Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần

Tác giả:

Chuyển Tiếp


Thứ bảy ngày 15 tháng 4, 1989…Hồ Diệu Bang, Cựu Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản qua đời.

Vào lúc tôi viết lại câu chuyện này thì người kể chuyện cho tôi vẫn còn bị tù. Câu chuyện của anh ta như sau:
Để giết thời giờ, một tù nhân đã cố nhặt những mảnh vụn kim loại óng ánh trong những đống rác sau mỗi lần quét chỗ làm việc. Những mảnh kim loại này là những mảnh rất nhỏ thường hay rớt ra mỗi khi người ta cắt kim loại. Anh ta bỏ những mảnh vụn kim loại đó vào một cái chai. Nhiều năm sau, khi được thả, vì chẳng còn gì để mang theo nên anh ta mang theo những mảnh kim loại vụn đó để đánh dấu những năm tháng ròng rã trong tù.

Về nhà, anh vẫn sống theo thời khóa biểu của một tù nhân, y như thời khắc giờ tù đã định khi anh còn trong ngục. Vì đã quá già, anh không còn làm việc được nữa. Hàng ngày anh vẫn đi bộ trong những khoảng cách vạch sẵn hệt như lúc anh còn trong ngục -Bốn bước tiến, bốn bước lùi, bốn bước tiến rồi bốn bước lùi.

Rồi để giết thời giờ, ngày nọ anh đập vỡ cái chai để đếm thử xem anh đã nhặt được bao nhiêu mảnh kim loại vụn. Đập xong cái chai anh bật khóc. -Giữa những miếng mảnh chai ngổn ngang, đống sắt vụn đã rỉ ra và ăn liền vào nhau thành hình cái chai.

Tôi sắp sửa rời Bắc Kinh. Sau ba năm sống cuộc đời của một phu nhân đại sứ Hoa Kỳ ở Trung Hoa, cuộc sống của tôi cũng đầy ắp mâu thuẫn chẳng khác gì những mâu thuẫn truyền đời của Trung Hoa. Tôi vừa làm việc, vừa không làm việc. Tôi vừa thay đổi lại vừa không thay đổi. Tôi vừa có đầy dẫy bạn bè, vừa đơn độc. Tôi vừa có danh vọng lại vừa bị nghi ngờ. Tôi vừa là kẻ bàng quan lại vừa là người trong cuộc. Trong khoảng thời gian đó, tôi chưa bao giờ vui hơn mà cũng chưa bao giờ buồn hơn.

Trước khi những mẩu chuyện ở Trung Hoa vượt quá tầm nhận định của tôi hoặc thay đổi tôi trở thành một thứ khuôn mẫu cứng ngắc, tôi muốn tổng hợp tất cả mọi sự kiện để tìm hiểu xem đâu là căn nguyên của sự mâu thuẫn. Tôi chẳng thể làm được điều này ở Trung Hoa. Dĩ nhiên những vấn đề phức tạp của Trung Hoa không cho phép tôi được rảnh rang để có thể tổng hợp được những mẩu chuyện đó. Trung Hoa lúc nào cũng náo nhiệt, lúc nào cũng lũ lượt không ngừng, hết chuyện này lại đến chuyện khác. Trung Hoa lúc nào cũng đầy ắp hình ảnh đáng viết. Gần như đời sống của mỗi người Trung Hoa là một câu chuyện. Ở Trung Hoa, ngay cả cuộc sống của tôi cũng đã quá phức tạp. Tôi cần có cả không gian lẫn sự yên tĩnh. Tôi cần trở về Hoa Kỳ.

Nhà tôi, đại sứ Winston Lord, cũng vì một lý do riêng nào đó, đã quyết định từ chức từ mùa hè năm trước. Tuy thế ông vẫn còn ở lại cho đến khi vị tân tổng thống gửi một đại sứ mới sang thay thế.

Vào trưa ngày 15-4-1989, giữa lúc chúng tôi đang sửa soạn cho buổi tiệc cuối để từ giã bạn bè thì tòa đại sứ điện thoại cho biết tin ông Hồ Diệu Bang qua đời. Nhà tôi đã có lần gặp cựu Tổng Thư Ký Hồ Diệu Bang ở Trung Nam Hải. Trung Nam Hải là một vùng biệt lập dành riêng làm khu cư ngụ cho giới lãnh đạo Trung Hoa. Trong những vùng biệt lập đó, giới lãnh đạo sống cuộc đời vương giả chẳng khác nào những vua chúa thời xưa. Rất ít khi họ bước ra khỏi phạm vi của những bức cấm thành cao ngất. Riêng tôi thì vẫn chưa gặp Hồ Diệu Bang bao giờ.

Hồ Diệu Bang đã mất hết quyền lực từ năm 1987. Ông bị Đặng Tiểu Bình cất chức dưới áp lực của nhóm bảo thủ. Hồ Diệu Bang là một trong những người hiếm có trong giới lãnh đạo Trung Hoa. Ông đã sống đúng với con người thật của ông. Và chính vì thế nên ông đã vượt quá những khuôn khổ giới hạn của Đảng. Ông chấp nhận tình cảm. Ông có đam mê và là một con người ly kỳ. Dáng người Hồ Diệu Bang nhỏ thó, thấp hơn cả người đỡ đầu ông là Đặng Tiểu Bình. Tuy thế, người ông lúc nào cũng đầy ắp năng lực. Ông di chuyển liền liền nên trông ông lúc nào cũng như người đang nhảy. Có lúc trông ông gần như đong đưa trên đầu của những cơn lốc thời sự. Có lần ông đã lên tiếng đề nghị Trung Hoa bỏ đũa để dùng nĩa cho hợp vệ sinh. Một lần khác, ông đã chỉ trích tham nhũng ở những tầng lớp cao nhất của chính quyền.

