Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:


Người Ký Giả 


Thứ ba, ngày 9 tháng 5, năm 1989. . . Hơn 1000 ký giả đại diện cho hơn 30 cơ quan truyền thông ở Bắc Kinh cùng đồng loạt yêu cầu chính phủ để cho họ được quyền tự do báo chí. Họ diễn hành với tấm bích chương: “Chúng tôi không thể nói dối thêm được nữa.”

Người Trung hoa lúc nào cũng mang mặt nạ trong cuộc sống. Nào là những mặt nạ do truyền thống đòi hỏi. Nào là những mặt nạ do xã hội đòi hỏi. Và kể từ ngày Giải Phóng thì lại có thêm những loại mặt nạ do đảng đòi hỏi. Mỗi người Trung Hoa phải có đến cả trăm cái mặt nạ. Tùy theo hoàn cảnh, họ chẳng còn cách chọn lựa nào khác ngoài cách tìm lấy một cái mặt nạ để đóng tuồng cho hợp tình, hợp cảnh.

Những chiếc mặt nạ đó thường thật tinh vi, thật cứng, thật khó chịu và lúc nào cũng khiến cho người đeo phải nhớ đến nó. Rồi đến một lúc nào đó, trong khi đơn độc một mình, họ thường nhìn vào gương để nhận diện rõ hơn những khuôn mặt vô hình của họ.

Vì vai trò đã trở thành thói quen, ăn sâu vào tiềm thức và trở thành một thứ nhu cầu đòi hỏi nên mỗi khi phải tiếp xúc với người khác, người Trung Hoa thường thủ vai xuất sắc đến độ chính họ cũng lầm tưởng mình đang nói thực.

Có lẽ người Trung Hoa nào cũng biết rõ vai trò của mình và tất cả những sự thật của vấn đề xã giao nên lúc nào họ cũng nghi kỵ nhau. Sau nụ cười đó ẩn dấu điều gì? Lời khen đó có ngụ ý gì? Vì chính họ cũng chưa thể bỏ được mặt nạ của mình nên họ khó thể tin rằng người khác đang thành thật. Dần dần họ trở thành những nhà ngoại giao đại tài. Và cuộc sống của họ thật là căng thẳng trong thế giới ảo tưởng đó.

Những lãnh tụ tối cao của Trung Hoa, dù là hoàng đế hay bí thư, cũng chẳng có gì ngoại lệ. Vì nhìn vào toàn những mặt nạ, lúc nào họ cũng chỉ còn biết tin cẩn những người trong gia đình hoặc bạn bè thân cận vì theo truyền thống thì chỉ có những người này mới thực sự không phản bội họ. Chính vì thế nên những người đeo mặt nạ chung thủy, họ hàng và đồng nghiệp lại phải thủ vai cho đúng-bằng cách chỉ loan báo những tin tức lạc quan, chỉ thú nhận những khó khăn riêng của mình và cố nhận diện thật rõ những kẻ gian dối quanh họ.

Trong trò kịch câm này, ở tầng lớp cao nhất, đại đa số công chúng đều phải thủ vai tuyệt đối trung thành với lãnh tụ. Những kẻ dám đặt câu hỏi chẳng thể là những người yêu nước hoặc thông hiểu lẽ phải; Do đó, tất cả đều phải đeo mặt nạ. Nếu không có mặt nạ, họ chỉ là những khuôn mặt không tên, những con chốt bị một kẻ phản động và nhóm “cực nhỏ” của kẻ phản động đó khuynh đảo.

Ở Bắc Kinh, chính tôi cũng phải đeo mặt nạ để khỏi bị cho là một người không hiểu văn hóa như những người ngoại quốc khác và để khỏi bị cho đứng vòng ngoài. Và một khi đã bị cho là người ngoài thì bất kể là người ngoài có tâm địa tốt cách mấy chăng nữa mà nếu không hiểu được tấn tuồng mặt nạ họ cũng sẽ làm hỏng tấn tuồng. Và tấn kịch thì đã hẳn lúc nào cũng là một yếu tố thập phần quan trọng, để giữ sĩ diện, để làm cho cuộc sống hàng ngày dễ thở và nhẹ nhàng hơn. Nhưng vì cứ mang mặt nạ mãi nên chính tôi cũng bị ám ảnh.

