Nghiên cứu về Trịnh Công Sơn – Nghi Vấn và Trả Lời

Tác giả:

1 – Nghiên cứu về Trịnh Công Sơn-Một luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại VN với số điểm tối đa có vấn đề Vũ Đông Ngọc Trịnh Công Sơn là một trong những hiện tượng đặc thù của âm nhạc Việt Nam. Cũng đặc thù như thế là dấu ấn sáng tạo của ông trong ngôn ngữ văn học Việt. Nhiều nghệ sĩ và nhiều nhà nghiên cứu văn học có uy tín, cả trong lẫn ngoài nước, khi nghiên cứu về ca từ của Trịnh Công Sơn, đã công nhận điều này. Việc tiếp tục nghiên cứu và đào sâu vào những vỉa tầng khác nhau trong sáng tác của người nhạc sĩ này là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Cũng như những nghệ sĩ, những nhà văn, nhà thơ và những nhà văn hoá lỗi lạc khác của Việt Nam, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp của mình vào việc làm phong phú và đẹp đẽ hơn nữa gia tài văn hoá Việt. Ðặc biệt đối với Trịnh Công Sơn, đóng góp của ông nổi bật lên trong lãnh vực ngôn ngữ. Ông đã làm mới lạ cách diễn tả tình ý của con người Việt Nam, đặc biệt trong khía cạnh tình yêu và thân phận con người trong cuộc chiến cũng như trong chuyến đi lữ thứ của nó về cõi vĩnh hằng. Ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn để diễn tả cuộc chiến tàn bạo của lịch sử Việt hậu bán thế kỷ XX, cái nhìn của ông về phận người giữa cõi vô thường là cuộc đời này, tiếng đập ngọt ngào yêu thương và thiết tha nhân ái trong trái tim ông khi nói về tình yêu nam nữ nói riêng, hoặc tình yêu giữa người và người nói chung, đã là những dấu ấn khó phai trong tâm thức con người Việt Nam hiện đại.
Những tìm hiểu, nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, từ nhiều góc độ, như thế, là những nỗ lực có ý nghĩa trong sự tìm hiểu chính mình của chúng ta, nếu ta khách quan nhìn nhận vai trò đặc thù của âm nhạc, thi ca, ngôn ngữ, và những sáng tạo trong lãnh vực văn học nghệ thuật nói chung, như những yếu tố phản ánh và giúp những thành viên trong một cộng đồng người nhìn rõ chính chân dung mình.

Trong hơn năm năm qua, kể từ khi Trịnh Công Sơn ra đi, đã có nhiều bài viết và nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, cả trong lẫn ngoài nước. Nhiều tuyển tập tổng hợp những tài liệu và các bài viết về người nhạc sĩ này đã ra đời, cho chúng ta những hiểu biết thêm về con người, đời sống cũng như những khía cạnh đẹp đẽ, tài hoa trong sáng tác của ông. Là một người yêu thích văn học nói chung và cũng yêu thích các sáng tác của Trịnh Công Sơn nói riêng, tôi đã có cơ hội đọc và thu góp được nhiều tài liệu về người nhạc sĩ này. Trong nước, có nhiều tuyển tập. Hầu hết đều giới thiệu những bài viết ngắn, từ hai cho đến khoảng 15 trang, cho ta những cái nhìn nghiêng, những “bán diện” của Trịnh Công Sơn, qua mắt nhìn của những người viết. Ðặc biệt, về nội dung và cách trình bày, nổi bật lên cuốn sách của Trịnh Cung và Nguyễn Quốc Thái (Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) – Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng) và tuyển tập Một cõi Trịnh Công Sơn của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha và Ðoàn Tử Huyến. Trong hai tuyển tập này, ngoài bài viết của những tác giả trong nước, có nhiều bài viết của những tác giả không sống ở Việt Nam. Ở ngoài nước, có những tuyển tập đặc biệt về Trịnh Công Sơn, với những bài viết đa số là dài hơi hơn so với những bài viết trong nước, của các tạp chí sáng tác, nhận định văn nghệ như Văn Học, Văn, Hợp Lưu…