Những cá tính của ông vừa làm người Trung Hoa thích ông mà đồng thời cũng làm cho chính họ xa ông. Thực ra vấn đề cải cách ở Trung Hoa đã tiến hành kể từ cả thập niên trước nhưng nói chung, phản ứng của người dân Trung Hoa đối với vấn đề cải cách vẫn chưa có gì rõ rệt. Một mặt, họ kinh tởm những bộ mặt đạo đức giả của giới lãnh đạo, nhưng mặt khác họ lại quen với những quan niệm rằng nếu đã là người lãnh đạo thì ít nhất cũng phải có được một tư cách nhất định nào đó của người lãnh đạo. Kể từ thời Tần Thủy Hoàng cho đến thời Mao chủ tịch thì tư cách của người lãnh đạo phải là cương quyết, cứng rắn và trang nghiêm. Tư cách lãnh đạo này đã hẳn không hợp với tính tình của Hồ Diệu Bang.

Vì biết rằng người Trung Hoa không có cảm tưởng rõ rệt về Hồ Diệu Bang, tôi đã cố gắng không để tin tức Hồ Diệu Bang ảnh hưởng buổi tiệc tối của chúng tôi hôm đó. Khi quyết định dấu tin Hồ Diệu Bang, tôi đã quên rằng chết là một sự hoàn mỹ. Đây là một quan niệm cơ bản của rất nhiều nền văn hóa, nhất là nền văn hóa Khổng. Văn hóa Khổng lúc nào cũng coi trọng vấn đề tư cách. Tư cách vốn chỉ là những hình thái bên ngoài và lúc nào cũng có thể thay đổi chứ chẳng phải bất biến như những bản chất thật tiềm ẩn bên trong con người. Khổng Tử là một triết gia đặt nặng vấn đề tư cách. Ông cho rằng tư cách chính là sự biểu hiện của con người và lý luận rằng bắt người ta cùng một lúc phải thay đổi cả bản chất lẫn tư cách là đòi hỏi quá nhiều. Chỉ cần giữ được tư cách là đủ. Bởi vậy, người Trung Hoa lúc nào cũng xem trọng nghi lễ. Vì tang lễ là nghi lễ cuối cùng, họ thường làm tang lễ cực kỳ trọng thể. Tuy họ đang sống trong một thế giới chuộng ý thức hệ và xem trọng ý tưởng như thế giới ngày nay mà người Trung Hoa vẫn xem trọng tang lễ. Dĩ nhiên, nếu Trung Ương Đảng có thể nhắm mắt làm lơ cho phép dân chúng tổ chức đám tang của Hồ Diệu Bang thật trọng thể theo đúng phong tục Trung Hoa thì đây là một cơ hội cho sinh viên có dịp thành thực phát biểu cảm tưởng. Đã hẳn là giới sinh viên, thực sự có hảo cảm với một người lãnh đạo thiết tha với vấn đề cải cách, nhất là khi người đó lại bị nhóm bảo thủ dồn ra khỏi chính quyền. Họ muốn mượn dịp tang lễ để tưởng niệmù Hồ Diệu Bang và cũng để chứng tỏ sự lo lắng của họ đối với đất nước nữa. Các sinh viên trẻ đã mượn dịp tang lễ để tuyên dương với thế giới bên ngoài rằng Hồ Diệu Bang chính là vị anh hùng của phong trào dân chủ. Như thường lệ, khách đến dự tiệc giã từ của chúng tôi hôm đó vẫn đến sớm hơn giờ mời. Đây là một tập tục của người Trung Hoa khác hẳn với thói quen thích đến hơi trễ của người Hoa Kỳ. Tập tục này phát xuất là do những nhu cầu cần thiết của đời sống hàng ngày ở Trung Hoa. Thông thường thì trong những buổi tiệc riêng của chúng tôi, dù tôi có sửa soạn trước bao nhiêu đi nữa, tôi cũng vẫn trễ. (Nhà tôi thì lại có mặt đúng giờ gần như không sai một phút. Có lẽ đây là một trong những sự kiện chứng tỏ câu ngạn ngữ thông thường – Người Trung Hoa thay đổi để thích ứng, người Hoa Kỳ thì khăng khăng giữ chặt lấy tập tục của mình.)

Tối nay quang cảnh cũng chẳng có gì khác hơn thường lệ. Tuy rằng tôi đã xuống nhà sớm hơn nửa tiếng, mà một nhóm nhà văn đã tề tựu trước trong căn phòng mà chúng tôi vẫn gọi là phòng mùng 4 tháng 7. Có lẽ ngoài ngày 4 tháng 7 ra, chúng tôi chưa bao giờ dùng đến căn phòng đó. Trong những dịp Lễ Độc Lập thì đại đa số quan khách thường ăn uống và chuyện trò ngoài vườn trong khi ông đại sứ và những quan khách cao cấp trong giới chức Trung Hoa tề tựu ở phòng 4 tháng 7 để gia nhân tiện bề phục dịch. Đây là một tục lệ của địa phương mà cả tôi lẫn nhà tôi đều ghét. Chúng tôi khó thể tưởng tượng rằng ngay trong một xã hội không giai cấp như xã hội Trung Hoa mà nạn phân biệt giai cấp vẫn còn phổ thông.

Tôi vừa mới bắt chuyện với nhóm nhà văn thì họ đã ngỏ lời khen cách phục sức của tôi ngay. Hôm đó tôi mặc áo chẽn dài màu đỏ. Đây là màu thường phục của những công chức cao cấp của các đế quốc. Cách phục sức của tôi vào ngày nhà tôi từ chức do đó hơi có vẻ chua chát. Sau khi khen cách phục sức của tôi thì nhóm nhà văn lại tiếp tục bàn luận. Liệu có nên làm bộ trưởng hay không? Đây là vấn đề của một nhà văn ở Thiên Tân. Nhà văn này đã nghe phong phanh rằng có thể ông sẽ được chọn làm Bộ Trưởng bộ văn hóa. Thế là lại một lần nữa, những ý tưởng mâu thuẫn về vấn đề tham-chính của người Trung Hoa trở thành đề tài bàn luận. Người Trung Hoa vẫn coi chính trị làà cao quý hơn tất cả và họ đã ví cơ nghiệp chính trị như “những nấc thang của danh vọng.” Nhưng kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1949, khi Mao Trạch Đông đứng trên ngưỡng cửa ban công Thiên Bình và tuyên bố rằng Trung Hoa đã được giải phóng thì tham-chính lại trở thành một vấn đề nguy hiểm. Rất ít khi những nhân vật tham-chính được trở về với đời sống an bình. Kể từ ngày đó, nhiều chính trị gia đã bị hạ nhục hoặc đối xử tệ hơn cả hạ nhục nữa. Ở Trung Hoa, nghệ thuật được đưa ra nào phải là một thứ nghệ thuật vị nghệ thuật? Nghệ thuật được đặt ra chẳng qua chỉ để ca ngợi đường lối của Đảng ở một giai đoạn nào đó. Vì thế, cái gì được hoan hô hôm nay có thể là những cái cần phải loại bỏ ngày mai.