Vào một tối tháng năm, sau khi những sự náo động ở văn phòng chính của đài CBS đã lắng dịu, tôi đang chiếu cảnh biểu tình cho một số những người bạn xem thì ở phiá cuối phòng bỗng có tiếng reo đầy vẻ kích động: “Tôi biết người đó mà!” Người bạn tôi bước thẳng đến chỗ màn ảnh Ti Vi giơ tay chỉ vào một người trong đám ký giả đang diễn hành, bảo rằng người ký giả đó là bạn cùng lớp với anh. Thấy thế một trong những ký giả của đài CBS lập tức muốn phỏng vấn trực tiếp người ký giả diễn hành. Anh ta nhờ tôi gặp riêng người bạn để đánh tiếng. Tôi đã nhắn lại lời yêu cầu của người ký giả CBS. (Để tránh gây áp lực với những người chúng tôi phỏng vấn, lúc nào tôi cũng nhờ một người khác đánh tiếng hộ và lúc nào cũng dặn kỹ là dù họ có từ chối cuộc phỏng vấn chúng tôi cũng không hề trách móc gì cả.)

Người ký giả đó đến văn phòng tôi, mặt đầy vẻ trầm tư. Chưa ngồi anh đã lấy ngay máy thu thanh ra, xin phép tôi cho anh được thâu thanh buổi phỏng vấn. Anh có ân hận vì đã trót nhận lời hay chăng? Tôi nói rằng tôi sẵn sàng bỏ ngay cuộc phỏng vấn nếu có điều gì khó khăn. Anh trấn an rằng nếu anh không có ý định để tôi phỏng vấn thì anh đã chẳng đến văn phòng tôi làm gì. Tuy thế, khi nhìn anh loay hoay với cái máy Điện-Liên-Báo 1 gắn liền ở thắt lưng, tôi biết chắc rằng anh đang gặp khó khăn; tôi vừa định khuyên anh về nhà thì máy Điện-Liên-Báo anh đeo ở thắt lưng reng. Anh xin phép được dùng điện thoại của tôi.

Sau một tiếng chào ngắn ngủi có tiếng ngập ngừng và rồi giọng nói tiếp tục: “Em không cần biết báo chí nói gì cả. Anh phải tin em.” Đầu giây đằng kia lại im lặng rồi một phút sau giọng nói lại tiếp tục y hệt như lần đầu. Anh vừa treo máy điện thoại vừa nói: “Đó là cô bạn gái tôi gọi.”

Lúc này tôi biết rõ người ký giả không nên lộ diện. Đối với người Trung Hoa thì vấn đề phát biểu tư tưởng của mình trên Ti Vi bất cứ vào giờ phút nào cũng là một việc rất nguy hiểm. Vậy mà anh lại cho phép đài truyền hình phỏng vấn ngay trong lúc cãi nhau với bạn gái. Tôi nói với người ký giả rằng quả thật anh nên suy nghĩ lại, nhưng anh bảo ý anh đã quyết. Tôi nghĩ thầm nếu có thêm thời gian biết đâu anh chẳng thay đổi ý kiến? Tôi mời anh ăn trưa.

Tôi vừa ngồi vào bàn thì người ký giả lại đặt cái máy thu thanh ngay giữa khoảng cách chúng tôi.

Có lẽ tôi đã mỉm cười vì tôi nghe anh nói nhỏ: “Xin lỗi bà, chẳng qua đây là phản xạ nghề nghiệp đấy thôi.”

Tôi cũng rút máy thâu thanh của mình ra và đặt xuống ngay cạnh máy của anh ta. “Được chứ hả?”

Anh nhoẻn miệng cười và lập tức biến thành một con người khác hẳn. Mặt anh mất hẳn vẻ trầm tư và cách nói chuyện của anh không còn cộc lốc nữa. Rồi cũng giống như những người Trung Hoa khác, anh mở đầu câu chuyện bằng cách hỏi tôi về một số người anh nghĩ có thể tôi biết. Anh cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên khi thấy tôi biết rất nhiều người trong số những người anh hỏi. Nhờ có tên tuổi của những nhóm bạn bè đó bắc nhịp cầu, anh có vẻ tin tưởng tôi hơn. Anh bắt đầu trả lời những câu hỏi của tôi không chút dấu diếm. Anh còn thú thực rằng, anh cũng giống như những người quen khác. Tất cả đều tham gia biểu tình bất chấp hậu quả để cho thế giới có dịp biết rõ thái độ của những người trong nước. Anh tham gia cuộc biểu tình mà không hề báo cho gia đình biết.

Tôi vừa định hỏi anh thêm về cú điện thoại anh gọi lúc trước thì anh nói anh vừa mới đến tòa lãnh sự Hoa Kỳ. Tôi giật thót người. Lạy trời cho anh đừng nói đến chuyện nhờ tôi xin giấy thông hành! Lạy trời cho tôi đừng phải giải thích những vấn đề không mấy hay ho về sự bất lực của tôi! Phải chăng người ký giả cho phép tôi phỏng vấn chỉ vì anh muốn tôi phải trả ơn? Nhưng trước khi tôi có dịp giải bày sự bất lực của mình trong vấn đề xin giấy thông hành thì anh đã phát biểu một câu mà tôi chưa nghe bất kỳ người Trung Hoa nào nói từ trước đến nay: “Vị viên chức đó nói thật đúng. Tôi không xứng đáng được nhận giấy thông hành.”

