Nét vàng son trên nền giấy gấm

Tác giả:

Ngày nay, vào thăm các đình miếu hoặc các gia đình dòng dõi, đôi khi ta còn được trông thấy các bản sắc phong, mà nét vàng son còn ánh lên như nhắc nhớ đến một dĩ vãng vô cùng lộng lẫy và đẹp đẽ của ngày xưa.

bs_giay-sac

Trong lòng ta rộn lên bao cảm xúc về sự hiển linh của thần, sự uy nghiêm của quyền lực, ta còn có cả sự choáng ngợp và khâm phục trước vẻ đẹp của tờ giấy sắc và tài hoa kỹ thuật của người xưa, mà thời gian dù có vô tình, cũng không làm phôi pha nét vàng son xưa ấy. Lòng ta tự hỏi, ai trong chúng ta là người được giữ bí quyết chế ra tờ giấy ấy. Trong chúng ta cũng ít ai biết cái nghề làm giấy gấm viết sắc phong là độc quyền của một dòng họ cư trú ở ngay bên cạnh Thăng Long – Hà Nội, trải đã mấy trăm năm.

Sắc phong gồm có hai loại: phong cấp, khen ngợi, tưởng thưởng cho những người có công (giống một giấy khen, một giấy bổ nhiệm chức vụ) và loại sắc phong phẩm trật cho thần linh (theo thường niên, hoặc một dịp lễ lạt nào đó). Loại thứ nhất là tài sản chung của dòng họ được cất giữ trong các nhà thờ họ của các gia tộc có các vị tiên liệt có công với vua với nước. Loại thứ hai là tài sản của cộng đồng làng xã, được cất giữ tại đình làng hoặc đền, miếu. Hiện nay, bản sắc phong cổ nhất của Việt Nam đang được đặt trong một ngôi đình cổ thuộc thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, Thái Bình. Hai đạo sắc này có niên đại Hồng Đức 23 (1492) và Hồng Đức 28 (1497) đời Lê Thánh Tông, thế kỷ XV, cách nay đã hơn 500 năm, tức là nửa thiên niên kỷ.

Việc được nhận sắc phong thần ngày xưa là một việc rất hệ trọng của làng xã, và việc đón rước sắc phong là một nghi lễ đặc biệt. Sách “Đại Phùng tổng khoán ước” (A.2875), thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cho biết về nghi lễ đón rước sắc phong như sau: “Sắc đưa về đến đình, chép thêm ra một bản, giống như bản chính (đều dùng giấy vàng mực đen, lấy người có chữ đẹp trong thôn viết đằng tả), rồi lập một hương án, đặt lên, vái 5 vái (thay thần tạ ơn vua). Sau đó hóa bản sao đi, còn bản chính thì rước vào trong đình” (tờ 11a).

Hàng năm, đến ngày hội làng, rất nhiều làng có lệ rước sắc từ nghè, hoặc miếu ra đình, mà đoàn rước sắc bao gồm đầy đủ tất cả các nghi trượng trang trọng nhất. Trường hợp làng Triều Khúc, Hà Nội là một ví dụ.

Do có nội dung đặc biệt nên sắc phong được viết trên một loại giấy đặc biệt, gọi là giấy sắc (giấy dùng viết sắc chỉ, sắc phong), còn gọi là giấy nghè (giấy do họ Lại cha truyền con nối ở làng Nghĩa Đô – làng Nghè, Hà Nội chế ra và dâng vào triều đình.

Làng Nghĩa Đô là một làng cổ thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ở đó có dòng họ Lại chuyên làm giấy sắc phong, một loại giấy từng nổi tiếng trong lịch sử văn hóa dân tộc. Theo gia phả và lời truyền trong dòng họ này, thì cụ Tổ của họ này là Lại Thế Giáp, là con rể của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng. Con gái của Trịnh Tráng là Phi Diệm Châu, hiệu Từ An, khi đó thấy họ nhà chồng còn nghèo, mới tâu xin nhà chúa và vua Lê cho họ Lại được đời đời làm giấy sắc dâng vào triều đình. Họ Lại còn có cụ Lại Phú Vinh được phong đến tước Đô Thịnh hầu, giữ chức Phụ Quốc tướng quân, Đô ty Chỉ huy sứ, Ngự dụng giám Kim Tiên cục trông coi và quản lý nghề làm giấy sắc cho triều đình. Dân gian có câu ca truyền tụng rằng:

Thảo luận cho bài: "Nét vàng son trên nền giấy gấm"