Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Số Mệnh 


Thứ năm, ngày 1 tháng 7, năm 1989… sinh viên tổ chức một buổi lễ khác để thay thế ngày lễ nhi đồng. Bầu không khí ở Thiên An Môn thật là yên tĩnh. Những nhân viên sở vệ sinh đến thu dẹp những vật bừa bãi. Các bậc phụ huynh vẫn mang các con em họ đến công trường.

Cô em họ tôi và tôi đều cùng sinh vào năm 1938, nhằm vào năm Dần. Nếu vị quan giữ sổ hạ sanh của thiên đình không đọc nhầm tháng 9 thành tháng 10 và đẩy cô em họ của tôi vào đời sớm hơn thì có nhẽ chúng tôi đã có cùng ngày sinh nhật. Sự thực thì 25 năm sau vị quan đó đã cố sửa chữa sự sai lầm của mình lúc trước bằng cách cho 2 đứa con gái của hai gia đình chúng tôi cùng sinh vào ngày 24- 3. Nhưng lúc đó thì sự thể đã quá trễ. Sự lơ đễnh của ông đã chuyển đổi số mệnh của cô em họ tôi hoàn toàn. Bố mẹ cô em họ tôi đặt tên cô là Tiểu Di có nghĩa là “thay đổi chút ít.”

Cứ mỗi khi phải trả lời các câu hỏi khó thể trả lời, tôi thường làm như những người Trung Hoa khác vẫn làm. Tôi đem vấn đề số mệnh làm câu an ủi. Có lẽ trời đất đã định trước tất cả những chuyện hạn vận của tất cả mọi người. Và có lẽ số phận của mỗi người hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến những ý định hoặc sự xứng đáng của người đó trong đời sống. Kể từ ngày ấu thơ, em tôi cứ hết nhiễm quai bị lại bị đậu mùa trong khi tôi lại chẳng hề đau ốm gì cả. Biết đâu tôi đã lấy hết vận hên của những người thân nên lúc nào tôi cũng được hưởng được nhiều may mắn trong khi những người thân khác của tôi lại phải gặp nhiều rủi ro? Ý nghĩ này cứ ám ảnh tôi mãi.

* * *

Trong chuyến tản cư chạy Nhật năm 1944, gia đình tôi từ Thượng Hải xuôi qua Hồ Nam tới Quế Lâm và cuối cùng đến Trùng Khánh, thủ đô của Trung Hoa trong thời chiến. Ông thân tôi dự định ở luôn Trùng Khánh cho đến ngày cuộc chiến chấm dứt. Năm đó, tôi năm tuổi. Tôi ước rằng nhà tôi có một căn nhà với một khu vườn để trồng đậu. Nghe tôi ước, ông thân tôi mỉm cười, nói nếu tôi ngoan thì điều ước của tôi sẽ biến thành sự thực. Ông vừa nói xong, tôi đã mặc cả thêm: Không phải nhà làm bằng đất bùn và rơm như những nhà khác mà là nhà gạch kìa! Ông thân tôi nhăn mày bảo rằng điều ước đó thật khó vì trong toàn vùng chẳng có chỗ nào bán gạch cả.

Rồi trong khi đào nền để xây nhà mới cho gia đình tôi, những người thợ làm nền đào đúng vào một kho gạch nằm ngay phía dưới mặt đất. Ông thân tôi giải thích rằng có lẽ nhiều năm trước một quả bom đã chôn luôn căn nhà bằng gạch phía dưới. Tôi tự hỏi chẳng hiểu mình đang lấy phước lộc của ai?

Căn nhà mới này cũng chính là nơi mà Cô Má đưa cô em tôi đến lần đầu trên một chiếc xe vận tải chỉ còn tạm chạy được. Tiểu Di bị cột chặt vào một bên thành xe để tránh tai nạn. Lúc chiếc xe đi qua đường núi dốc thì một chiếc bánh sút ra khiến tất cả hành khách và tài xế ngoại trừ Tiểu Di phải xuống xe đi tìm những con ốc dọc theo mé núi.