Tôi sững sờ nhìn chòng chọc vào anh ta. Anh có vẻ không chú ý và tiếp tục nói rằng quả thật phải thấy luật pháp áp dụng đúng lẽ mới thấy được sự chân chính và công bằng của pháp luật. Anh ta tiếp tục nói rằng vị viên chức đó đã khai sáng một lẽ phải mà anh đã đánh mất từ lâu. Giọng anh thật là chân thực. Tuy thế, vì đã phải trải qua quá nhiều màn kịch khác, tôi tự hỏi phải chăng câu chuyện yêu lẽ phải của anh lại là một tấn kịch xuất sắc hơn cả. . .

Nhưng anh đã tự đi vào một đề tài khác: “. . . Người Trung Hoa không còn tin tưởng giới truyền thông; họ quan tâm đến những lời đồn được nghe nhiều hơn và đa số những lời đồn đều điều thất thiệt. Phải chăng thái độ của họ là do lỗi lầm của chính chúng tôi? Hàng chục ngàn sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn mà không hề có lấy một chữ trên báo cho đến khi những người Hoa Kỳ như bà đã loan tin cho khắp cả hoàn cầu biết rõ.”

Tôi lại chột dạ, Câu khen đó có hàm ý gì? Tôi chuyển ngay đề tài sang một vấn đề không dính líu gì đến phương diện Hoa Kỳ của vấn đề bàn luận. Tôi hỏi: “Anh có được giao nhiệm vụ lấy tin tức của cuộc biểu tình hay không?”

Người ký giả đi thẳng vào câu trả lời không chút hoa mỹ: “Tôi cũng có mặt ở đó cùng với những ký giả Hoa Kỳ. Khi họ không được phép đến gần những nhân vật chính của dư luận, tôi cũng có mặt ở đó. Khi họ rời chỗ biểu tình, tôi cũng vẫn ở đó. Vấn đề khác biệt duy nhất giữa tôi và họ là bản tin của họ được đăng tải nhưng bản tin của tôi thì không.”

Câu trả lời bất ngờ bất ngờ đến độ gần như cộc lốc và sự hãnh diện nghề nghiệp của anh khiến tôi gạt bỏ mọi sự nghi ngờ. Tôi biết người ký giả không còn mang bất kỳ bộ mặt nạ xã giao nào cả. Tôi cũng cởi bỏ mặt nạ xã giao của mình và nói rõ những ý nghĩ thực của tôi về anh lúc trước. Anh mỉm cười nửa ăn năn, nửa ngượng ngùng và rồi thú thực viên chức ngoại giao ở tòa lãnh sự đã khiến anh suy nghĩ là vì anh đã chạy chọt để có giấy thông hành.

“Anh có đổi ý về vấn đề sang Hoa Kỳ du học hay không?”

“Không. Tôi vẫn muốn được đi để chính mắt trông thấy thế nào là tự do báo chí, nhưng chỉ khi nào có đủ tiêu chuẩn để được cấp phát giấy thông hành tôi mới nộp đơn trở lại.”

Ngay lúc đó, tôi thực tình muốn đóng ngay dấu thông hành cho anh, nhưng vì chẳng thể làm thế được, tôi hỏi: “Anh có yêu nghề ký giả hay không?”

“Yêu cũng có mà ghét cũng có.”

“Tại sao?”

Anh ngừng một giây lâu như để tập trung và sửa soạn ý nghĩ và chọn lời nói cho có mạch lạc. Anh không phải là người quen trình bày những ý nghĩ khúc mắc, và cuối cùng khi anh bắt đầu trả lời câu hỏi, tôi tự kềm bớt những câu hỏi khác để anh trả lời cho trọn câu.

“Vấn đề chính là báo chí ở đây chẳng có hệ thống gì cả, chỉ có những nguyên tắc do truyền thống để lại thôi. Chúng tôi vẫn cố gắng theo sát những nguyên tắc của truyền thống nhưng quả thực nào có ai biết rõ những nguyên tắc của truyền thống là gì? Trong giới cầm quyền chưa bao giờ có ai tuyên bố là ở Trung Hoa không có tự do báo chí. Như thế thì sự kiện có một vài bài báo bị cấm không có nghĩa là ở Trung Hoa không có tự do báo chí. Nếu những người ký giả chưa cố viết về những đề tài của mình thì họ chưa có quyền bảo rằng họ không có tự do báo chí. Tỷ dụ như ở Trung Hoa vẫn chưa có bài báo nào viết về tù nhân ở Trung Hoa. Theo như tôi biết thì ở Trung Hoa chưa có ký giả nào viết về đề tài tù ngục. Vì thói quen nên chẳng ai chú ý gì đến đề tài đó, vì chưa đặt bút xuống thì đầu óc chúng tôi đã nghĩ ngay đến các hậu quả của những chuyện chúng tôi chưa làm. Thế là chúng tôi lại lặng người vì sợ những hậu quả mà mình chưa biết rõ là gì. Và lúc này nhờ được phong trào sinh viên khích lệ, có thể chúng tôi sẽ cố gắng hơn.”