Trong thời gian một, hai năm trở lại đây, về đề tài Trịnh Công Sơn, trong nước nổi bật lên cuốn sách Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của Hoàng tử bé (nhà xuất bản Trẻ, 2004) của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người bạn của người nhạc sĩ. Cuốn sách là một tập hợp nhiều bài viết mang tính đoản văn, tuỳ bút, pha với phần nào tính chất ký và tự truyện, cho người đọc thấy được chân dung đời thường của người nhạc sĩ, được nhìn ngắm từ những góc độ đời thường pha lẫn một chút triết lý của tác giả. Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người có được những nét tài hoa trong tạp bút và ký, lại là bạn thân của Trịnh Công Sơn, nên cuốn sách của ông có những nét đặc biệt riêng, chiếu rọi được những “cận ảnh” đời thường mà những tác giả khác khó nhìn thấy. Ở ngoài nước, có cuốn Trịnh Công Sơn: Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (nhà xuất bản Văn Mới, 2005) của Bùi Vĩnh Phúc. Ðây là chuyên luận của một nhà lý luận phê bình hiện sống tại Mỹ. Ông dạy Anh văn cũng như ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam tại đại học Mỹ. Là một nhà lý luận phê bình văn học, cùng với các nhà phê bình lý luận như Nguyễn Hưng Quốc, Ðặng Tiến và một vài người khác nữa, được nhiều độc giả văn học quan tâm theo dõi và đánh giá cao [1] , trước chuyên luận về Trịnh Công Sơn này, Bùi Vĩnh Phúc đã cho ra mắt nhiều tác phẩm mà cuốn sách tương đối gần đây của ông được nhiều người chú ý là cuốn Lý luận và phê bình – Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước (1975 – 1995). Cuốn chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc có thể nói là cuốn sách nghiên cứu dài hơi và chuyên sâu đầu tiên [2] về Trịnh Công Sơn có tính văn học, thậm chí văn chương, về ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của người nhạc sĩ, với một phương pháp luận đặc biệt [3] .

Gần đây nhất, trên báo Văn Học (số 232, tháng 7 & 8.2006), một tạp chí sáng tác và nhận định văn nghệ xuất bản tại Mỹ, người ta thấy có đăng bài “Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn” của Ban Mai. Toàn bài, chiếm 69 trang báo Văn Học, được đăng với lời giới thiệu: “Ban Mai tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thuý, hiện đang làm việc tại một trường đại học tại miền Nam Trung bộ Việt Nam. Tháng Tư 2006 bảo vệ luận văn thạc sĩ đầu tiên ở Việt Nam về đề tài ca từ Trịnh Công Sơn với số điểm tuyệt đối 10/10”. Ban Mai cũng đã có hai trích đoạn, lấy từ luận văn này, đăng trên talawas. Dù sao, hai trích đoạn đó không chứa đựng những điều cần được phân tích trong bài viết này.

Tôi đã tò mò đọc thử luận văn của tác giả Ban Mai trên số báo Văn Học vừa nói. Luận văn này được bố cục thành bốn phần/chủ đề: Một, Cuộc đời và sự nghiệp; hai, Tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn; ba, Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn; và bốn, Trịnh Công Sơn người ca thơ. Bố cục luận văn cân đối, ngôn ngữ trình bày sáng sủa. Cái đặc biệt cần nhắc đến là tác giả luận văn đã sử dụng được rất nhiều nguồn tài liệu, cả trong lẫn ngoài nước, và đặc biệt là số tài liệu ngoài nước được trích dẫn khá phong phú so với dung lượng bài viết. Ðiều đó cho thấy tác giả có sự công phu trong việc tìm và chọn lựa những nguồn tài liệu thích đáng cho nội dung khai triển của mình.

Dù sao, lý do để tôi viết bài này là, do cuốn chuyên luận về Trịnh Công Sơn của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc mà tôi đã nhắc đến ở trên đã được phổ biến rộng rãi ngoài nước trong khoảng hơn một năm qua, phần chính của chuyên luận lại được phổ biến trên nhiều kênh truyền thông [4] , và do tôi đã đọc nó nhiều lần, tôi đã nhìn thấy là tác giả Ban Mai, ngoài việc trích dẫn Bùi Vĩnh Phúc bốn lần (qua cuốn chuyên luận của ông và qua bài phỏng vấn Bùi Vĩnh Phúc do Phạm Văn Kỳ Thanh thực hiện, phổ biến trêntalawas vào tháng 12. 2005), đã sao chép nguyên văn (hoặc gần như nguyên văn, chỉ sửa đổi một vài từ) nhiều đoạn văn dài trong chuyên luận Trịnh Công Sơn: Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của nhà phê bình này.