Thế là hai đứa bé sáu tuổi có dịp gặp nhau. Chúng tôi thân nhau ngay từ khi mới gặp và những chuyện nghịch ngợm của chúng tôi thường khiến những người lớn phải điên đầu gấp hai. Chúng tôi thích ngồi trên ngọn cây thay vì ngồi ghế và thích kể chuyện ma cho nhau nghe. Mỗi tối chúng tôi ngủ chung và tối nào cũng cãi nhau về chuyện đứa nào sẽ trốn và đứa nào sẽ tìm trong trò chơi năm mười ngày mai. Chúng tôi sưu tầm những con côn trùng, sưu tầm tem, cùng nhau xem những con tơ tằm biến thành bướm và cùng ngồi với nhau ở một góc nhà mở tung một cái áo len mới để dạy nhau đan. Chúng tôi thích chạy đua lên đồi, thích ôm các tảng đá mát lạnh mỗi khi đổ mồ hôi. Chúng tôi cùng ghét ngủ trưa, cùng ghét chuột và cùng ghét những lúc các em nhỏ chúng tôi lúc nào cứ khóc đòi theo nhập cuộc. Ai cũng bảo rằng chúng tôi thật chẳng khác nào một đôi chị em song sinh.

Hai năm sau đó, cứ mỗi lần có ngày nghỉ là Tiểu Di lại đến ở nhà tôi vì nhà tôi là điểm giữa của hai nơi chỗ bố và mẹ cô làm việc. Ở Trùng Khánh, tất cả gia đình chúng tôi có dịp gặp nhau và cuộc gặp gỡ nào cũng rộn ràng đủ thứ trò chuyện, nhất là vào những tối khi chúng tôi thay phiên trình diễn ngay giữa phòng khách. Tất cả mọi người đều trình diễn trừ bà thân tôi. Bà nhất định không chịu hát, múa và cũng nhất định không chịu tham gia bất cứ màn trình diễn nào dù chỉ là ngâm ít câu thơ. Bà một mực nói rằng nếu không có bà làm khán giả thì buổi trình diễn không tài nào hoàn hảo được. Điều này thật đúng. Bà là người cười lâu nhất, dễ khóc nhất và vỗ tay to nhất. Tất cả chúng tôi họp thành một gia đình nhỏ thật đầm ấm.

Kể từ ngày trở về Trung Hoa, tôi đã gặp cô em họ nhiều lần. Vào đầu xuân 1989 chúng tôi đã cùng sống với nhau cả tháng. Trước khi lên đường trở lại Hoa Kỳ tôi đã khuyên Tiểu Di không nên cố đi tàu lửa xuyên đêm để đi tiễn tôi. Nhưng cô em họ tôi vẫn có mặt ở trụ sở CBS. Lúc đó, vì quá mệt mỏi, tôi chỉ chào sơ cô em rồi đưa cô vào một góc phòng ngồi uống Coca-Cola với một đống báo. Tôi đang bận rộn đến độ phải làm cả ba việc cùng một lúc -Làm vừa lòng những ký giả lúc nào cũng đòi hỏi tôi phải đưa ra những suy luận sâu sắc, điều khiển màn ảnh TV, bốc hết cú điện thoại này đến cú điện thoại khác, thay đổi ngôn ngữ liền liền, lúc thì nói tiếng Tàu, lúc thì nói tiếng Anh. Tôi phải liên tục loan báo những tin tức quan trọng và thường thiếp ngủ luôn ngay trên bàn để có thể theo dõi luôn những biến chuyển vào lúc đêm.

Lúc trời gần tối, tôi đến chỗ Tiểu Di ngồi để xin lỗi. Tôi khuyên Tiểu Di nên về thẳng chỗ nhà bạn cô, nơi cô dự định sẽ ở qua đêm. Tuy giờ đó đang lúc giới nghiêm nhưng luật giới nghiêm vẫn chưa khắt khe lắm. Nghe tôi nhắc Tiểu Di rưng rưng nước mắt. Bất chợt tôi cảm thấy bất nhẫn vì đã đối xử không phải với Tiểu Di. Tôi đã vô tình khiến Tiểu Di cảm thấy tôi có ý hắt hủi cô.

Tôi quàng tay qua người cô em, kéo cô lên phòng ngủ và hứa rằng tôi sẽ lên ngay sau khi làm xong những công việc khẩn cấp cần thiết. Cô gật đầu, yên lặng nhưng tôi biết cô đang nghĩ đến Cô Má. Khi Cô Má qua đời, chỉ còn tôi là người Trung Hoa duy nhất biết cô từ ngày còn thơ ấu trước khi cha mẹ cô ly dị, lập gia đình trở lại và có những anh em cùng mẹ khác cha và cùng cha khác mẹ khác. Trước lúc gia đình cô bị khó khăn về vấn đề tài chánh, Tiểu Di thường bị buộc phải di chuyển qua lại giữa hai chỗ ở. Cô đã đánh mất cả những sự can đảm ngoài mặt và trở thành một thứ khách ở lâu hơn nơi mời muốn giữ. Cô ăn uống dè dặt, nói năng dè dặt và lúc nào cũng rón rén sợ mọi người không vừa ý.