Tôi cho ý kiến người bạn rằng nếu được chọn làm Bộ Trưởng Văn Hóa thì anh nên nhận. Tôi nói rằng dù sao thì cương vị Bộ Trưởng Văn Hoá cũng hợp với một nhà văn có thiện chí và tha thiết với giới văn nghệ sĩ hơn là một nhân vật của Đảng đưa ra hoặc là một con ông, cháu cha nào đó của những người trong trung ương Đảng. Anh ta gật đầu miệng chậm rãi nở một nụ cười gần như toe toét. Tôi hơi nhíu mày vì bất chợt cảm thấy rằng có lẽ anh ta đang tơ tưởng ngầm đến những quyền lợi và tiền bạc đi đôi với chức vụ đó. Anh ta vừa nhịp ngón tay vừa nhắc nhở tôi rằng trước đây đã có lần tôi khuyên anh ta nên tham gia vào Đảng. Sau đó anh ta hỏi rằng lời khuyên đó bây giờ có nên thực hiện hay không? Tôi đỏ mặt. Trước khi đến Bắc Kinh, tôi thường nghĩ rằng thay đổi Đảng từ phía trong chẳng những chỉ là một cách đặt vấn đề thực tiễn mà còn là một trong những cách an toàn nhất nhất để tiến hành cải cách. Sau này, tôi không còn lạc quan như trước nữa. Sự nghi ngờ của tôi phát xuất từ chính những bạn bè của tôi đã tham gia vào Đảng. Nếu chính họ cũng chưa lạc quan thì tôi còn dám dựa vào đâu để lạc quan?

Trong khi những nhà văn khác bắt đầu bàn luận về đề tài Đảng cần phải được ưu đãi giới cầm bút thì tôi và nhà văn của vùng Thiên Tân tách dần ra khỏi đám đông. Vì chẳng biết bao giờ mới có dịp gặp lại nhau, tự nhiên chúng tôi cùng đồng ôn lại chuyện cũ. Chúng tôi kể lại những cảm tưởng trong các cuộc gặp gỡ ban đầu và đưa dần đến chuyện tại sao anh ta lại trở thành một trong những người bạn đầu tiên của tôi ở Trung Hoa.

Tôi rời Thượng Hải vào năm 1946 vào lúc tám tuổi. Hai mươi bảy năm sau tôi lại trở về Trung Hoa để khám phá một mối liên hệ đã gắn bó với tôi gần như vĩnh cửu. Vì rằng bất kể họ có đi xa đến đâu hoặc đi bằng lộ trình nào thì người Trung Hoa vẫn chẳng thể chạy vượt ra khỏi cái bóng của những thế hệ cha anh. Những cái hố trống trải trong tôi bỗng nhiên được đong đầy khi tôi trở về nguyên quán. Tôi nghe những câu chuyện của họ hàng kể lại và cố tưởng tượng cuộc sống của mình nếu còn ở Thượng Hải. Khi đi từ Quảng Châu tới Tây An, tôi đã nhận thấy được một khuôn mặt mới của Trung Hoa và gặp nhiều họ hàng già trẻ thân thích. Tuy rằng mỗi khi gặp lại họ hàng là mỗi lần có những buổi tiệc hội ngộ nồng nàn, tôi vẫn không thể ngờ trước được rằng mình lại có thể tìm được những người bạn thân hiếm có trong đời ở Trung Hoa.

Năm tôi trở lại là năm 1973, lúc đó ở Trung Hoa dân chúng vẫn còn bị cuộc cách mạng văn hóa ám ảnh. Mộtù vài người thân trong họ vẫn không dám gặp tôi. Đa số mọi người đều cố tránh gặp riêng người Hoa Kỳ. Họ lo sợ nếụ lỡ tiếp xúc với người Hoa Kỳ mà chẳng may vì vấn đề gì, họ bị chính quyền truy vấn thì chẳng ai có thể chứng minh rằng họ vô can. Tôi biết rõ sự sợ sệt của họ khi chính mắt nhìn thấy hai người cô tôi đi đâu cũng cẩn thận nắm tay nhau, dù chỉ là đi ở trong phòng. Kể từ đó, tôi thề sẽ tự kềm chế những cách tiếp xúc hoặc bộc lộ tình cảm một cách tự nhiên trước công chúng một cachá trực tiếp kiểu Hoa Kỳ.

Thế nhưng trong ngày cuối cùng ở Thiên Tân, sự tò mò kích thích đã khiến tôi quên cả dè dặt. Hôm đó, tôi chợt nhìn thấy một người Trung Hoa cao vượt khổ đi ngang nhà cô tôi. Khi người đó đi khỏi, tôi hỏi một người hàng xóm xem ông ta là ai. Người hàng xóm trả lời rằng người đó vừa là một lực sĩ nổi danh, vừa là một nghệ sĩ có tài và vừa là một nhà văn. Thế là tôi quên hết tất cả những lời đã tự hứa cần phải tự kềm chế. Tôi mời anh ta đến ăn cơm tối, mà quên hẳn rằng sự hấp tấp của tôi có thể dẫn đến nhiều chuyện không hay. Dù sao thì trước khi ông Kissinger giả vờ đau bụng để cùng nhà tôi đến gặp Thủ Tướng Chu Ân Lai, giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa cũng đã trải qua hai thập niên nghi kỵ. Hơn nữa, những người Hoa Kỳ thông thạo Hoa Ngữ và lại có liên hệ nhiều đến Đài Loan như tôi thường là bị nghi ngờ hơn cả. Tuy thế những phản ứng của một nhà văn lúc nào cũng là những phản ứng khó đoán và anh ta nhận lời.

