Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Điệp Khúc 


Chủ nhật ngày 1 tháng 10, 1989. . . Trung Hoa tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập quốc gia Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Tôi đang ở đang ở tỉnh Jackson Hole, tiểu bang Wyoming viết sách thì nhận được một cuộn băng. Cuốn băng được chuyển đến qua hệ thống bưu điện nội địa Hoa Kỳ nhưng những sự kiện ghi lại đã được người kể thu thanh ở Trung Hoa vào tháng tám. Vì quá hồi hộp, tôi quên cả cách bật máy và phải nhờ con tôi giúp. Con tôi đang loay hoay thì tôi gọi giật, nhắc con tôi đổi máy radio sang máy nghe băng vì tôi chẳng nghe được gì ngoài những câu hát của một người Mỹ đang hát dân ca.

Trong lúc con tôi điều chỉnh máy, tôi luôn miệng hò hét dặn dò: Con phải cẩn thận đấy, nhỡ xóa nhầm thì chết. Cuốn băng này quan trọng lắm nhá, cẩn thận đấy.”

Cuối cùng tôi cũng nghe được tiếng bạn tôi.

Cho đến mãi hôm sau tôi mới để ý đến bài nhạc. Khi nghe cuộn băng lần đầu, tôi tưởng anh bạn thâu bài nhạc chỉ để phòng hờ trường hợp có nhân viên quan thuế nghi ngờ nghe thử. Và ngay cả khi đã nghe hết cuộn băng, tôi vẫn chưa nghe trọn được lời nhạc. Điệp ngữ “quê nhà” trong các đoạn nhạc vẫn còn làm tôi xúc động. Bản nhạc phản ảnh thật đúng con người bạn tôi. Bản nhạc đó đã diễn tả trọn vẹn cảm tưởng của anh khi tôi trở về Hoa Kỳ. Lời nhạc quả là một khúc mở đầu đầy ý nghĩa đối với những điều bạn tôi nhắn nhủ.

Chiều hôm nhận băng, tôi sửa soạn máy viết để chép lại toàn thể cuốn băng. Trong khi chờ máy hoạt động, tôi bật lại bài nhạc. Lại một lần nữa tôi không cầm được nước mắt. Lần này tôi xúc động vì nghe người ca sĩ mơ hồ nói đến bốn bức tường xám.

Hôm sau, vì dự định ghi luôn bản nhạc vào chuyện, tôi bắt đầu nghe kỹ để chép lại nguyên văn bản nhạc. Đến lúc này tôi mới biết bài hát của anh bạn chẳng phải là về vấn đề tôi trở lại Hoa Kỳ hoặc về những bức tường xám. Tới lúc này tôi mới nghe rõ điệp khúc cuối cùng của bài hát về một gốc sồi già… Tỉnh lỵ quê nhà trông vẫn thế
Khi tôi rời xe lửa bước vào ga
Thầy mẹ tôi đứng đợi ngoài xa
Và thấp thoáng bóng em tôi mừng rỡ
Trong hồn tôi vạn đóa hoa chợt nở
Lòng hân hoan chân hớn hở bước vào
Bờ cỏ xanh dịu hiền tỉnh lỵ

Cả gia đình tôi cùng ùa ra đón
Mở rộng vòng tay, rạng rỡ nụ cười
Tôi thấy hồn nở vạn đóa hoa
Lòng hân hoan khi chân rảo bước qua
Bờ cỏ xanh dịu hiền tỉnh lỵ

Căn nhà cũ vẫn còn đứng đó
Dù lớp vôi vàng đã nứt nẻ khô cằn
Kìa bóng cây sồi già tôi vẫn thường đùa nghịch
Tôi và em tôi cùng soải nhịp bước chân
Tóc em óng, môi anh đào thật thắm
Tôi thấy hồn nở vạn đóa hoa
Lòng hân hoan khi chân nhịp bước qua
Bờ cỏ xanh dịu hiền tỉnh lỵ

Rồi tôi bừng tỉnh và nhìn quanh lần nữa
Vào bốn bức tường màu xám quanh tôi
Tôi bỗng chợt nhận ra rằng tôi chỉ mơ thôi
Vì quanh tôi chỉ có ông cha tuyên úy buồn và người lính gác
Lúc này là giờ giải lao hàng ngày và chúng tôi đang nắm tay dạo mát
Tôi lại nhịp chân để xuôi nhịp bước qua
Bờ cỏ xanh dịu hiền tỉnh lỵ