Một giờ sau, khi mọi chuyện đã xong, tôi trở lại phòng ngủ, Tiểu Di hỏi xem tôi còn nhớ lúc cô đến gặp tôi lần đầu ở Trùng Khánh như thế nào không? Dĩ nhiên tôi còn nhớ. Cô hỏi thêm: Em thường nghĩ chẳng hiểu nếu lúc đó chiếc xe vận tải cà rịch, cà tang đó lăn luôn xuống đồi thì chẳng hiểu có gì khác lạ xảy ra không? Tôi nhắc cô rằng xe không hề lật. Tiểu Di dường như không nghe câu trả lời của tôi. Cô tự trả lời câu hỏi của mình: “Dù xe có lật đi nữa thì cũng chẳng có chuyện gì xảy ra cả.” Chẳng hiểu sao lúc nào em cũng chỉ là một đứa vô tích sự!”

Tôi đề nghị cô gọi nói chuyện với ông bà thân tôi ở Hoa Kỳ. Cô cười. Trong khi cô nói chuyện với ông bà thân tôi, tôi nghĩ về tất cả những điều cô em họ tôi đã làm mà có lẽ tôi chẳng bao giờ làm được:

Ngày còn ở đại học cô đã bị buộc phải học ngành kim khí. Trong suốt bốn tháng, ngoài giờ học, cô phải làm thêm 8 tiếng với một người thày 60 tuổi. Mỏ than chỗ cô làm việc đã được Anh Quốc khi phá vào thế kỷ thứ 18 và sâu có đến cả ngàn mét. Ở đáy mỏ, các đường hầm hắt ra những làn ánh sáng phát quang xanh mờ mờ. Vậy mà Tiểu Di không chút sợ sệt. Cô hăm hở gia nhập phong trào nâng cao tổng sản lượng quốc gia. Mỗi ngày cô đào 30 thúng than qua ánh sáng đèn pin trong khi chuột bọ bu quanh khẩu phần hai khúc bánh mì khô của cô. Ở mỏ than, tai nạn xảy ra rất thường xuyên. Những thanh gỗ chắn các bức tường trong đường hầm thường hay sụp. Có lần một cục lửa khổng lồ xém nuốt chửng Tiểu Di. Cô thoát nạn bằng cách hụp mặt xuống một ống cống đầy sình. Một lần khác, trong khi Tiểu Di đang làm việc thì bỗng có một mùi khét khác lạ. Mọi người dục Tiểu Di nên rời chỗ làm việc ngay, nhưng cô lại quay vào để tìm ông thày. Thày cô mắng cô thậm tệ về tội ngu dốt. Ông hỏi cô có biết rằng chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng có thể thiêu hủy cả nguyên chỗ làm việc hay không? Ông mắng cô chẳng nhẽ lại không hiểu chuyện thà chết một còn hơn chết cả hai người?

Sau khi đã hoàn thành lớp thực tập mỏ than, cô tiếp tục theo học. Ngày nào cô cũng phải chạy 1500 mét cùng với những sinh viên khác và phải canh tác trồng khoai để phụ thêm vào khẩu phần ăn quá ít ỏi.

Tuy rằng mỗi đêm cô chỉ ngủ có 5 tiếng và phải ngủ ngay trong những chỗ toàn là sâu bọ xung quanh, Tiểu Di vẫn vui vẻ với cuộc sống cộng đồng.

Tiểu Di cũng lập gia đình với người bạn cùng lớp giống tôi. Nhưng khác tôi, cuộc đời cô đau khổ hơn. Người cô yêu bị liệt vào loại phản động, bị đuổi học và bắt làm phu mỏ, khi mỏ than sập, anh ta bị chôn sống luôn trong đó.