Trước hết, ở đây, tôi xin đưa ra một số dẫn chứng về điều vừa nói. Sau đó, tôi sẽ xin phép thử đưa ra một vài suy nghĩ và nhận định của riêng tôi về một vài vấn đề có liên hệ đến đạo đức và kỹ thuật trong thao tác khoa học của người làm nghiên cứu, một vấn đề đang là mối quan tâm lớn của nhiều người Việt cả trong lẫn ngoài nước.

1. Trong phân đoạn “Ám ảnh về cái vô thường của cuộc đời”, ở trang 56 và 57 trong chuyên luận của mình, Bùi Vĩnh Phúc viết: 

Những sự mất mát trong đời sống đã mở mắt cho Trịnh Công Sơn thấy được cái vô thường của đời này. Nỗi ám ảnh về cái chết, về sự mất mát, về tính vô thường của đời sống, luôn luôn là một ám ảnh theo sát Trịnh Công Sơn từ những ngày anh còn khá trẻ. Có lẽ vì là một người sống ngay trong một thành phố mà lúc nào bom đạn cũng bủa vây tứ phía, được nhìn tận mặt chiến tranh, nghe và thấy cái chết một cách quá rõ nét trong cuộc đời, Trịnh Công Sơn đã có những cảm nhận sâu xa về những cái mất còn của đời sống. Cuộc chiến đã dựng lên những cận ảnh tang tóc và kinh hoàng ngay trong những thành phố mà anh đã từng sống với. Cái còn hay mất của tất cả mọi thứ, kể cả tình yêu, trong chiến tranh, cũng là một điều mà con người phải kinh nghiệm và chấp nhận. Hạnh Phúc hay Bất Hạnh. Nỗi Buồn hay Niềm Vui. Khổ Ðau hay Hoan Lạc. Tất cả chỉ là hai mặt sấp ngửa của Cuộc Ðời. Từ đó, người nhạc sĩ nhận ra rằng:

Một hôm bỗng nghe ra buồn vui kia là một
Như quên trong nỗi nhớ (…)
Vườn năm xưa em đã đến
Nay trăng quá vô vi
Giọt sương khuya rụng xuống lá
Như chân ai lần về

(“Nguyệt ca”)

Ở trang 69 của luận văn mình, đăng trên Văn Học, Ban Mai viết:

Những sự mất mát trong đời sống đã giúp cho Trịnh Công Sơn thấy được cái vô thường của đời này. Nỗi ám ảnh về cái chết, về sự mất mát, về tính vô thường của kiếp người, luôn luôn ám ảnh theo sát ông từ những ngày ông còn khá trẻ. Và cũng có lẽ do thời đại ông sống, là thời đại của bom đạn bủa vây tứ phía, được nhìn tận mặt chiến tranh, nghe và thấy cái chết hằng ngày một cách rõ nét trong cuộc đời, nên Trịnh Công Sơn đã có những cảm nhận sâu xa về những cái mất còn của đời sống. Hạnh Phúc hay Bất Hạnh. Nỗi buồn hay niềm vui, khổ đau hay hoan lạc. Tất cả chỉ là hai mặt sấp ngửa của cuộc đời, cuối cùng đời sống con người chỉ như một vết mực:

Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xoá bỏ không hay

(“Cát bụi”)

Vết mực, rồi theo thời gian nó sẽ nhoà đi. Rồi nó sẽ bị bôi xoá. Thực/biến. Có/ không. Ði/về. Ðối với ta, giờ đây, cũng chỉ là một đường ranh hư ảo.

Dòng sông trước kia tôi về, bỗng giờ đây đã khô không ngờ
Lòng tôi có khi mơ hồ, tưởng mình đang là cơn gió (…)
Chợt tôi thấy thiên thu là, một đường không bến bờ

(“Lời thiên thu gọi”)

Phần đầu, khá dài, việc sao chép trong luận văn của Ban Mai gần như nguyên văn. Tác giả chỉ thay đổi một vài chữ và cắt bỏ một đoạn ngắn. Phần sau, về “vết mực”, ta thấy đó là sự lắp ghép từ những trang khác trong chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc. Tại trang 42 của chuyên luận mình, Bùi Vĩnh Phúc viết:

Nhìn vào thiên nhiên, có những lúc Trịnh Công Sơn nhìn thấy mình là chiếc lá phai mờ, là chút mực nhoè…

Ở trang 84, ông viết:

Tình yêu cuộc sống, tình yêu con người, và tình yêu quê hương, cuối cùng, đã giúp Trịnh Công Sơn sống trọn vẹn với trần gian này. Cho đến khi “vết mực” kia được bôi xoá đi.