Quả thật gia đình tôi có đến
Đón tôi dưới bóng mát cây sồi già to lớn đằng kia
Để đặt tôi nằm xuống
Giữa bờ cỏ xanh dịu hiền tỉnh lỵ

Tuy chúng ta đã chia tay nhau lâu rồi mà tôi tưởng như vẫn chỉ mới hôm qua. Tôi đã quen nói chuyện với bà cho đến độ những ý tưởng của tôi, bất kể tốt, xấu cũng đều khiến tôi nhớ đến chỗ văn phòng nhỏ lúc nào cũng thắp sáng của bà. Tôi nhớ đến những tách cà phê bốc khói, đến những chiếc bánh ngọt nhỏ chúng ta vẫn thường nhâm nhi trong câu chuyện. Bầu không khí đó thật là thoải mái.

Giờ đây khung cảnh đã hoàn toàn khác hẳn. Thực sự thì cuộc sống của tôi cũng chẳng có gì căng thẳng. Tôi không hề sợ sệt, không hề nôn nóng, không hề cảm thấy bị áp lực của cuộc sống gò bó. Nhưng mỗi khi đêm về, hễ cứ nhắm mắt là tôi lại bị những cơn ác mộng căng thẳng, đầy sợ hãi nặng nề ám ảnh.

Đã có lần người Trung Hoa mơ xây dựng một quốc gia theo mô hình xã hội chủ nghĩa để tô điểm thêm cho cuộc sống. Nhưng giờ đây họ lại tự hỏi chẳng biết họ sinh ra để làm gì? Họ đã không đủ phương tiện để sống một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa mà cũng chẳng có được một lý tưởng nào đáng để họ cống hiến cuộc đời. Chẳng qua họ chỉ là những con vật tiêu thụ thời gian.

Ít nhất là năm người bạn của chúng tôi đang bị giam ở ngục Thanh Thành, một trại tù trực tiếp nằm dưới sự giám sát của các ủy ban đưa ra thiết quân luật. Các nhân viên thẩm vấn tù nhân ở đó không phải là những nhân viên thẩm vấn của Bắc Kinh mà là những kẻ thẩm vấn đã được tuyển ở khắp các nơi trong nước. W_ đang bị giam ở một nhà tù khác còn khủng khiếp hơn ngục Thanh Thành, nhà tù đó được dành riêng cho các phạm nhân mang đại tội chứ không phải một nhà tù chính trị. Trong lúc thời tiết đang nóng như nung như lúc này mà 16 tù nhân phải sống chung trong một khoảng diện tích không quá 14 thước vuông.

Số người bị bắt càng ngày càng nhiều.

Những cú điện thoại vô danh tố cáo các phạm nhân lúc này lên đến 160,000. Đã có tổng cộng 5000 người bị bắt sau khi bị tố cáo bằng điện thoại. Đa số những cú điện thoại đều nhằm mục đích làm nghẽn các đường dây và phá rối chính quyền. Một số các cú điện thoại khác gọi đến chỉ để cảnh sát leo cây tìm những phạm nhân vô hình. Trong số 5000 người bị bắt chỉ có khoảng 1000 người có liên quan trực tiếp đến vụ biểu tình yêu cầu dân chủ. Số còn lại bị bắt chỉ do những tin tức vô căn hoặc do tư thù cá nhân. Kể từ ngày Cách Mạng Văn Hóa chấm dứt cho đến nay, người ta thường tìm cách giải quyết những xích mích cá nhân riêng với nhau để khỏi phải thông qua tổ, nhóm, tòa án hoặc bất cứ người thứ ba nào khác. Ngày nay cách giải quyết xích mích dễ dàng nhất là chụp mũ người kia rồi gọi báo với nhà chức trách. Ngay cả khi các nhân viên thanh tra không tìm thấy chứng cớ, nạn nhân vẫn phải khốn khổ vì các thủ tục.

Tôi không hiểu rõ vai trò của gã “Hoạt Náo Viên”, nhưng tôi biết rõ rằng trong thời gian biểu tình, cảnh sát tất cả những chuyến đến, đi ở nhà riêng của hắn đều được báo cáo tường tận với cảnh sát. Có nhiều cách để giải thích vấn đề đó. Thứ nhất, chính hắn là kẻ đã báo cáo mọi chuyện kể từ lúc đầu. Như vậy thì chính hắn là nhân viên ngầm của công an. Có thể công an đã lấy nhà hắn làm một mạng lưới ngầm để điều tra hàng xóm xung quanh, bắt những người đến chỗ hắn và vờ cho hắn thoát ra ngoài để theo dõi những người ủng hộ dân chủ đã thoát ra ngoại quốc. Đây không phải là một giả thuyết khó tin.