Chồng cô là một người tốt bụng. Khi còn là sinh viên, anh là người đầu tiên mắc chứng phù thủng vì lúc nào cũng chia khẩu phần của mình cho những bạn bè khác cùng lớp. Lòng rộng lượng của anh khiến mọi người đều cảm mến và tự nhiên anh trở thành người lãnh đạo. Tuy thế, những người lạ chỉ thấy anh là một người quê mùa mặc áo quá chật, quần quá ngắn, không biết nhảy nhót, ca hát hoặc gia nhập các cuộc vui. Lúc nào anh cũng chỉ đứng ngoài, ngoại trừ những lúc có việc cần làm.

Sau ngày thành hôn, vợ chồng Tiểu Di cùng dọn về quê chồng, một vùng quê ở miền núi có con sông đổ từ miền Đông Bắc cắt ngang. Vì sinh trưởng ở đây, chồng Tiểu Di vẫn còn giữ những phong tục địa phương. Anh gọi vợ là “cô nuôi” để nhấn mạnh vai trò của cô là người nội trợ chuyên chăm sóc miếng ăn, miếng uống cho cả gia đình. Anh không bao giờ ngồi, đi bộ hay nói chuyện với vợ trước công chúng; mỗi lần có khách đến anh ăn uống tiếp đãi khách và để mặc cho vợ đứng đợi ngoài cửa.

Trong hai năm đầu, vì không có chỗ ở riêng, họ sống ở hai chỗ nội trú riêng biệt và chỉ gặp nhau vào ngày chủ nhật trong căn phòng dành riêng cho những đôi vợ chồng gặp gỡ. Cuối cùng khi họ có chỗ ở riêng, Tiểu Di hiểu rõ hoàn cảnh cô đơn của một người không có gia đình nên cứ một mực khăng khăng bắt mẹ chồng phải rời làng cùng đến ở chung với vợ chồng cô.

Vấn đề phải chung sống với mẹ chồng không phải là một vấn đề dễ dàng. Mẹ cô không biết đọc, không biết viết và gia đình cô lại quá nghèo không có đủ tiền mua Radio. Hơn nữa, mẹ chồng cô lại là một người đàn bà đã có lần cột đá vào chân, bước xuống sông để tự tử khi biết chồng đã có con với một người đàn bà khác. Rồi trước khi tự tử, bà lại nghĩ đến đứa con trai mới 4 tuổi và đổi ý. Nhưng sau khi trở về, lòng bà lúc nào cũng nghi ngờ đứa con trai duy nhất rồi đây cũng sẽ bội bạc bỏ bà như bố nó. Bà nghi ngờ mọi người và ít khi đặt chân ra khỏi cửa.

Tuy vậy, bà vẫn nói chuyện với Tiểu Di mỗi khi cô làm việc ở mỏ than về. Bà thường nói chuyện với Tiểu Di cho đến 7 giờ. Rồi khi nghe có tiếng xe lửa đáp xuống chỗ nhà ga gần đó thì bà chạy ngay đến chỗ sưởi ngồi xếp bằng hút thuốc, mắt nhìn ra cửa chờ đợi. Và khi nghe rõ tiếng bước chân con trai thì bà lại làm ra vẻ đau khổ như thể có ai vừa làm buồn lòng bà để hy vọng nghe được tiếng vỗ về của con.

Nhưng chồng Tiểu Di lại chẳng còn hơi sức để chú ý đến mẹ. Mới 5 giờ sáng anh đã phải lên đường làm việc khi nhiệt độ còn ở -5 độ C. Sau đó anh phải làm việc quần quật cả ngày để trám những vết rạn ở đầu mũi khoan than. Lúc nào anh cũng lo dành dụm khẩu phần bánh mì cho gia đình và đến giờ đó ngoài đến bát súp cải nóng bốc khói trên bàn anh chẳng còn thời giờ để chú ý thêm chuyện gì khác. Anh thường ngủ gục trên bàn và mẹ anh lại cảm thấy bà bị bỏ rơi.

Mỗi khi có ngày lễ nghỉ, Tiểu Di cố tìm cách nói chuyện riêng với chồng bằng cách xin cho cô cùng đi với anh để mua ít kim găm ngoài tiệm tạp hóa. Nhưng nếu chồng Tiểu Di đồng ý thì những người hàng xóm lại chê cười anh là một người đi đâu cũng phải có “cô nuôi” đi theo. Bởi thế, câu trả lời lúc nào cũng là không.