Ở trang 58, ông viết:

Tất cả những kinh nghiệm, những nhận thức ấy càng làm cho anh ý thức hơn nữa cái khoảng ngắn hẹp của thời gian mà chúng ta gọi là đời người này:

Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày (…)
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xoá bỏ không hay.

(“Cát bụi”)

Phải, đời sống con người cũng chỉ như một vết mực. Rồi nó sẽ nhòe đi. Rồi nó sẽ được xoá bỏ. Thực, biến. Có, không. Ði, về. Ðối với ta, bây giờ, tất cả trông chỉ giống như một đường chỉ kéo dài tít tắp.

Dòng sông trước kia tôi về
Bỗng giờ đây đã khô không ngờ
Lòng tôi có khi mơ hồ
Tưởng mình đang là cơn gió
Về chân núi thăm nấm mồ
Giữa đường trưa có tôi bơ phờ
Chợt tôi thấy thiên thu là
Một đường không bến bờ

(“Lời thiên thu gọi”)

Ta đã thấy rõ là sự sao chép, lắp ráp trong luận văn của Ban Mai đã được thực hiện một cách khá công phu.

2. Tại trang 76 trong luận văn của mình, Ban Mai viết:

Ðời chỉ là một cuộc đi. Ði mãi đi mãi. Và đi một mình. Ði một mình như thế qua suốt cuộc trần gian này. Nếu có về chốn cũ của mình, ông chỉ nhìn thấy sự hoang vu quạnh quẽ: Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ / Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên (“Tôi ơi đừng tuyệt vọng”). Tất cả những gì là êm ấm, gần gũi ngày xưa, bây giờ chỉ còn là sự hờ hững, vắng không, tăm tối, khiến cho nỗi cô đơn trong ông càng đầy, càng nặng: Nhà im đứng cửa cài đóng then / Vườn mưa xuống hành lang tối tăm / Về thôi nhé, cổng chào cuối sân / Hờ hững thế loài hoa trắng hồng (“Vườn xưa”).

Ðoạn văn này của Ban Mai cũng là một sự lắp ghép công phu khác từ những trang trong chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc. Trong phân đoạn “Ám ảnh về sự cô đơn”, trang 42, Bùi Vĩnh Phúc viết:

Ðời chỉ là một cuộc đi. Ði mãi đi mãi. Và đi một mình. Ði một mình như thế qua suốt cuộc trần gian này:

Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ
Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên

(“Tôi ơi đừng tuyệt vọng”)

Nỗi cô đơn luôn vây bủa Trịnh Công Sơn. Cho dù có những lúc gặp gỡ bạn bè, nói cười xôn xao ngoài phố, nhưng khi trở lại với riêng mình, anh chỉ thấy tất cả những niềm vui giữa phố chợ kia cũng giống như những hạt khô rụng rơi lả tả quanh mình:

Tôi như mọi người mong ngày sẽ tới
Nhưng khi về lại thu mình góc tối
Trong tôi rụng đầy bao nhiêu nụ cười …
Có tối thật đều trong linh hồn nhỏ

(“Bay đi thầm lặng”)

Tại trang 43, ông viết:

Nếu có về chốn cũ của mình, anh chỉ nhìn thấy sự hoang vu quạnh quẽ. Tất cả những gì là êm ấm, gần gũi ngày xưa, bây giờ chỉ còn là sự hờ hững, vắng không, tăm tối, khiến cho nỗi cô đơn trong anh càng đầy, càng nặng:

Nhà im đứng cửa cài đóng then
Vườn mưa xuống hành lang tối tăm
Về thôi nhé, cổng chào cuối sân
Hờ hững thế loài hoa trắng hồng

(“Vườn xưa”)

3. Sau đây lại là một đoạn lắp ghép khác. Tại trang 70 của luận văn, Ban Mai viết:

Giống như Nguyễn Du đã nhìn thấy hình ảnh vô thường trong bóng mây:

Du du vân ảnh biến thần tịch
(Bóng mây lững thững biến đổi sớm chiều)