Bà đã biết thái độ của tôi đối với hắn. Chính bản thân tôi chưa bao giờ tin hắn cả.

Vì sao sinh viên và những người biểu tình khác lại được phép tiếp tục biểu tình lâu đến thế? Tôi cho rằng đây là một câu hỏi cần được bàn luận thêm. Phải chăng nhà cầm quyền đã tổ chức một cuộc bố ráp kể từ lúc đầu? Trong suốt thời gian sinh viên biểu tình T_ chẳng bao giờ đến công trường Thiên An Môn. Anh chỉ đến Thiên An Môn sau khi tất cả các bạn bè anh đều đã tham gia cuộc tuyệt thực. Lúc gặp các bạn anh ở một căn lều nhỏ gần chỗ chân đài tưởng niệm liệt sĩ, T_ khuyên họ đừng nên biểu tình vì làm thế chẳng có ích gì. Sau này phòng Công An Nhân Dân điện thoại khen anh biết giữ tác phong. T_ rùng mình. Họ làm cách nào để biết anh có mặt ở công trường Thiên An Môn? Họ làm cách nào để nghe rõ được tất cả những điều anh đã nói với bạn bè?

Khi hồi tưởng lại, T_ nhận thấy trong số những người giúp đỡ sinh viên lúc đó có nhiều người đã quá già hoặc khó thể thực lòng giúp đỡ như họ đã làm.

Trong thời gian sinh viên biểu tình, bà cụ tôi cũng đến công trường. Cụ chỉ đi một mình chứ không đi chung với nhóm nào cả. Chắc bà cũng biết rõ bà cụ thân tôi. Cụ nào phải là người tích cực tham gia hoạt động hoặc hăng hái gì cho cam! Và ngay cả lúc đến công trường cụ cũng chẳng làm điều gì đáng chú ý. Cụ chỉ đi ngang qua. Vậy mà sở công an cũng cho biết họ có thâu được một cuộn phim có cả hình cụ hiện diện ở Thiên An Môn.

Trong một khúc phim chiếu trên TV, có đoạn chiếu cảnh một thanh niên đứng ra tuyên bố: Chúng ta khó thể dùng những biện pháp ôn hòa để đòi hỏi chính phủ đáp ứng những mục tiêu chúng ta đề ra. Hiển nhiên cuốn phim không nói gì đến bất kỳ giải pháp nào khác mà người thanh niên đó đưa ra, người thuyết trình cuốn phim đã suy diễn hộ anh để nói rõ với khán thính giả. Câu tuyên bố của người thanh niên quả là nguy hiểm khôn lường. Tôi không thể tưởng tượng có người dám tuyên bố như thế, trừ khi anh đang nói với những người mà anh hết lòng tin tưởng, trừ khi anh đang nói với những người đã gần gũi đến độ anh dám đặt cả cuộc đời vào sự tin tưởng họ. Vậy mà anh lại bị quay phim.

Thế thì nhà chức trách hẳn phải quay phim tất cả. Tại sao vậy?

Phải chăng nhà cầm quyền Trung Hoa đã cố ý dùng bảy tuần lễ vừa qua để tung một mẻ lưới bắt trọn tất cả? Giới bảo thủ hẳn nhiên đã cho đối phương quá nhiều thời giờ để tự đưa mình ra trước ánh sáng. Công an đã có quá nhiều thời giờ để thâu thập tất cả những chứng cớ rõ rệt cho từng người một trước khi mở cuộc bố ráp để bắt trọn tất cả. Đây là một chiến thuật cổ điển. Những người trẻ tuổi trưởng thành trong thập niên tương đối cởi mở vừa qua chưa hề trải qua kinh nghiệm đó. Những người lớn tuổi hơn thì lại không tin chính phủ có thể áp dụng lại một chiến thuật vô nhân đạo như vậy. Nếu tổng kết vấn đề và nhìn lại thì những năm vừa qua thật chẳng khác nào một giấc mơ.

Ngạn ngữ bảo rằng: Kẻ nào khóc vì sử Trung Hoa, không sớm thời muộn cũng sẽ phát điên. Bởi những biến cố xảy ra vẫn quá thật chẳng có gì mới mẻ. Vào năm 1987 sinh viên xuống đường và Hồ Diệu Bang đổ nhưng vẫn còn Triệu Tử Dương. Năm nay sinh viên xuống đường, Triệu Tử Dương đổ và vào lúc này thì còn ai nữa?