Chúng tôi cùng nhau nói chuyện ở một tiệm ăn. Món vịt Bắc Kinh hôm đó chẳng khác nào một bữa ăn tinh thần. Chúng tôi bàn về sách vở, về nghệ thuật, về vấn đề cũ, mới. Cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên về những chuyện kỳ lạ đã xảy ra trong đời mình. Tôi kể rằng trước đây tôi định sẽ theo học ngành Hóa, nhưng tình cờ trong một cuộc nói chuyện với một chủ công ty xuất bản qua một buổi tiệc tôi nhận lời viết quyển Tuần Trăng Thứ Tám, một quyển tiểu thuyết viết về đời người em út của tôi ở Trung Hoa. Anh bạn Trung Hoa kể rằng khi tốt nghiệp trung học xong, anh chưa bao giờ mơ ước trở thành một nhà thể thao chuyên nghiệp, nhưng tình cờ khi xem một đội tuyển bóng rổ tập dượt ở công viên, anh bỗng được người huấn luyện viên của đội tuyển đó chú ý. Chuyện tình cờ này khiến anh trở thành một trong những tuyển thủ của đội bóng lừng danh.

Câu chuyện của chúng tôi đã khiến những người thân trong họ hàng tôi cười rộ. Tuy thế, tôi cảm thấy rằng dường như họ đã cố che dấu nước mắt sau những tiếng cười. Người nào hầu như cũng đã phải chịu đựng những cơn thịnh nộ của các đội Vệ Binh Đỏ trong năm đầu của cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Những vết thương đó vẫn chưa hoàn toàn lành hẳn. Và khi nhắc lại những chuyện tình cờ thì dù những chuyện đó có hài hước đến mấy cũng khó khiến họ tránh khỏi xúc động.

Để đổi đề tài, tôi cho mọi người xem ảnh. Trong lúc vội vàng tôi quên rằng trong bức hình có cả con chó của gia đình. Tôi vẫn muốn dấu hẳn điều này. Con chó của gia đình tôi ăn thịt bò hàng ngày, được bác sĩ khám bệnh cẩn thận hàng năm và còn được huấn luyện để học khỏi làm phiền lòng hàng xóm. Đối với những người Trung Hoa phải lo toan từ miếng ăn, miếng uống mỗi ngày thì cuộc sống của con chó và gia đình tôi thật chẳng khác gì cuộc sống xa hoa đọa lạc của những bà hoàng thời cổ. Tôi vừa bối rối, vừa luống cuống, chẳng biết nói gì cho hợp. Người bạn tôi mỉm cười: “Chị đừng nên để tâm đến những chuyện nhỏ nhặt đó chứ! Người ta ở đâu mà chẳng như nhau? Có lần tôi cũng có nuôi một con chim hót. Mỗi bữa ăn bà có biết là miếng ngon nhất để phần cho ai trước không?”

Anh bạn tôi quả chẳng những là người tài hoa mà còn là người tâm địa thật hiền lành và đáng quý.
Khi bữa tiệc tàn, anh nói rằng anh sẽ vẽ cho tôi một bức họa.
Tôi mơ tưởng ngay đến một bức họa thanh thoát nào đó và lòng thấy nao nao.
Anh bạn nói thêm: “Nhưng bà phải hứa rằng bà sẽ quay lại để nhận bức tranh và xem thêm phong cảnh Trung Hoa.”
Nghe anh nhắn nhủ, bỗng nhiên tôi cảm thấy hồi hộp.

Hai năm sau anh bạn viết thư báo rằng: “Bức họa đã hoàn tất.” Bức thư đến thật đúng lúc. Tôi và nhà tôi sắp cùng Ngoại Trưởng Kissinger sang Bắc Kinh công du.

Nhưng tình hình chính trị ở Trung Hoa lúc đó đang căng thẳng. Người chủ xướng thiết lập mối giao hảo với Hoa Kỳ là Thủ Tướng Chu Ân Lai sắp sửa qua đời vì bệnh ung thư. Nhân vật ông đỡ đầu là Đặng Tiểu Bình đang mất quyền lực và nhóm Giang Thanh đang nắm hết thực quyền. Trong lần công du đó, khung cảnh tiếp đón phái đoàn công du của chúng tôi thật là lạnh lùng và tôi không được phép đến Thiên Tân.

Năm sau, nạn động đất ở Thiên Tân làm 200,000 người thiệt mạng. Bạn tôi viết rằng tất cả những đồ đạc trong nhà anh đều bị ướt hoặc vỡ nhưng riêng bức họa của tôi thì vì anh ta cất ở trong một cái hộp thiếc đựng bánh bích qui nên vẫn còn nguyên.

Tôi cho rằng đấy là vấn đề số mạng. Cho tới lúc đó, tôi vẫn nghĩ rằng bức họa chẳng qua chỉ là một thứ quà cảm ơn để đáp lại bữa tiệc tôi mời anh ta. Họa sĩ Trung Hoa vẫn thường cho bạn bè những bức họa của họ thay vì đem bán. Trước đây ở Hồng Kông, một người đầu bếp trong nhà bà cố tôi đã tìm cách để đòi một họa sư nổi danh phải đổi mỗi bữa ăn lấy một bức tranh. Gia đình tôi kể lại rằng vị họa sư đó lý luận thật khiêm nhường: “Kể ra thì có gì là không công bằng? Chẳng qua tôi chỉ đánh đổi công sức của tôi với công sức của anh ta thôi mà!”

Năm 1979, khi tôi trở lại Trung Hoa thì nạn động đất đã qua, Đặng Tiểu Bình đang mở rộng cải cách và nới rộng ngoại giao với thế giới.