Nghe anh nói xong tôi thầm phục sự xét đoán công bằng của anh. Tôi hỏi yếu tố nào đã khiến anh xét đoán công bằng như vậy?

Ông nội tôi là một nông dân kiêm nghề bán hoành thánh ở một ngôi làng nhỏ dân số khoảng độ hai ba trăm người. Ông tôi tuy nghèo, nhưng cụ được mọi người hết lòng quý mến. Cụ có đầy đủ quyền hạn của một người trưởng tộc và được mọi người trong họ kính nể hết mực. Ông tôi không biết đọc, biết viết nhưng khác với những nông dân khác, cụ có thể bàn luận gần như tất cả mọi đề tài. Bởi vậy lúc nào cụ cũng phiêu du đi đó, đi đây. Đến ngay cả những nhà giàu và các thày giáo đến dạy ở những nhà giàu cũng rất mến cụ. Nếu cụ có tiền, cụ chẳng bao giờ ngại việc cho người khác mượn. Có lần cụ cho chính người địa chủ của cụ mượn tiền hút thuốc phiện. Sau cùng, người địa chủ đó chẳng thể trả lại số tiền cụ cho mượn. Vì thế nên cụ mới có được căn nhà.

Về đường duyên số thì cụ lại không may mắn lắm. Cụ lập gia đình 7 lần cả thảy; 6 người vợ của cụ đều qua đời hoặc vì bệnh tật, hoặc vì Nhật thả bom. Chỉ có người vợ cuối cụ cưới sau ngày giải phóng là người ở cùng với cụ cho đến ngày cụ qua đời. Tuy cụ rất đông con nhưng chỉ có một người con gái và hai người con trai là còn sống sót.

Cụ cũng có một người cháu trai gia nhập đảng từ ngày đảng mới được sáng lập. Người cháu trai đó được cử làm bí thư tại quận nhà sau khi quận trở thành một vùng kiểm soát của cộng sản vào năm 1937. Cháu cụ đã cố sức khuyên ông thân tôi và người anh cùng cha khác mẹ của anh ta gia nhập vào đảng. Lúc đó ông thân tôi đã 11 tuổi. Ông thân tôi không cần đợi người em họ thúc dục gì nhiều. Gia nhập Hồng Quân cho phép ông thân tôi có một cơ hội chống Nhật và một lý do cực tốt để xa gia đình và tránh khỏi phải cãi cọ nhiều với người mẹ ghẻ.

Trong những ngày chiến tranh Hoa-Nhật vẫn còn tiếp diễn thì hai bên Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản đều đồng ý thỏa thuận chính sách tạm thời chung sống với nhau. Giữa lúc này một người bạn ông nội tôi lại thuyết phục được ông nội tôi gia nhập Quốc Dân Đảng. Ông nội cho rằng theo Quốc Dân Đảng là một ý kiến hay. Cụ lý luận rằng hơi đâu mà đánh bạc với trời bằng cách chỉ cấy độc có một thứ hạt giống. Cấy luôn một lúc hai thứ thì dẫu mùa màng có thế nào cũng vẫn có chỗ nương thân. Các con cụ đã gia nhập Hồng Quân thì cụ nên gia nhập Quốc Dân Đảng để vạn nhất nhỡ có gì cũng còn có nơi mà dựa.

Ông cụ hỏi người bạn. Nếu muốn gia nhập thì phải làm sao? Người bạn cụ trả lời: “Anh cứ để tôi lo. Tôi sẽ làm hết mọi thủ tục cho anh.”

Mối liên lạc giữa ông nội tôi với Tưởng Giới Thạch là thế. Sau đó cụ hoàn toàn quên hẳn. Cụ chưa từng tham dự cuộc họp nào. Cụ cũng chưa từng tuân hành mệnh lệnh nào. Cụ chỉ nghĩ đơn giản rằng cứ có càng nhiều bạn càng tốt.

Tuy ông nội tôi hoàn toàn quên hẳn, người bạn cụ lại không quên như cụ; ông ta lẳng lặng điền đơn cho cụ. Và sau ngày Giải Phóng, khi văn phòng Quốc Dân Đảng bị lục soát, họ tìm thấy tên ông nội tôi.