Tội nghiệp thay cho những sinh viên Trung Hoa! Vì chẳng còn đường nào khác, họ lại đi vào vết xe đổ để làm những điều họ đã được dạy. Họ tin rằng họ có thể thay đổi Trung Hoa bằng cách xuống đường và chiếm lấy công trường. Buồn thay, họ chỉ biết có thế! Chẳng hiểu vì lẽ gì họ lại có thể quên được rằng những con người cách mạng đã một lần dùng kế sách dẫn dụ tập thể này chính là những con người sắt đá đã từng cầm súng?

Sử gia thường phân tích những sự thay đổi của Trung Hoa trong quá khứ qua hai chu kỳ. Chu kỳ thứ nhất là nông dân nổi loạn để đẩy Trung Hoa lùi vào quá khứ. Những người lãnh đạo cách mạng thành công trở thành những hoàng đế mới và thống trị với uy quyền còn độc tài hơn những hoàng đế cũ. Chu kỳ thứ hai là một hoàng đế kém uy quyền dẹp được những nhóm nổi loạn để củng cố quyền bính rồi áp dụng chính sách của chính những kẻ nổi loạn làm quốc sách. Tuy thế, lúc ông ta thực sự nắm quyền thì thời gian đã quá trễ để có thể thay đổi sứ mệnh Thiên Tử của mình.

Giờ đây những trận đổ máu và càn quét theo sau cuộc biểu tình ở công trường Thiên An Môn lại khiến tôi nhớ đến những biến cố sau ngày Cách Mạng Văn Hóa. Trong những ngày đó các đảng phái chính trị tự phân hóa thành nhiều nhóm khác biệt. Nhóm nào cũng cho rằng chỉ có nhóm của họ mới thực lòng ủng hộ chủ tịch. Nhóm nào cũng cố triệt hạ những nhóm khác. Có lẽ chẳng nhóm nào hiểu rõ được chủ ý của Mao Trạch Đông. Tôi tin rằng chẳng một ai hiểu rõ được Mao Trạch Đông, cho dù người đó là sinh viên hoặc thuộc giới lãnh đạo, cán bộ hoặc Đặng Tiểu Bình, hoặc Triệu Tử Dương, quân nhân hoặc sĩ quan. Họ chẳng thể nào hiểu rõ được những gì đã xảy ra về trước, trong, hoặc sau ngày bố ráp. Chẳng có gì ngoài sự hỗn loạn. Hơn nữa, khi sự hỗn loạn đó chuyển vào quần chúng thì mức độ hỗn loạn còn gia tăng nhiều hơn vì những tin đồn trong dư luận, nhất là khi những tin đồn đó lại hoàn toàn mâu thuẫn.

Người Bắc Kinh ít bàn luận những biến cố thời sự nhưng ở những chỗ khác, gần như tất cả mọi người đều bàn luận các tin tức thời sự. Họ khen những người ở thủ đô. Vào những tháng 4, tháng 5 và cả tháng 6 khi những người xuống đường đang bị tàn sát và xúc động đang dâng cao mà ở Bắc Kinh vẫn chẳng có nạn cướp bóc, chẳng có dinh thự nào của chính phủ bị phá hoại, chẳng có gia đình nào bị làm khó làm dễ. Tôi thật tự hào mình là người Bắc Kinh! Giữa những người Bắc Kinh chúng tôi lúc nào cũng biết tôn trọng các phong tục văn minh.

Nhiều tiểu ban của đảng đứng đầu trông coi các cơ xưởng, nghiệp đoàn và hội đoàn đã đóng góp thêm tiền niên liễm để trợ giúp các nhóm biểu tình hoặc còn mang cả bích chương khi diễn hành. Giờ đây đảng lại phải nhờ chính những người của các tiểu ban kiểm soát đó giúp họ chấn chỉnh hàng ngũ của các thành viên trong các hội đoàn và thanh tra để thanh lọc hàng ngũ của các tổ mà họ kiểm soát. Tất cả chỉ là một màn hài kịch.

Những sĩ quan quân sự đã đọc diễn văn ở Thiên An Môn cho những đại biểu của các hội đoàn. Họ mở đầu ra sao? “Binh lính của tôi không phải là những người đã dùng súng bắn vào nhân dân.”