Bạn tôi trông có vẻ mập ra. Tôi cũng vậy. Nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn chẳng hề thay đổi. Đã đến lúc tôi có dịp được nhìn bức họa. Anh bạn mở nắp hộp bánh bích qui trông như thể một hộp đựng banh tennis và kéo ra một bức tranh lụa cuộn tròn. Vợ anh cầm một đầu, và anh từ từ mở dần bức họa. Tôi sững sờ vì ngạc nhiên. Bức tranh là một bức họa phỏng theo bức danh họa Cảnh Bờ Sông Trong Tiết Thanh Minh của Trương Sĩ Điện, một họa sư đời nhà Tống. Qua biết bao nhiêu thế kỷ, bức danh họa đó đã được các họa sĩ tài danh đời sau phỏng lại. Những nét vẽ tài tình của bạn tôi đã phỏng lại cả từ những nét nhạt mờ của màu sắc lẫn những nét biến ảo kỳ diệu đã khiến bức họa trở thành một trong những bức danh họa bậc nhất trong suốt tám thế kỷ.

Bức họa bắt đầu từ phía ngoại thành nơi những người buôn bán đang cỡi lừa ra chợ và những nông dân đang đi bộ qua những cánh đồng sang cảnh những nhà quyền quý uống trà ngoài hiên cho đến cảnh những người phu đang khuân hàng từ các bến tàu.

Một đám đông đang tụ họp ở xung quanh nơi một chiếc cầu gọi là Cầu Vồng. Phía dưới là một chiếc thuyền buồm đang bị vướng cột buồm vào thành cầu. Ngược giòng phía trên, những người chèo trên một chiếc thuyền khác đang ra sức chèo, cố đổi hướng để khỏi gây ra tai nạn. Khách bộ hành trên cầu và trên bờ đang ra sức hô hoán chỉ bảo cách chèo.

Dọc theo hai bên vệ đường, hàng quán bày bàn đủ mọi thứ. Trong các cao lâu khách đang đứng hóng gió ngoài các ban công. Những rặng liễu xanh trải thành những hàng dài tít tắp. Dọc bờ sông những xe đẩy, xe bò đang cùng chậm rãi đi theo những khách nhàn du. Thấp thoáng có cả bóng các con lợn cùng đi xen lẫn.

Đường vào thành phố bắt đầu bằng một chiếc cổng thành trạm trỗ. Một đàn lạc đà đang kéo một đoàn xe đi vào, cờ bay phất phới. Một nhà nho đội nón rộng vành và ba người theo hầu đang bàn chuyện quốc sự cùng những vài ông quan mặc trường bào. Ở một chỗ khác, một đám đông đang lắng nghe một ông thày mãi võ giảng giải cạnh một người kể chuyện đang diễn lại những tích xưa. Xa xa là cảnh những người gánh nước đang múc nước giếng. Trong một tiệm cung, khách mua cung đang giương thử những cây cung bày bán. Có cả cảnh một người thợ hớt tóc đang hớt tóc và cảnh những ông thày bói đang xem quẻ.

Cảnh vẽ gồm hơn 500 người. Một khung cảnh sống được lồng vào mười thước lụa.

Tôi nhìn chăm chăm vào bàn tay khổng lồ đang cầm bức họa rồi nhìn vào những đám người nhỏ nhắn với những khuôn mặt sống động trông nhỏ tựa những trái lựu trong bức họa, lòng cảm thấy vừa kính phục người họa sĩ, vừa băn khoăn vì thấy rõ rằng mình quả không xứng đáng với món quà tặng lớn đến như thế. Khi biết thêm rằng bạn tôi đã họa bức họa vào những tối anh rảnh, tôi lại càng cảm thấy mình không xứng đáng hơn nữa. Vì phòng vẽ chỉ là một căn phòng tí hon, thiếu ánh sáng và cũng là nơi anh và vợ con anh vừa ăn vừa ngủ nên mỗi lần vẽ anh không thể vẽ quá một phân vuông. Chính vì vậy nên thời gian vẽ bức họa mới lâu đến thế.

Anh chỉ vẽ có hai bức họa kiểu này. Bức trước là để Trung Hoa bán cho Bảo Tàng Viện của Anh Quốc đổi lấy hàng nhập cảng. Tuy rằng anh vẫn vẽ, nhưng không còn vẽ những bức họa tỉ mỉ loại này nữa. Vì sự tỉ mỉ của những bức họa như vậy đòi hỏi anh phải vận dụng mắt quá nhiều.

Tôi nói: “Anh phải cho phép tôi đền đáp lại bằng một cái gì đó…?”

Bạn tôi đáp ngay: “Có chứ! Tôi xin bà treo ngay bức họa trong nhà. Có thế thì tôi mới cảm thấy thích thú vì biết rằng ở Hoa Kỳ sẽ có người xem được bức họa của tôi vẽ cảnh Trung Hoa.”

Kể từ đó, mỗi khi có khách ghé thăm gia đình chúng tôi, tôi cũng đều dẫn khách ngay vào phòng ăn trước để xem bức họa Tiết Thanh Minh. Còn cách nào để tỏ lòng hiếu khách hay hơn là cho khách xem một món quà đánh dấu sự chân thành của tình bạn?

Vì đắm chìm trong những hình ảnh của quá khứ, tôi không để ý đến người bồi của tòa đại sứ đang bưng khay rượu đi mời cho đến khi anh ta hắng giọng. Tôi mời người bạn cũ một ly bia. Đây là món giải khát anh thích nhất. Anh ta gật gù, hài lòng vì tôi vẫn còn nhớ được món uống sở thích của anh. Chúng tôi vẫn cố cười. Người Trung Hoa thường thích nhắc lại chuyện cũ. Đầu óc vẫn còn đầy ắp chuyện cũ, chúng tôi lại hỏi nhau những câu hỏi đã hỏi. Và câu hỏi cũng chẳng cần phải hoàn toàn trọn vẹn:

“Ông có bao giờ nghĩ rằng….?”