Trong suốt 16 năm, cô ngủ chung giường với chồng một bên, mẹ chồng một bên và cô chẳng thể làm gì khác hơn ngoài việc nhắm mắt chấp nhận số phận…

Khi còn sống trong ký túc xá, Tiểu Di hạ sinh một đứa con gái. Mỗi ngày cô phải cột đứa bé trên lưng và trèo núi suốt một giờ đồng hồ để đến nơi làm việc. Cô đã nghe rằng người ta chẳng thể có mang nếu còn đang cho con bú nhưng cô vẫn có thai. Vì quá nghèo và không thể nuôi thêm một đứa bé nữa, cô đã nghĩ đến chuyện phá thai nhưng cuối cùng lại thôi vì thân thể quá yếu và vẫn chưa hoàn toàn lại sức sau lần sinh đứa con đầu.

Sau khi đứa bé thứ hai sanh được ít lâu thì cả hai đứa đều bị bệnh. Bác sĩ đề nghị nên cho cả hai vào nhà thương. Nhưng làm sao cô có đủ tiền? Trong túi cô chỉ có được vài quan. Nghe chuyện cô xong, một người làm cùng sở thương hại cho cô mượn tiền.

Thế là Tiểu Di và mẹ chồng mỗi người bế một đứa bé lên xe lửa đến nhà thương. Khi đến nơi, bác sĩ ở nhà thương nói rằng tuy Tiểu Di có thể tự săn sóc thuốc thang cho đứa bé thứ hai, đứa lớn nhất cần phải giải phẫu. Tiểu Di đành phải ra xe lửa quay về, để mẹ chồng ở lại nhà thương chăm sóc đứa con gái lớn. Tiểu Di vừa về đến chỗ ở thì nhà thương gọi cho biết có biến chứng trong cuộc giải phẫu. Con cô chết ngay khi bác sĩ đang mổ cổ họng.

Tiểu Di chẳng biết phải an bày đứa con cả thế nào cho hợp lẽ. Phong tục địa phương cấm không cho mang thi thể đứa bé về nhà. Phong tục cũng cấm không cho chôn trẻ em. Nên bỏ thi thể đứa bé trong rừng cho chó sói? Nên ném đứa bé xuống sông? Nên để xác đứa bé trên những mỏm đá cho diều hâu rỉa xác hay nên bỏ chung với những rác rưởi khác mà vứt đi? Tiểu Di chẳng tìm được câu trả lời nào cả. Cô chỉ biết rõ một điều: Từ nay, cô chẳng còn làm được bất cứ điều gì cho con cô được nữa, dù chỉ là một việc hết sức nhỏ nhặt như quét mộ cho con.

Cô vừa cố kiên nhẫn chăm sóc đứa bé thứ hai cho bình phục lại, vừa cố an ủi chồng, vừa cố an ủi mẹ chồng.

Đến ngày giỗ đầu của đứa bé, Tiểu Di sụt 15 ký. Nếu bác sĩ không sớm tìm ra căn nguyên sự mệt mỏi của cô là do chứng đau gan thì có lẽ cô vẫn tiếp tục lê thân đi làm các công việc ở nhà, ở xưởng giữa mùa đông rét cắt da với món cơm dưa thường xuyên. Năm đó ngay cả lò sưởi cũng khó đốt vì lệnh chính phủ chỉ cho phép mua than từ Bắc Hàn và than Bắc Hàn là một loại than rất khó đốt.

Tiểu Di chỉ có thể bình phục nếu cô được sống ở một chỗ nào khác tương đối đỡ hơn. Bởi thế, cô sửa soạn lên đường về Thiên Tân để sống với mẹ ruột cô. Trước đêm cô rời nhà trời đổ mưa dữ dội. Biết rằng chồng cô quên dù, sáng đó cô vội vàng đến nhà ga. Hôm đó gió thật mạnh và mặc dù đã có dù, và nhà ga chỉ cách nhà cô khoảng 5 phút đi bộ mà quần cô từ đầu gối trở xuống dày dép đều ướt nhẹp. Khi cô đứng chờ chuyến xe lửa, cảm giác tội lỗi vì phải bỏ con cho mẹ chồng và chồng trông nom khiến cô cảm thấy hoa mắt, nhức đầu. Chồng cô trong suốt năm đó chỉ có được 3 ngày nghỉ và nếu nghĩ cho cùng thì chính chồng cô mới là người cần được nghỉ ngơi chứ không phải cô.