Chẳng một ai, dù là cán bộ cao cấp hay một anh lính hạng bét, có thể tin lời tuyên bố chính thức của chính phủ. Sau hai tháng nhồi sọ thật tỉ mỉ và chu đáo, chính quyền đã thành công trong việc bắt dân chúng nhái lại những đường lối của đảng mỗi khi có cuộc họp chính trị. Nhưng họ chẳng thể cấm không cho dân chúng nghi ngờ chính phủ. Hậu quả của vấn đề này rồi sẽ ra sao?

Tôi cho rằng người ta chẳng thể cứ mãi dối trá để sống một cuộc đời hai mặt. Đây là một vấn đề khó thể chấp nhận. Chẳng ai có thể chịu đựng mãi khung cảnh khó chịu của một cuộc sống mà trong đó người ta bị buộc phải vừa là mình lại vừa không phải là mình. Chẳng ai có thể chấp nhận một lối sống kỳ quặc đến độ người ta bị buộc phải suy nghĩ bằng ý tưởng riêng của mình mà lại phải phát biểu bằng cảm nghĩ của một người khác. Phải chăng người dân Trung Hoa chỉ vừa mới có dịp phát biểu thực lòng sự suy nghĩ của mình chỉ trong tháng 5 vừa qua? Giờ đây họ lại bị buộc phải làm quen trở lại với những khuôn mặt đạo đức giả.

Chẳng có gì có thể gọi là an toàn ở Trung Hoa vào giờ phút này. Người nào cũng dối trá. Người nào cũng cho là đường dây điện thoại của mình bị theo dõi.

Bởi thế chính cách nói chuyện của tôi với bà cũng khiến tôi thắc mắc. Cứ mỗi lần nói chuyện xong tôi lại hối hận đã nói những điều mình không nên phát biểu. Trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa, chính bản thân tôi cũng đã bị bắt vì những câu chuyện điện thoại. Thế mà giờ đây tôi vẫn tiếp tục lập lại những lỗi lầm tôi đã phải trả giá cực đắt khi trước.

Vì sao lúc bà ở đây tôi có thể nói chuyện hoàn toàn tự do? Vì sự hiện diện của bà khiến tôi an tâm. Giờ đây chẳng còn ai có thể cho tôi cảm giác đó nữa. Ngay cả người bạn thân cũ H_ cũng vậy. Giờ đây tôi sợ gặp bà ta hết sức. Vì sự thân cận giữa tôi với bà ấy đã biến hai chúng tôi thành gần như một. Tôi chẳng hiểu nếu một trong hai chúng tôi bị bắt và bị hỏi cung về người kia thì sự thể sẽ ra sao? Chúng tôi sẽ phải nói dối hay nói thật? Nếu nói dối thì sự dối trá đó còn khiến sự lo lắng của chúng tôi tăng lên một mức. Nếu chúng tôi nói dối họ có thể dùng ngay chuyện nói dối đó để bắt người kia hay chăng?

Tôi đã quá quen với cách lấy khẩu cung của họ. Họ chẳng bao giờ trực tiếp hỏi hoặc trực tiếp lên án các phạm nhân. Họ chỉ bắt các tù nhân báo cáo tất cả những chuyện đã làm trong quá khứ và nói rõ có những ai có mặt ở đó lúc chuyện xảy ra. Thế thì tôi phải viết ra sao về bà bạn H_ và bà ta phải viết thế nào về tôi?

Lúc này tôi dành hầu hết thì giờ ở nhà để nghe nhạc cổ điển. Nhạc hiện đại khó nghe quá và hay làm tôi xao lãng tinh thần. Tôi muốn đưa mình vào quên lãng trong một khoảng thời gian nào đó khác. Nhưng lúc nào tôi cũng thất bại. Tôi muốn có một cô gái nhỏ làm bạn, một người nào đó chẳng biết tí gì về tôi và cũng chẳng để ý gì đến những điều tôi lo nghĩ. Tôi chỉ muốn nói chuyện với cô bạn nhỏ đó về những vấn đề nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày. Tôi chẳng muốn nói chuyện gì về mình nữa.

Tôi muốn hòa mình vào thiên nhiên, vào cây cỏ, vào núi đồi. Tuần rồi tôi đến Hạ Cung vào lúc rạng đông và đi bộ suốt bốn tiếng giữa vùng bao la đó. Trong lúc đi bộ tâm hồn tôi hoàn toàn thoải mái. Tôi không còn phải sợ liệu có một con mắt thứ hai nào đó đang dòm ngó mình không? Tôi không còn phải đề phòng liệu có đôi tai thứ ba nào nghe ngóng mình không? Tôi được một phút vô tư lự, không còn lo có ai bắt mình để thẩm vấn.