Bạn tôi trả lời trước: “Không, thưa bà đại sứ…”

“Không, thưa ngài bộ trưởng…”

Khách dự tiệc bắt đầu đến mỗi lúc một đông. Tổng số có đến ngoài trăm. Chỉ có vài người biết nói tiếng Anh, nhưng nhà tôi lại có thể thông cảm được tất cả. Tuy ông là một người Hoa Kỳ thuần túy và kiến thức của ông chỉ là một nhúm Quan Thoại vụn vặt, ông vẫn hòa đồng được với người Trung Hoa bằng một sự gần gũi gần như vượt qua cả bức tường ngôn ngữ. Người Trung Hoa vẫn nổi tiếng là có thể hiểu được người đối diện mà không cần phải dùng đến ngôn ngữ. Họ thường trông mặt nhà tôi để đoán ý và họ tin tưởng nhà tôi bằng những linh tính riêng của họ. Đây là một điều tôi chưa bao giờ hiểu được. Trong một xã hội tự hào về truyền thống dân tộc và nghi kỵ người ngoại quốc như ở Trung Hoa đây quả là một chuyện ly kỳ hiếm có.

Đa số khách của chúng tôi đều đã nhiều lần gặp nhà tôi nên tôi không còn bị trách móc gì về việc thiếu bổn phận với chồng vì không chịu bỏ thời giờ dạy nhà tôi tiếng Tàu. Hầu như cũng chưa có ai coi đó là lỗi của nhà tôi. Nói đúng ra thì trách nhiệm phải là trách nhiệm của chính chánh phủ Hoa Kỳ.

Khi chúng tôi đính hôn, tôi vẫn chưa phải là công dân Hoa Kỳ. Theo luật lệ của Bộ Ngoại Giao nơi nhà tôi làm việc thì tôi phải chứng minh được rằng khi lập gia đình với nhà tôi ngoài vấn đề yêu thương thuần túy, tôi không còn mục đích nào khác. Vấn đề đồng ý của gia đình đôi bên không phải là vấn đề trở ngại. Thật ra thì dường như bất kỳ ai muốn lập gia đình với các nhân viên trong giới ngoại giao Hoa Kỳ đều phải đi qua một cuộc thẩm vấn thanh lọc. Đây cũng không hẳn là chuyện hoàn toàn vô lý. Vì rằng có ai dám quả quyết rằng tôi chẳng phải là một trong những người đàn bà có ý đồ như nữ gián điệp Mata Hari?

Tôi được một nhà chức trách cao cấp của Hoa Kỳ phỏng vấn. Người phỏng vấn tôi là một nhân viên bệ vệ, đeo kiếng thật dầy. Ông ta tự xưng là nhân viên Szluc. Khi cuộc phỏng vấn bắt đầu, ông Szluc chăm chú xem xét những tập hồ sơ thật dày có đề tên tôi ngoài mép, rồi nói: “Nếu cô bị rớt cuộc phỏng vấn này thì chẳng ai có thể thay đổi sự tình được nữa. Ngay cả Tổng Thống cũng không thể lật ngược quyết định của tôi. Cô có hiểu rõ không?”

Rõ chứ. Thực sự thì tôi cũng chẳng để ý gì đến người phỏng vấn. Tôi vẫn cho rằng ông ta chẳng qua chỉ là một thí dụ điển hình về vấn đề thiếu hiểu biết thông thường của những nhân viên hành chánh. Tôi không hề lo lắng vì quả thật chẳng còn việc gì đáng lo. Tôi đã được những người đi trước cho biết rằng nếu tôi nói tiếng Anh rõ ràng, tôi có trả thuế đầy đủ, tôi không có quá khứ tội phạm và tôi biết Tổng Thống Hoa Kỳ đương nhiệm là ai thì mọi chuyện đều xong.

Những người đi trước tôi đều sai. Trong suốt hai tiếng, ông Szluc liên tục hỏi tôi những câu hỏi vừa khó khăn, vừa bí hiểm. Vardis Fisher là ai? Rượu “Cocktail Death in the Afternoon” pha bằng những thứ nào? Điệu Mazurka và điệu Pavane khác nhau ra sao? Nói tên thủ đô của các quốc gia phiá tây Phi Châu theo thứ tự của 13 thuộc địa đầu tiên.

Sau cùng ông Szluc đưa ra câu hỏi quan trọng nhất. Ông khuyên rằng tôi nên trả lời thật cẩn thận dù có phải mất thêm hai tiếng nữa cũng không sao. Ông hỏi: “Nếu tôi không đồng ý sự thành hôn của cô và ông Lord thì cô sẽ làm gì?”

Câu hỏi đó khiến tôi hơi bực. Tôi quạt lại: “Ông Winston Lord có thể tìm được một chỗ làm việc khác chứ không thể tìm được một người bạn đời khác y hệt như tôi.”

Cuối cùng ông Szluc đồng ý để chúng tôi thành hôn. Tuy thế, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho chúng tôi biết những chính sách có liên quan đến những công tác tương lai của nhà tôi. Những chính sách đó là những chính sách mà Bộ Ngoại Giao vẫn thường áp dụng mỗi khi các nhân viên Ngoại Giao thành hôn với người ngoại quốc. Tòa đại sứ cho biết sự nghiệp của nhà tôi sẽ bị giới hạn vì lý do an ninh quốc gia. Vì gia đình tôi vẫn còn người thân ở vùng đại lục Trung Hoa và những sự liên hệ trực tiếp về nghề nghiệp của ông thân tôi với Đài Loan, nhà tôi sẽ không bao giờ được quyền tham gia vào việc thiết lập các chính sách của Hoa Kỳ với Trung Hoa.

Bởi thế nên nhà tôi không muốn bỏ thời giờ để học một thứ ngôn ngữ mà lý do gia đình khiến ông không bao giờ có dịp dùng tới. Tôi cũng cảm thấy hối hận rằng tôi đã không ép buộc nhà tôi học với lý do là nhà tôi nên học dù chỉ là học để cho riêng tôi mà thôi. Tuy rằng văn phạm tiếng Tàu rất đơn giản, tiếng Tàu chỉ có rất ít âm -khoảng độ 420 âm và tùy thuộc vào cách phát âm mà biến đổi nghĩa. Các cách phát âm “ngang,” “cao giọng,” “uốn giọng,” hoặc “trầm” đều có nghĩa khác nhau. Hơn nữa, vì tiếng Tàu không phải là kiểu chữ cái viết bằng mẫu tự La Tinh nên học chữ Tàu phải cần vận dụng trí nhớ rất nhiều để nhớ các mặt chữ. Khi sang Hoa Kỳ, tôi đã bỏ mất tính nhẫn nại. Chính vì thế nên mỗi khi nghĩ rằng về vấn đề phải ra công để giúp nhà tôi học cho thông suốt tiếng Tàu tôi lại ngần ngại. Cứ mỗi lần nghĩ lại vấn đề dạy nhà tôi học tiếng Tàu tôi lại tấm tắc tiếc rằng mình đã đánh mất một đức tính nhẫn nại đáng quý nhưng cũng mừng thầm rằng có lẽ nhờ tôi không ép nhà tôi phải học tiếng Tàu mà cuộc sống gia đình của chúng tôi bớt đi được rất nhiều căng thẳng.