Một phút sau khi xe lửa dừng lại, chỗ bến đáp những người phu mỏ đứng đông nghẹt. Tiểu Di nhìn mãi mà chẳng phân biệt được rõ nét mặt họ. Mặt người nào cũng đen thui vì nhọ, chỉ thấy mỗi đôi mắt trắng dã và hàm răng qua dưới màn ánh sáng xanh mờ mờ của bầu trời đang mưa. Mãi đến khi chồng cô bước đến gần sát bên cô mới nhận ra để đưa dù cho chồng. Chồng cô nhận dù một cách lơ đãng, không một tiếng chào chứ đừng nói đến chuyện giới thiệu cô với những bạn bè đang đứng nói chuyện với anh. Anh rảo bước, bỏ mặc vợ lủi thủi lội bộ một mình về giữa cơn mưa tầm tã. . .

Lúc bước xuống ga ở Thiên Tân, Tiểu Di nhìn thấy ánh mắt kinh ngạc của mẹ cô khi hai người đưa mắt nhìn nhau. Sau hai tuần lễ Cô Má hết sức chăm sóc, Tiểu Di vẫn chưa dậy nổi một mình. Đã đến lúc Cô Má lại phải trở về trường để tiếp tục dạy học như những tất cả các giáo viên khác. Sáng đó, Tiểu Di thức dậy và nhìn thấy một người thanh niên vừa cao, vừa đẹp trai nhìn cô mỉm cười. Cô dụi mắt cho tỉnh ngủ hẳn. Anh ta biến mất. Tiểu Di nghĩ thầm: Đây chắc hẳn là một giấc mơ. Trong khi đó thì người đàn ông quay lại miệng vẫn mỉm cười, tay cầm ly nước. Đến lúc đó Tiểu Di mới nhận ra rằng cổ cô đang khô khan tột độ. Người thanh niên vẫn không nói một câu, chỉ cúi xuống nhẹ nâng đầu cô và từ từ nghiêng ly cho nước rót vào miệng cô. Lúc nào anh ta cũng mỉm cười.

“Anh là ai?” Cô hỏi.

Anh gật đầu.

“Anh làm gì ở đây? Làm sao anh vào đây được? Anh có phải là bạn của bà cụ tôi không?”

Anh ta vẫn chẳng nói gì, chỉ mỉm cười. Tuy rằng ly nước đã cạn mà cô vẫn chẳng đẩy anh ra, cô cũng chẳng thấy khó chịu khi cô hỏi lại mà anh ta vẫn chỉ đáp lời bằng nụ cười và sự im lặng.

Anh từ từ đứng lên và lui ra cửa.

Tiểu Di chẳng thể mở mắt. Khi cô mở mắt lại lần thứ hai thì mặt trời đã chiếu xuyên xuống quá nền nhà. Cô mỉm cười vì nhớ lại giấc mơ và cố ngồi dậy. Lòng cô không khỏi có chút hoang mang khi nhìn thấy cái ly trống nằm bên cạnh giường. Phía dưới là một tờ giấy nhỏ có ghi chữ. Nét chữ thật đẹp nhưng không phải là nét chữ của bất cứ người quen nào cô biết.

Tôi sẽ mang điểm tâm cho cô. Lúc nãy tôi không trả lời cô được là vì tôi không nói được. Tôi vừa câm, vừa điếc. Bạn bè gọi tôi là Hữu. Tôi đang trên đường về nhà sau buổi làm ca đêm tối qua thì gặp Cô giáo Bao. Cô bảo rằng con gái cô đang bệnh và không người chăm sóc nên tôi tình nguyện đến để chăm sóc đỡ.

Trong mùa xuân đó, Tiểu Di được biết lúc trước Hữu là một người thợ lau sàn tàu cho một chiếc tàu Anh Quốc. Trong thời gian săn sóc Tiểu Di thì anh đang là thợ sơn của một xí nghiệp. Hữu rất thích bơi và có thể bơi hàng giờ giữa những chỗ nước lạnh như băng. Anh tự mình may lấy tất cả quần áo, kể cả từ chiếc khuy áo trở đi. Chiếc khuy nào anh cũng khắc hình cái neo. Có lần một người tài xé cán nát chiếc xe đạp của Hữu vì anh không chịu di chuyển sang chỗ khác khi người tài xế bóp còi. Lần đó, anh đã kéo người tài xế ra khỏi chiếc xe vận tải, lái chiếc xe ra khỏi tỉnh để vứt bỏ. Trong số tất cả những người Tiểu Di biết từ trước đến nay, Hữu là người hiền từ chất phác nhất. Anh thích đọc tất cả mọi loại sách, và thích làm thơ. Hữu nói với Tiểu Di anh có ý muốn lập gia đình với Tiểu Di để được làm bố những đứa con cô.