Tôi cũng chẳng hiểu liệu bà có hiểu được cảm giác thực sự của tôi như thế nào không? Những biến cố lần này khác hẳn những biến cố của các lần trước đây. Lần này chẳng ai thực sự muốn tố cáo hoặc làm khổ người khác. Bạn bè không còn tụ họp thường xuyên như dạo trước tháng 7 nữa, nhưng mỗi lần tụ họp, họ vẫn phát biểu cảm tưởng rất thực lòng chứ không giả dối như trong giai đoạn Cách Mạng Văn Hóa lúc trước. Ngày nay bạn bè không còn phải sợ nhau.

Thật sự thì tôi cũng chẳng biết diễn tả tâm trạng tôi thế nào để bà hiểu rõ. Tôi đã thực sự cảm thấy mệt mỏi tột độ. Đúng ra, tôi không nên nói chuyện với bà thế này, nhưng bà lúc nào cũng cố hiểu người Trung Hoa như tôi. Và cuộc sống của tôi là một cuộc sống điển hình.

Khi tôi gọi điện thoại nói chuyện với F_, chúng tôi vẫn lấy những vấn đề khó nghĩ để làm trò cười.

“À, dạo này thế nào? Còn ăn bắp với râu ngô chứ hả?”

“Chưa. Buồn thiệt, vẫn chưa có ai đến mời mình đi ăn tiệc như thế mới khổ chứ.”

“Ai biết ông thế nào, nhưng tôi thì lúc nào cũng nghĩ đến chuyện đó!”

Bà có thể tưởng tượng những người đã sống tất cả những quãng đời đáng kể trong tù như chúng tôi quan niệm thế nào về đời sống bên ngoài của chúng tôi lúc này không? Có lẽ chẳng có ngôn từ nào đủ để diễn tả cho những người ngoại cuộc hiểu được trọn vẹn mức độ kinh hoàng.

Trong các cuộc họp chính trị, người nào cũng phải nhắc lại đường lối của nhà nước mà trong thâm tâm lại lợm giọng vì tất cả những điều mình nói. Tôi đã cố gắng tránh tất cả các buổi họp vì sợ chẳng biết mình sẽ hành động ra sao. Đã hẳn là tôi không có đủ can đảm để nói ngược lại đường lối của đảng. Nhưng có thể tôi sẽ đặt câu hỏi. Nếu biến cố vừa qua thực sự chỉ là mưu mô của một nhóm đầu não thì tại sao lại có đến một triệu người xuống đường?

Trong bài diễn văn cuối cùng, Triệu Tử Dương, mặt đầy nước mắt đã ngầm loan báo rằng sự nghiệp chính trị của ông đã chấm dứt. Ông tuyên bố với sinh viên: “[chính trị] không còn là việc của tôi nữa.” Kể từ đó, lời phát biểu của Triệu Tử Dương đã trở thành câu nói phổ thông của mọi người. Tất cả đều đã nghe giọng nói Hồ Nam và nhớ rõ cách phát biểu của Triệu Tử Dương trong bài diễn văn lần cuối.

Đương nhiên vẫn có một số cán bộ, như những bạn bè của bà, tự nhiên hiện diện khắp nơi, khóc trên TV, viết báo, niềm nở bắt tay ở các buổi tiệc, miệng vẫn bô bô rằng những chuyện quá khứ quả thật khủng khiếp nhưng những chuyện hiện tại thật hợp lý biết bao. Họ làm tôi kinh tởm đến độ buồn nôn.

Ngày nào tôi cũng tự hỏi tại sao tôi lại muốn sang Hoa Kỳ hoặc tôi đến Hoa Kỳ để làm gì? Tôi chẳng còn biết trả lời cách nào cho rõ hơn là trả lời rằng tôi phải cần có không khí để thở. Ở đây không có không khí. Đầu óc tôi lúc nào cũng hỗn loạn đủ mọi thứ chuyện.

Ngày nay cứ mỗi lần tôi không trả lời điện thoại thì hết người này đến người khác gọi nhau để hỏi phải chăng tôi đã bị bắt?

Vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy? Tại sao họ cứ xem tôi như một chính khách? Sự suy nghĩ của họ thật là khó hiểu. Chính trị đối với tôi là gì? Tôi chỉ biết chính trị qua quan niệm của sử, của triết và chẳng hề có lấy một tí khát vọng tham gia chính trị chứ đừng nói đến có các mục tiêu chính trị! Mâu thuẫn thay, lúc nào tôi cũng cho là Trung Hoa chẳng bao giờ có thể thay đổi một cách nhanh chóng -ít nhất thì tôi cũng tin là Trung Hoa chẳng thể thay đổi nhanh chóng ngay trong thời gian tôi còn sống.