Lúc này đang trong buổi tiệc cuối cùng của gia đình chúng tôi, tôi để mặc nhà tôi hòa đồng với những người khác và đi từng bàn để giã từ. Ở Trung Hoa phần đông những bạn bè thân thường ngồi chung với nhau. Người Trung Hoa, khác hẳn với người Hoa Kỳ, ít thích kết giao với những bạn mới. Bạn thân cũ lúc nào cũng dễ tin tưởng hơn. Bạn mới thì khó ai chắc được: Trong cuộc cách mạng văn hóa vừa rồi việc bạn bè tố cáo lẫn nhau vẫn còn rành rành; thận trọng đã trở thành một thói quen. Tuy thế, tôi vẫn chưa quen được với cảnh một người bạn thân của tôi thường xuyên khuyến cáo tôi một cách thành thực rằng tôi phải để ý đề phòng một người bạn thân khác.

“Coi chừng đó, người đó sẽ khai lại tất cả với công an.”

“Phải cẩn thận, người đó không thật lòng gì đâu.”

“Phải để ý, người đó lúc nào cũng lợi dụng tình bạn.”

“Phải thận trọng, người đó hay tiết lộ những chuyện kín”

“Phải coi chừng, người đó là ăng-ten.”

Chính vì thế nên tôi thường cố ý tránh không xếp đặt chỗ ngồi cho khách trừ phi phép xã giao bắt buộc.

Sau khi dùng bữa tối, một số bạn bè trong các bàn của nhóm “hát xướng” và “sân khấu” bắt đầu trình diễn và rồi thì cũng như những bữa tiệc khác, người nào thích khiêu vũ thì khiêu vũ, người nào thích chuyện trò thì lại tiếp tục chuyện trò. Tôi và nhà tôi thì vừa khiêu vũ, vừa trò chuyện. Quan khách ồ ạt hưởng ứng khi cả hai chúng tôi cùng bước ra sàn để khiêu vũ một bản Disco với người nhà. Trong suốt buổi tiệc, gần như lúc nào khách cũng đòi chúng tôi đứng chung để chụp hình kỷ niệm. Ai cũng đem theo máy hình.

Tôi bỏ qua không đả động gì đến việc phải nói những câu giã từ. Chuyện từ giã thường làm tôi ray rứt. Tôi nói với bạn bè rằng đây không phải là một cuộc giã từ vĩnh viễn. Chỉ riêng nhà tôi phải quay về với bộ Ngoại Giao trong vòng một tuần. Tôi sẽ theo nhà tôi đến Singapore ba ngày, sau đó tôi sẽ đổi giấy thông hành của tôi, nguyên là giấy thông hành cho các nhân viên ngoại giao và gia đình, thành giấy thông hành của một thường dân rồi lại bay về Trung Hoa để ở thêm một tháng nữa. Đài phát thanh CBS của Hoa Kỳ đã nhờ tôi làm chuyên viên tham khảo cho cuộc họp thượng đỉnh Nga-Hoa sắp đến. Họ sẽ tham khảo tôi về các bài viết có liên quan đến “đề tài nhân sự” trong văn hóa Trung Hoa và về các vấn đề có liên quan đến tiến trình của các phong trào cải cách.

Tuy thế, tôi và nhà tôi sẽ cùng đến phi trường lần cuối theo thể thức của một gia đình đại sứ. Cảm tưởng của tôi về chuyến giã từ chỉ là những cảm giác thường tình tuy đã cũ mèm nhưng vẫn đúng: Tôi có cảm tưởng như chúng tôi chỉ mới lên chiếc xe Cadillac của tòa đại sứ lần đầu… Trời đã vào gần giữa đêm. Bầu trời tháng mười đêm đó thật trong. Ánh trăng chiếu mờ ảo qua những rặng liễu dọc theo đường ra phi trường. Chúng tôi khó thể tưởng tượng rằng mình đang ở Trung Hoa và đang ở ngay Bắc Kinh. Tôi và nhà tôi bỗng nhiên cùng nắm tay nhau.

Kể từ lúc tổng thống Reagan bắt đầu nghĩ đến việc cử nhà tôi làm đại sứ Trung Hoa cho đến khi nhà tôi thực sự nhậm chức thì thời gian chờ đợi dài hơn một năm trường. Sáu tháng để hoàn tất thủ tục tài chính và an ninh, bốn tháng để Tòa Bạch Ốc chính thức công bố tin tức bổ nhiệm, ba tháng rưỡi để một tiểu ban của Uûy Ban Ngoại Giao Thượng Viện bắt đầu nghe điều trần về vấn đề bổ nhiệm. Sáu tuần sau nữa để chờ một buổi thuyết trình khác cho riêng Thượng Nghị Sĩ Jesse Helms. Và rồi một tuần cuối để các nghị sĩ bỏ phiếu. Sau đó chờ Thượng Viện thông thông qua với kết qua:û 87 phiếu thuận; 7 phiếu chống.

Khoảng thời gian đợi chờ dài đăng đẵng đó vẫn chẳng khiến tôi bớt ngỡ ngàng khi người tài xế chở chúng tôi về nơi cư ngụ ở số 17 Quang Hoa Lộ đã gọi nhà tôi là ông đại sứ. Tôi vẫn chưa thể tin được là giấc mơ tôi chưa từng dám mơ đã trở thành sự thực -Tôi đang trở về quê hương với tư cách là vợ của một vị đại sứ Hoa Kỳ. Trong chuyến xe đưa chúng tôi hôm đó tôi còn nhớ là mình đã thắc mắc rất nhiều chẳng hiểu sao dường như chiếc xe chở chúng tôi cứ có những tiếng động kỳ quặc phía sau. Sau cùng, tôi nhìn ra góc phải phía ngoài xe: Ngọn cờ Hoa Kỳ đang tung bay tạo nên những tiếng phần phật liên hồi theo nhịp di chuyển.