Chính tôi chưa bao giờ biết rõ điều này. Từ bé tới lớn, lúc nào tôi cũng nghĩ gia đình mình là một gia đình hoàn toàn trong sạch. Chẳng những ông nội là nông dân, ông thân gia nhập đảng Cộng Sản mà tôi còn có rất nhiều họ hàng có địa vị quan trọng. Thành tích cách mạng của gia đình tôi thật hiếm có! Tôi cũng chưa bao giờ nghi ngờ những điều được dạy. Tôi hết lòng tin tưởng chủ tịch Mao Trạch Đông. Tôi căm thù những kẻ thù của nhân dân. Tôi căm thù địa chủ, phú nông, các thành phần phản cách mạng và phản động. Tôi chỉ muốn rốc lòng hy sinh cho các đồng chí của mình như anh hùng Lôi Phong người được Mao chủ tịch đưa ra làm hình ảnh khuôn mẫu.

Ngày còn ở tiểu học, tôi và các bạn khác lúc nào cũng để ý cố tìm việc tốt để làm. Chúng tôi để dành tiền đi xe buýt cho người nghèo. Chúng tôi giúp những người già băng qua đường. Chúng tôi xung phong làm tất cả những việc tốt như tất cả những đứa trẻ khác ở cùng lứa tuổi. Có lần chúng tôi nhìn thấy hai bà lão quần áo rách rưới đang ra sức đẩy một chiếc xe nặng! Tất cả đều hân hoan ùa đến giúp. Chúng tôi ra sức đẩy chiếc xe về mãi đến tận làng. Nhưng lúc về đến nơi chẳng ai cảm ơn chúng tôi cả, kể cả hai bà lão lẫn những người dân trong làng. Bất thình lình một trong những người trong làng thét lên: “Bộ chúng mày không có mắt hay sao mà bạ ai cũng giúp? Trước khi giúp thì cũng phải chống mắt lên mà xem chúng mày đang giúp ai kia chứ. Nếu không thì nhừ đòn đấy. Những con mụ ấy là những con mụ phù thủy, vợ của các địa chủ, chúng mày có biết không?”

Tôi bàng hoàng vì lỗi lầm của mình. Và chẳng thể nào xua đuổi được cảm giác lỗi lầm đó ra khỏi đầu óc. Hôm sau tôi tự viết một bài kiểm thảo trong lớp về tội vô tình giúp đỡ kẻ thù. Tôi tưởng rằng bài viết đó sẽ chứng tỏ lòng ăn năn của tôi. Nào ngờ tôi bị đổi lớp. Thày giáo tôi không muốn dung túng một học sinh nguy hiểm như thế trong lớp.

Khi cuộc cách mạng văn hóa phát động thì tôi 13 tuổi. Tôi lấy sợi giây thắt lưng của ông thân đeo vào người và theo các đội vệ binh đỏ đi lục soát từng nhà. Tất cả những người tôi gặp đều là người lạ, nhưng họ đã bị ủy ban nhân dân lên án là những phường độc ác, tâm địa rắn rít. Tôi đã đánh họ chẳng khác nào những anh hùng cách mạng đã đánh đập địa chủ trong cuộc cải cách ruộng đất.

Ngay cả khi thấy có người bị đánh đến chết, tôi vẫn cho là chuyện bình thường. Mao chủ tịch đã chẳng dạy rằng xã hội gồm nhiều giai cấp và giai cấp của chúng tôi-công nhân, nông dân và quân nhân- thuộc về giai cấp cách mạng trong khi họ thuộc thành phần – địa chủ, phú nông, các phần tử nhơ nhuốc và phản cách mạng đó sao? Và chúng tôi đang chẳng gia nhập cuộc đấu tranh giai cấp đó sao? Và hễ đã nói đến chuyện chiến tranh thì hẳn là trong bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải có chết chóc.

Rồi một hôm, tôi bỗng thấy một tấm bích chương thật lớn, công bố ông nội tôi là thành viên của Quốc Dân Đảng. Tôi và em tôi vừa đọc tờ bích chương vừa hoang mang xấu hổ và sợ sệt không cùng. Làm sao một gia đình cách mạng như gia đình chúng tôi lại có thể là một gia đình phản động? Làm sao chúng tôi lại có thể không phải là những người thuộc về giai cấp đấu tranh như trong quá khứ? Làm sao mà mới chỉ qua một đêm chúng tôi lại có thể biến thành kẻ thù của giai cấp cách mạng?

Chúng tôi ước rằng chúng tôi có thể “phân cách được một làn ranh giới rõ rệt” giữa chúng tôi và ông nội chúng tôi. Chúng tôi ước rằng có một phép lạ nào đó có thể giúp chúng tôi đoạn tuyệt với ông nội, có một phép lạ nào đó cho phép chúng tôi tuyên bố rằng từ đây về sau chúng tôi chẳng còn dính líu gì đến một thành viên của Quốc Dân Đảng như ông nội nữa. Nhưng ông nội chúng tôi đã qua đời từ 10 năm trước. Bởi thế chúng tôi chỉ còn mỗi một biện pháp cuối cùng. Chúng tôi cùng đến gặp ông thân và buộc ông phải đốt sạch những bức hình ông nội.