Cho tới khi nào người Trung Hoa mới được giải phóng? Cho tới khi nào họ mới thoát khỏi những tư tưởng tuyên truyền của nhiều thập niên rằng đảng, chính phủ và quốc gia là một và không thể phân chia được? Có lẽ họ chỉ có thể thoát khỏi ảnh hưởng của những điều tuyên truyền đó khi họ nhận thức được rằng đảng, chính phủ và quốc gia là những quan niệm hoàn toàn độc lập và riêng biệt. Vì chỉ khi đó họ mới có thể gạt bỏ tất cả những điều mà cho đến nay họ vẫn cho là chân lý: Nếu cán bộ không tốt thì đảng không tốt, chính phủ không tốt và như thế thì là cả nước đều không tốt -và rồi trong sự thất vọng sâu xa đó, kết luận rằng cả quốc gia đều chẳng có hy vọng gì cả.

Quả thật tôi chỉ xem trọng nghệ thuật, vậy mà chẳng ai chịu coi tôi là nghệ sĩ. Tại sao bạn bè lúc nào cũng chỉ đến gặp tôi chỉ để hỏi về chính trị? Dường như họ chẳng bao giờ chán nghe tôi bàn chuyện thời sự. Chính vì thế nên tuy tôi quả thật khinh bỉ chính trị, tuy tôi chỉ muốn dành hết thời giờ để tìm hiểu nghệ thuật mà lúc nào tôi cũng vẫn bị các vấn đề chính trị bao trùm. Đây là tấn thảm kịch của tôi: Tôi chẳng thể trốn thoát được chính trị.

Hạnh phúc thay là những lúc người ta có thể nhàn đàm với ông bà thân, hoặc với vợ con. Những lúc đó bầu không khí không đến nỗi nặng nề hoặc phải mang màu sắc chính trị. Tất cả những đề tài về mình hoặc của mình đều rõ rệt. Cuộc sống của mình chẳng có gì u tối hoặc phức tạp. Vì thế tôi thường xuyên nghĩ đến bà, nghĩ đến nụ cười của bà. Tôi nghĩ về đôi mắt xanh của chồng bà. Đôi mắt xanh đó toát ra một vẻ thực thà mà vào lúc này có lẽ chẳng còn người đàn ông Trung Hoa nào ở tuổi ông ta còn giữ được.

Tôi chẳng phân biệt rõ được đâu là sự khác biệt giữa bầu trời Hoa Kỳ và bầu trời Trung Hoa, nhưng tôi cảm thấy hai bầu trời đó chắc chắn chẳng thể giống nhau.

Tôi chẳng biết tôi đã nói gì và cũng đã quá mệt, chẳng buồn nghe lại xem mình đã nói gì.

Tôi ước mình có được một cô bạn người Mỹ không hề biết tí gì về Trung Hoa cả. Tôi ước cô bạn đó sẽ dạy tôi tiếng Anh để tôi có dịp được nói đến cha, mẹ, nhà cửa, vườn tược và cây cỏ.

Tôi chẳng biết nghĩ gì. Tôi chẳng biết làm gì. Ở đây chẳng ai có thể hiểu tôi, chẳng ai có thể khuyên tôi, tuy rằng tôi đã quá hiểu mình và thực sự chẳng còn cần phải có người để khuyên bảo tôi nữa.

Trời ơi! tôi thật hết sức muốn được nghe giọng nói của bà, nhưng tôi vẫn phải nghe mãi giọng nói của chính mình.

Tôi chẳng biết phải nghĩ về mọi chuyện sao cho rành mạch và khúc chiết. Tôi đã 39 tuổi rồi mà vẫn chưa hiểu đời, hiểu mình. Trong tất cả các tác phẩm của tôi, kể cả những tác phẩm tôi viết từ trước mùa xuân vừa rồi, chưa có tác phẩm nào vừa ý tôi. Giờ đây, nghệ thuật lại được đặt dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên Vận. Và những hy vọng của tôi về vấn đề sáng tác do đó còn mơ hồ hơn.