Gần như ai cũng đã có lần suy nghĩ về những sự lựa chọn mà họ đã bỏ qua: Một công việc nào đó, một ngôi trường nào đó, một người yêu nào đó. Nhưng riêng tôi thì lại có thể biết rành rọt những yếu tố quyết định đường hướng của đời mình. Tôi biết những yếu tố đó cả về bề mặt lẫn bề sâu. Tôi biết rõ cả năm cả tháng, cả ngày giờ của hôm xuất hành. Tôi nhớ rõ cả chiều của luồng gió mát đã thổi vào mũ áo của chúng tôi ngày hôm đó.

Đối với tôi thì những chuyến xuất hành của những người di dân, dù trong một chuyếnxuất hành vòng quanh quả địa cầu hoặc chỉ là một bước qua khỏi làn ranh giới cũng vẫn khiến người đi khác hẳn với những người còn ở lại. Những kinh nghiệm viễn hành đó bao gồm từ cả những cái nhỏ nhặt như những điệu lên trầm xuống bổng của những ngôn ngữ mới cho đến những sự thích nghi kỳ lạ của một người đi xa đối với những tập tục mà họ chưa bao giờ thấy. Chúng tôi đã tuyên thệ trung thành trước ngọn cờ trong các buổi lễ nhập tịch ở các tòa án vừa xa lạ, vừa gần gũi. Chúng tôi phải suy nghĩ về những điều mà người bản xứ chưa bao giờ đặt câu hỏi và rồi phải giơ tay để tuyên thệ rằng chúng tôi chấp thuận.

Tuy chính nhà tôi mới là người đã tuyên thệ một lòng tận tụy khi nhậm chức, ngay trong đêm nhà tôi nhậm chức, tôi cũng đã tự hứầ sẽ hết sức để xứng đáng với vai trò đại biểu cho quê hương thứ hai của tôi. Việc được bổ nhiệm làm đại sứ ở Trung Hoa là một thành quả của một nỗ lực mà nhà tôi đã hết sức phấn đấu để đạt được. Nhưng đối với riêng tôi thì đây là một sự thành toàn của một câu trả lời mà tôi đã có lần nói với một người bạn học Hoa Kỳ cùng lớp trong 23 năm về trước. Chúng tôi cùng tự nguyện sẽ cố hết sức để xúc tiến các quan hệ ngoại giao giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ vào ngay lúc các quan hệ ngoại giao này đóng vai trò quan trọng nhất.

Sau ba năm phấn đấu, giờ là lúc chúng tôi sắp sửa quay lại Hoa Kỳ. Trong suốt khoảng thời gian vừa quá, chúng tôi đã có dịp chứng kiến một trong những cuộc thí nghiệm táo bạo nhất của lịch sử: Một cuộc thí nghiệm làm thay đổi cuộc sống của một tỉ người. Đặng Tiểu Bình đang cố chuyển Trung Hoa ra khỏi con đường cực đoan và giáo điều để trở về với những lý tưởng thiết thực. Ông đã kêu gọi thiết lập bang giao với thế giới và thiết lập các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.

Ngay trong giai đoạn lịch sử này, nhờ vào cương vị của một gia đình đại sứ, chúng tôi đã có dịp cộng tác với các giới chức cao cũng như thấp của Trung Hoa để thiết lập các mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Tuy rằng trong thời gian chúng tôi phục vụ, giữa hai quốc gia vẫn còn những vấn đề khó khăn và căng thẳng, nhưng đây vẫn là một khoảng thời gian đặc biệt. Khoảng thời gian đó trùng đúng vào thời điểm mà cả chính phủ lẫn tư nhân đang mở rộng vòng tiếp xúc. Thời gian này cũng chính là lúc du khách đến Trung Hoa ồ ạt và những thoả ước trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa đang tiến đến cao độ.

Trong thời gian đó, tôi và nhà tôi cũng đã có dịp tiếp xúc trực tiếp với người dân Trung Hoa. Sự chịu đựng của họ đã làm chúng tôi xúc động sâu xa. Họ là nạn nhân của buổi giao thời, khi những nền văn hóa cũ chưa hề bị bỏ hẳn mà nền văn hóa mới cũng chưa đủ thời gian bám rễ. Họ sống trong những giới hạn của cuộc sống Trung Hoa. Giới hạn vì sự khan hiếm tài nguyên và cơ hội tiến thân. Giới hạn vì những triết lý cổ truyền đặt gia đình lên trên cá nhân, đặt sự hòa thuận lên trên sự bình quyền, đặt kỷ cương lên trên vấn đề cải cách. Giới hạn vì những giáo điều của cộng sản đã đặt Đảng lên trên tất cả mọi thứ khác.

Tôi tự hỏi chẳng hiểu có còn một giai đoạn nào khác có thể cho phép chúng tôi đóng góp thời giờ và năng lực một cách quý giá như những năm chúng tôi cố gắng để gầy dựng mối giao hảo ở Trung Hoa hay không?

Trời đã quá nửa đêm. Buổi tiệc giã từ đã kết thúc. Chúng tôi lên lầu để về phòng riêng, mang theo từng đống quà tặng. Trong những số quà tặng là một số băng mà bạn tôi đã thâu lại những câu chuyện của đời họ cho tôi vì tôi chẳng còn thời giờ để tiếp xúc với họ nữa. Đây là những món quà đắt nhất ở Trung Hoa và là những món quà quý nhất dành cho một người viết văn như tôi. Những cuốn băng bạn tôi gửi tặng là những mẩu chuyện trọn vẹn của đời họ. Những mẩu chuyện hãy còn tinh nguyên và chưa hề bị kiểm duyệt.

Thảo luận cho bài: "Nét Chấm Phá Của Bức Điêu Khắc Truyền Thần"