, tôi trở về thành phố. Một nhân viên chính phủ đến hỏi tôi tro cốt của ông thân. Anh ta nói rằng chính phủ đang sửa sai. Ông thân tôi không phải là gián điệp và không phải là người phản quốc. Chính phủ yêu cầu tôi giao lại tro cốt của ông thân để họ có thể cử hành đại lễ trọng thể trong ngày lễ sửa sai.

Tôi bảo rằng tôi chưa được biết tin ông thân tôi mất.

Tất cả những tin tức tôi được nghe về ông bà thân trong những ngày cuối chỉ vỏn vẹn có thế. Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ được biết gì thêm, ngoại trừ tin mộ bà thân tôi đã được xây bên cạnh mộ ông bà ngoại gần chỗ trạm hỏa xa của một tỉnh nhỏ ở tiểu bang Missouri như bà mong muốn.

Trong những ngày cuối của cuộc đời, tôi hoàn toàn hài lòng với số phận của mình. Quả thật tôi không còn được mang đôi găng tay của một bác sĩ giải phẫu, nhưng tôi được giao phó thu góp các công trình nghiên cứu y khoa của toàn thế giới. Đội làm việc của chúng tôi rất nhỏ; tôi thích như thế hơn. Khác với lệ thường, mỗi người trong nhóm chúng tôi được giao cho rất nhiều nhiệm vụ thay vì tất cả chỉ chung nhau làm tròn nhiệm vụ của riêng một người.

Tôi thật là may mắn. Tôi đã vượt ra khỏi được hàng ngũ của loài bạch khuyển.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"