Vì sao nghệ thuật lúc nào cũng là mục tiêu của sự đàn áp? Trong suốt 40 năm Cộng Sản nắm chính quyền, tại sao một nước có truyền thống có nhiều văn sĩ như Trung Hoa vẫn chưa sản xuất được một nhà văn nào xuất sắc? Vào lúc này, thật chẳng ai lại dại dột chọn nghề viết văn như tôi. Càng ngày tôi lại càng mâu thuẫn với chính mình nhiều hơn.

Về mặt cải cách cũng thế. Muốn thực hiện cải cách thì phải có thực quyền. Nhưng Trung Hoa hễ được thả lỏng thì loạn mà hễ không có dân chủ thì lại chẳng thể tiến lên được.

Tôi vẫn còn mù tịt về mọi sự. Dường như tôi đã mù tịt trong suốt cả cuộc đời. Có lẽ đây chẳng qua cũng chỉ là vấn đề số phận. Ngoài chuyện oán trời, trách đất tôi còn làm gì hơn được?

Tôi hy vọng nhận được điện thoại của bà thường xuyên hơn. Buồn thay khoảng thời gian xa cách giữa chúng ta đang càng ngày càng dài. Chẳng những thế, cuộc sống của chúng ta lại thay đổi về hai hướng hoàn toàn trái ngược. Liệu trong tương lai chúng ta còn có thể nói chuyện dễ dàng với nhau hoặc còn thông cảm được nhau sâu xa như trước nữa không?

Tôi chúc bà có được nhiều sáng tác mới. Tôi chúc hai ông bà cụ thân của bà luôn được khoẻ mạnh. Tôi chúc ông nhà được vui trong công việc. Tôi còn chúc được điều gì cho bà nữa nhỉ?

Bà đang ở trong một thế giới khác.

Còn vài tháng nữa là tôi rời Hoa Kỳ. Giáng sinh đã qua nhưng Tết vẫn chưa đến. Vào một ngày không có gì đặc biệt, một người bạn bỗng dưng đến thăm và mang cho tôi một món quà. Bên ngoài gói quà không giấy bọc màu mà cũng không thắt nơ. Chính anh tự tay mở dần miếng giấy báo bọc bên ngoài rồi khẽ nâng lên một miếng vải trông như một miếng vải thô đã sờn. Miếng vải có lẽ đã bị giặt đến cả trăm lần.

Tôi vừa đưa tay toan đỡ lấy miếng vải thì anh bạn lắc đầu, miệng cười như thể anh vẫn thường cười với tôi mỗi khi chúng tôi cùng nhìn thấy nhau ở xa nhưng không có dịp nói chuyện với nhau ngay được: “Trước khi nhận món quà này, bà phải hứa với tôi một điều.”

“Tôi phải hứa thế nào?”

“Bà phải hứa rằng nếu nhận món quà này, bà sẽ không bao giờ nhìn vào đấy mà buồn cho tôi. Bà phải cố tìm cách sao cho món quà có thể mang cho bà một niềm vui như chính niềm vui nó đã đem đến cho tôi trong suốt 10 năm qua.”

Nghe anh bạn nhắc đến 10 năm, tôi biết chắc rằng anh đang nói đến khoảng đời từ 18 đến 28 của anh lúc đang tù tội. Về sau chính quyền đã thú nhận rằng anh không hề phạm tội. Tôi gật đầu và cố gượng cười.

“Đây là tấm vải tôi dùng đắp lên người trước khi đắp chăn trong những ngày tù. Tấm vải vẫn còn nguyên, vẫn còn sạch. Tấm vải vừa chẳng có giá trị gì cả, vừa vô giá. Trong nhiều trường hợp, cố giữ một tấm vải sạch sẽ như vậy là một công việc khó khăn đến độ thánh cũng phải rùng mình. Có khi tôi chỉ nhận được một tách nước để dùng cho cả ngày và thông thường tôi chỉ nhận được một muỗng cà phê xà bông để dùng mỗi tháng. Vì không có kim tôi đã phải dùng kim giây thắt lưng để khâu. Vì không có chỉ tôi đã phải lấy chỉ ngay từ áo sơ mi của mình. Sau 10 năm tù, vào ngày được tha, nhìn tấm vải trắng vẫn còn tinh nguyên, chưa hề rách nát, lòng tôi hân hoan thật không sao tả xiết.

“Tôi muốn bà giữ tấm vải nhỏ này để nhắc bà rằng bất kể mai hậu tương lai tôi có ra sao tôi vẫn có cách tìm được niềm sung sướng.”

Nguyên Tác: A Chinese Mosaic
Bette Bao Lord

Bản Dịch: Phan Lê Dũng 

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"