Chính ông thân tôi cũng đang khốn khổ. Ông thương bố hết mực. Nhưng ông cũng thương các con rất mực. Nếu gia đình tôi không có thái độ rõ rệt về vấn đề ông nội thì tất cả sẽ bị nghi ngờ. Dù sao thì ông nội cũng đã chết rồi. Những lớp trẻ sau vẫn còn tương lai.

Bởi vậy ông thân tôi đồng ý chiều theo sự yêu cầu của chúng tôi. Ông chẳng thể dấu các bức hình đi đâu được và rằng bất cứ giây phút nào nhà chúng tôi cũng có thể bị lục soát. Nếu những người lục soát tìm được những bức ảnh của ông nội thì gia đình chúng tôi sẽ bị khép tội là cảm tình viên của Quốc Dân Đảng. Hơn nữa chính ông thân tôi cũng là một đảng viên của đảng cộng sản. Trước đây, khi Vệ Binh Đỏ đến nhà ông để bắt em ông, ông cũng chẳng hề có ý dấu diếm.

Tôi còn nhớ hôm đó tuy hàng xóm đã tắt đèn mà chúng tôi vẫn đợi sau một khoảng thời gian rất lâu trước khi bước ra khỏi nhà. Chúng tôi cùng nhìn ông thân bỏ ảnh ông nội vào một cái bình hoa, cùng nhìn ông thân châm lửa. Những góc ảnh bén lửa cong lên, từng ngọn lửa nhảy múa cho đến khi tất cả chỉ còn là một đống tro tàn.

Trường đóng cửa. Năm 16 tuổi tôi gia nhập quân đội, và suốt tám năm sau đó phục vụ ở miền bắc gần chỗ biên giới. Trong suốt tám năm trường tôi chưa hề trông thấy bóng một thiếu nữ. Tôi cũng chẳng bận tâm. Chúng tôi còn trẻ và vẫn còn tin tưởng rằng chúng tôi đang đoàn kết để hy sinh cho tổ quốc. Tôi được kết nạp vào Đảng. Trong một thời gian ngắn tôi đã là trưởng nhóm của những nhóm thanh niên xung phong. Đấu Tranh Giai Cấp lúc nào cũng tiếp diễn.

Và rồi tôi được giao nhiệm vụ nấu bếp. Tổng cộng có cả thảy 10 người nấu bếp; 8 người đã từng là tướng Hải Quân. Thịt thà hiếm hoi vô kể. Chúng tôi thường giết chó, mèo để ăn.

Sau giờ nấu nướng tôi hoàn toàn rảnh rỗi. Tôi đọc. Chẳng những chỉ những thơ văn của Mao chủ tịch mà còn đọc cả tự điển và tiểu thuyết nữa. Tôi đọc tất cả những thứ gì có thể tìm được. Tôi chẳng thể ngờ được là tôi đang tự dạy mình cách suy nghĩ. Lối đọc sách kiểu này thật là lôi cuốn. Tôi bắt đầu nhìn thế giới chính trị qua một nhãn quan mới.

Kể từ đó tôi bắt đầu dối trá. Tôi dối trá về vấn đề ngưỡng mộ Mao chủ tịch. Tôi dối trá ngay cả trong nhật ký.

Năm 1978 tôi được chọn vào Sở Thanh Tra cùng với 7 người bạn khác. Mặc dù cuộc cách mạng văn hoá đã kết thúc cả từ 2 năm trước mà nhà tù lúc đó hãy còn đầy người bị nhốt trong cuộc cách mạng văn hóa trước đây. Nhiệm vụ của chúng tôi là duyệt lại hồ sơ của họ. Ngay từ buổi đầu tôi đã bị các hồ sơ ám ảnh. -hết hồ sơ này đến hồ sơ khác về những nạn nhân thuộc thành phần trí thức bị bắt oan. Những năm đáng kể nhất của đời họ đã bị lãng phí. Thân thể họ còm cõi. Đầu óc họ trống rỗng. Tất cả những sự liên hệ của họ đối với người thân hoặc gia đình đều bị chính quyền hoặc tự bản thân họ buộc phải cắt đứt. Trong rất nhiều trường hợp tôi đã phải theo dõi hồ sơ của các tù nhân có khi ròng rã suốt nhiều năm trời.