Sau khi cảm thấy đỡ hơn, Tiểu Di lại trở về quê. Cô kể lại chuyện Hữu và hỏi chồng cô nghĩ cô nên đối xử với Hữu ra sao? Chồng cô rướm nước mắt vì hối hận, xin cô tha lỗi cho anh và ở lại. . . Con gái Tiểu Di là Lệ Lệ bị kết án tù bốn tháng năm cô 17 tuổi. Lệ Lệ đến thăm một người bạn vào lúc người tình của cô ta đang say và đang xông vào nhà hăm dọa cô. Bạn của Lệ Lệ vừa mới cắt đứt quan hệ tình cảm với anh ta. Mới đầu thì đôi bên cãi vã sau đó xảy ra cuộc ẩu đả. Người tình cũ vật cô bạn của Lệ Lệ xuống và liên tục đánh vào mặt cô ta. Lệ Lệ cố kéo anh ta ra nhiều lần nhưng anh ta xô cô mạnh vào tường. Nếu anh ta không dừng tay, Lệ Lệ biết chắc cô bạn thế nào cũng bị thương vì thế cô chạy vào bếp lấy dao đâm thẳng vào vai anh ta.

Cảnh sát không hề hỏi nguyên do của vụ đâm chém, mà lại nói Lệ Lệ đáng nhẽ phải lên tiếng cầu cứu. Hơn nữa, họ còn nói thêm rằng cô là người “lúc nào cũng sẵn sàng gây sự,” và ẩu đả. Chưa học xong trung học, cô đã sớm chọn đường “đi làm”. Lệ Lệ thường bán những vật dụng tạp hóa ngoài chợ và đã nhiều lần bị bắt vì tội đánh những đứa bé hơn. Mỗi lần bị bắt như thế cô lại khai rằng những đứa bị đánh là những đứa cố tình ăn cắp hàng của cô.

Theo luật lệ địa phương thì mỗi khi xảy ra những việc tương tự như vụ Tiểu Di, cha mẹ thường phải chạy tiền cho cảnh sát hoặc dùng những đường dây quen biết xoay sở cho đứa bé thoát khỏi tù tội. Nhưng Tiểu Di nhất quyết không làm như vậy. Cả hai vợ chồng cô đều khinh bỉ chuyện hối lộ. Cả hai đều nhất quyết không chịu thua cuộc dù rằng sự bướng bỉnh của họ sẽ khiến con gái họ bị tù bốn tháng.

Vì thế mỗi ngày Tiểu Di lại đến tù thăm con. Cô mang cho con sách vở và những món ăn ngon hơn những món của chính vợ chồng cô ăn ở nhà. Rồi cứ mỗi lần hết giờ thăm thì người khóc lại là Tiểu Di.

Sau khi nói chuyện với ông bà thân tôi ở Hoa Kỳ xong, tinh thần Tiểu Di có vẻ phấn chấn hơn. Khuya đó, lúc chúng tôi cùng nhau ăn tối, cô thắc mắc chẳng hiểu bao lâu nữa chúng tôi mới có dịp gặp lại.

Tôi trả lời: “Chắc chắn là không phải sau 27 năm như lần đầu. Biết đâu chúng ta lại gặp nhau ngay trong mùa thu này cũng nên.”

Tiểu Di nói tiếp: “Có lẽ lần sau, khi chị đến Trung Hoa chị em mình có thể cùng đến Trùng Khánh đi chơi với nhau.”

Tôi gật: “Ừ, thì đi nhưng về Trùng Khánh làm gì? Chỗ đó xấu lắm.”

“Em thấy đâu có xấu. Em vẫn còn nhớ căn nhà gạch đó rõ lắm. . . Chị có còn nhớ đêm bố mẹ em cùng hát bài ru con với nhau không? Chẳng bao giờ em quên được khung cảnh đêm đó chị ạ!”

Nói xong, cô em họ tôi vừa cười vừa kéo tay tôi như kéo tay một đứa bé gái vào giữa phòng. Cô bỗng cất tiếng hát. Giọng hát nghe ngọt ngào và dịu dàng chẳng khác nào bàn tay một người mẹ đang khẽ đặt vào trán một đứa con đang lên cơn sốt.

 

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"