Ngày trở về thành phố, tôi bị buộc phải lập gia đình với một thiếu nữ chỉ vì tôi đã lỡ cầm tay và hôn cô. Nếu tôi không lập gia đình với cô lúc đó, có lẽ tôi sẽ không tránh khỏi bị lương tâm cắn rứt. Hơn nữa, tất cả mọi người đều mong chúng tôi lập gia đình với nhau và chúng tôi chẳng thể làm khác. Trong ngày cưới, toàn thể khách đến dự đều ăn uống no say, nhưng riêng tôi thì chẳng nuốt trôi lấy một miếng. Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã sai ngay từ phút đầu. Có thể lý do chính khiến những người ở tuổi chúng tôi ít khi tìm được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân là vì chúng tôi đã sống cuộc sống tập thể quá lâu rồi. Cuộc sống đó đã làm hỏng quan niệm hôn nhân của chúng tôi. Vì đã sống đời sống tập thể quá lâu, một mặt thì chúng tôi chẳng thể yêu mến những kẻ hoàn toàn xa lạ, không cùng chia xẻ tình cảm hoặc suy nghĩ với chúng tôi. Nhưng mặt khác thì chúng tôi cũng chẳng thể sống chung với những người đã biết chúng tôi quá rõ.

Sau nhiều năm chung sống, tôi và nhà tôi đến một ủy ban phường để xin ly dị. Họ cố giảng hòa cho chúng tôi suốt gần hai năm mà không thành công. Cuối cùng họ đồng ý cho phép chúng tôi ly dị. Lúc ký xong giấy ly dị, chúng tôi cùng phải ra đứng trước hiên để vẩy tờ giấy cho mực khô trước khi gập lại. Tôi không bao giờ quên được cảnh hai chúng tôi cùng đứng cạnh nhau bên vỉa hè để hong khô hai tờ giấy cho phép cả hai chúng tôi hoàn thành ước nguyện.

Cuối cùng khi cả hai chúng tôi đã cầm được giấy tờ ly dị thì chẳng hiểu sao tôi lại ước rằng phải chi giữa hai chúng tôi đừng có chuyện gì xảy ra thì hay biết bao! Tôi không có ý nói đến vấn đề ly dị. Tôi muốn nói đến vấn đề hôn nhân của hai chúng tôi. Tất cả mọi vấn đề trong quá khứ thật đều không cần thiết. Tôi cũng chẳng thể vin vào tuổi trẻ để chạy tội. Lúc đó tôi đã gần 30. Đáng nhẽ chúng tôi phải biết rằng một nụ hôn chẳng thế nào dẫn ngay đến chuyện vợ chồng. Đáng nhẽ chúng tôi phải hiểu một nụ hôn chẳng thể là một cơ sở vững chắc để chúng tôi có thể tựa vào đó mà cùng gầy dựng con cái. Đáng nhẽ chúng tôi không nên coi thường những điều chính bản thân mình ngờ vực. Chúng tôi không nên nhắm mắt làm theo áp lực của bạn bè, gia đình. Đáng nhẽ chúng tôi phải hiểu những gì truyền thống đòi hỏi chưa chắc đã tốt đẹp, và những gì không đi đôi với truyền thống chưa hẳn là những điều xấu xa. Nhưng cả hai chúng tôi đều bỏ qua những điều vừa kể. Lúc đó cả hai chúng tôi đều lầm lỡ. Tại sao chúng tôi có thể lầm lỡ một cách buồn cười đến vậy?

Lúc ra khỏi văn phòng cấp giấy ly dị, cả hai chúng tôi cùng đứng cạnh nhau vẫy vẫy tờ giấy hong mực cho khô. Giấy ly dị của tôi khô trước. Thấy thế, vợ tôi vừa cười vừa bảo: “Anh thấy không? Ngay cả trong vấn đề hong khô giấy tờ ly dị mà mình cũng không đồng ý với nhau nữa là.” Tối đó cả hai chúng tôi cùng đến một quán ăn sang trọng để ăn bữa cuối. Cả hai đều hết sức hoan hỉ. Sau bữa ăn cuối đó chúng tôi chia tay nhau chẳng khác gì một đôi bạn.

Tính đến nay, chúng tôi đã ly dị nhau suốt sáu năm trường rồi mà tôi và người vợ cũ vẫn chưa bao giờ nói rõ cho con chúng tôi biết. Quả tình, chúng tôi vẫn chẳng biết trình bày vấn đề ra sao. Con tôi vẫn thường ăn trưa với tôi và gọi người bạn gái của tôi là “cô.” Sau đó lại về sống với mẹ nó. Chúng tôi giả vờ như thể cuộc sống của chúng tôi vẫn thật bình thường. Tôi giả vờ. Vợ cũ tôi giả vờ. Ngay cả con trai tôi, dĩ nhiên là biết sự thật cũng giả vờ.

Tôi và ông thân tôi cũng giả vờ hệt như thế. Cho tới ngày nay, cha con tôi vẫn không nói chuyện chính trị với nhau. Cả hai chúng tôi đều sống như thể giữa chúng tôi không hề có quan niệm khác biệt về chính trị. Tuy cả tôi lẫn ông thân đều biết rõ những sự khác biệt đó hoàn toàn là sự thật và đời sống hàng ngày của chúng tôi vẫn phản ảnh rõ rệt điều đó. Vì đã gia nhập quân đội 50 năm, ông thân tôi tin rằng ông được như ngày nay hoàn toàn nhờ Đảng. Nhờ đảng ông mới có được căn bản giáo dục, có nhà cửa, con cái đầy đủ và một cuộc sống tương đối. Ông thân tôi cũng suy nghĩ như những người khác cùng thế hệ với ông. Ông chẳng thể hiểu được tại sao giới trẻ lại có thể nghĩ khác. Ông cho rằng giới trẻ là những thành phần vô ơn chẳng những đã bồng bột mà còn phản bội nữa. Tôi càng ngày càng ít nói chuyện với ông thân.

Người ký giả đã cho phép chúng tôi phỏng vấn, thế mà tôi lại chẳng bao giờ dám cho anh ta xem sản phẩm cuối cùng của chúng tôi. Tuy trong cuộc phỏng vấn anh đã nói chuyện suốt cả tiếng đồng hồ về đủ các đề tài mà trong cuốn phim cuối anh chỉ xuất hiện khoảng độ 30 giây.

Cuốn phim vừa được đài truyền hình cho lên Ti Vi được vài ngày, thì tôi lại có dịp nói chuyện với anh. Chúng tôi đang nói chuyện thì tiếng Điện-Liên-Báo gọi anh lại reo. Tuy thế, khi tôi chỉ vào chỗ điện thoại thì anh lại lắc đầu. Mười phút sau lại có tiếng chuông reo. Anh vẫn không gọi lại. Chuông reo lần thứ ba. Tôi hỏi: Tại sao anh cố tình không trả lời?

“Tôi chẳng biết nói gì với cô ta cả.”

“Cô bạn gái của anh?”

Anh gật đầu và rồi kể cho tôi nghe câu chuyện của anh với cô bạn gái của anh đêm trước. Cả hai đã gây gổ với nhau, về câu chuyện mà cô bạn đã gọi anh khi anh đến gặp tôi lần đầu. Có một ký giả đang bị tố cáo về tội cố đem tin đồn xấu để làm xao động dư luận. Anh ký giả bạn tôi cũng có mặt ở đó nhưng hoàn toàn vô tội. Anh có chứng cớ hẳn hòi. Anh đã đưa ra những cuộn băng lúc nào anh cũng thâu mỗi khi trên đường công tác. Nhưng về sau, các tờ báo vẫn tiếp tục chỉ trích anh, thì người bạn gái của anh vì còn trẻ và ngây thơ đã bắt đầu nghi ngờ anh không nói thật. Cô hỏi: “Báo chí họ nói láo làm gì?”

Anh ta trả lời rằng không biết.

Cuộc cãi vã cứ thế tiếp tục. Sau cùng vì quá bực bội, anh bỏ lửng cuộc cãi vã ngay lúc cô bạn gái chưa nói dứt câu để đi ngủ. Thật là bất công cho anh. Đời sống của anh chẳng khác nào đời sống của một nhân vật trong tiểu thuyết Kafka. Một người ký giả không được phép viết rõ sự thực. Một tờ báo loan tin hoàn toàn thất thiệt. Một người tình nói thực hoàn toàn trong khi người yêu của anh ta lại đi tin vào những tin tức thất thiệt được đăng.

Anh nghe rõ tiếng dậm chân của cô bạn gái, tiếng mở cửa sổ, tiếng đồ đạc di chuyển. Anh vẫn mặc kệ. Rồi anh nghe tiếng cô bạn hô hoán rằng cô đang đứng trên bậc cửa sổ và nếu anh còn nghĩ đến cô thì nên bước ra nếu không. . .

Anh nhắm mắt, cố dỗ giấc.

Khi anh tỉnh dậy, cô đang ngồi cạnh giường, cố dấu những vấn đề khó hiểu trong thâm tâm bằng một vẻ mặt bối rối.

Vào lúc tôi viết thì người ký giả bạn tôi đang bị tù. Anh bị kết tội gì chẳng ai được rõ, nhưng tôi có được nghe câu chuyện người bạn gái của anh. Cô ta đi khắp cả tỉnh để gõ cửa các trụ sở chính phủ và cố thuyết phục những người cán bộ rằng anh vô tội.

1 Điện liên báo (beeper) là một thứ máy gần như điện thoại, nhưng không có phần ống nghe và ống nói. Điện-liên-báo chỉ reng để báo cho người đeo biết có người khác đang cần liên lạc.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"