(“La Phù Giang thuỷ các độc toạ)

Trong khi đó, Trịnh Công Sơn xem cuộc đời như ngọn gió hư vô:

Ôi phù du / từng tuổi xuân đã già
Một ngày kia đến bờ / Ðời người như gió qua

(“Phôi pha”)

Ðối với ông, cuộc đời phù du như cơn gió. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những ca từ của ông nói về gió, những làn gió bay, những hơi gió thoảng. “Em ra đi như thoáng gió thầm…” (“Tạ ơn”). “Lòng tôi có khi mơ hồ, tưởng mình đang là cơn gió…”(“Lời thiên thu gọi”). Em hay ta, rồi cũng sẽ ra đi. Và cả trần gian này nữa. Tất cả rồi thì cũng sẽ chìm trôi. Ðó là ám ảnh không nguôi của Trịnh Công Sơn.

Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước mây qua mây qua …
Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa mây qua mây qua …
Bờ bến thiên thu nằm chìm dưới cơn mưa

(“Chìm dưới cơn mưa”)

Ðoạn văn trên của Ban Mai được đan dệt khá công phu và, hầu hết, có thể tìm thấy ở trang 59 và 60 trong chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc:

Giống như Nguyễn Du đã nhìn thấy hình ảnh vô thường trong bóng mây:

Du du vân ảnh biến thần tịch
(Bóng mây lững thững biến đổi sớm chiều)

(La Phù Giang thuỷ các độc toạ),

Trịnh Công Sơn cũng nhìn thấy cái chớp mắt của vô thường kia trong bóng nắng. Bóng nắng trong câu kinh Phật:

Con mắt còn lại nhìn đời là không
Nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng

Thiền sư Vạn Hạnh trong bài “Thị đệ tử” nói rõ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
(Thân như ánh chớp có rồi không)

Người con gái yêu dấu bên cạnh đời ta kia rồi một ngày nào đó cũng sẽ bay đi. Bay đi như một ánh chớp. Bay mãi vào cuộc trăm năm hay vào những cõi bờ không còn không mất. Hình ảnh cánh hoa trắng ngần kia có phải là hình ảnh của em không?

Mùa mưa tới cành hoa trắng ngần
Ðã ra đời đùa vui phút giây
Sau một lần đến bên người
Khép lại tấm lòng nghìn năm nhớ ai

(“Chuyện đoá quỳnh hương)

Và hình ảnh ngọn gió kia, chính là ta đó. Một ngọn gió hư vô:

Ôi phù du / từng tuổi xuân đã già
Một ngày kia đến bờ / Ðời người như gió qua

(“Phôi pha”)

Em hay ta, rồi thì cũng sẽ ra đi. Và cả trần gian này nữa. Tất cả rồi thì cũng sẽ mịt mù. Tất cả rồi sẽ nằm chìm dưới cơn mưa của trăm năm. Hay của ngàn năm. Trăm năm, cái dấu chấm bé cỏn con ấy cho một đời người. Và ngàn năm, so với thiên thu, thì cũng chỉ là một cơn gió phù du:

Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước mây qua mây qua …
Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa mây qua mây qua …
Bờ bến thiên thu nằm chìm dưới cơn mưa

(“Chìm dưới cơn mưa”)

Tất cả rồi sẽ chìm trôi. Ðó là nỗi ám ảnh không nguôi của Trịnh Công Sơn. Tính chất vô thường của đời sống, và của mọi sự trong nó, dẫn đến một thứ hư vô rợn ngợp bao phủ không gian tinh thần của một số ca khúc Trịnh Công Sơn. Nhưng, vì là một con người luôn thiết tha gắn bó và yêu thương cuộc đời, như đã phân tích ở trên, nhận thức về hư vô này không đưa người nghệ sĩ đến một thứ hư vô luận có tính cách tàn phá và phủ nhận cuộc đời. Trái lại, chính sự thiết tha ấy đã làm nên một chiếc phao giúp cho Trịnh Công Sơn khỏi phải “chìm dưới cơn mưa”. Ít ra, cho đến hết kỳ hạn của anh. Cho đến lúc “vết mực” kia bị xoá bỏ đi.

4. Ở trang 73 và 74 trong luận văn mình, Ban Mai viết:

Trịnh Công Sơn nhìn ngắm thân phận mình như một cái gì hư ảo, chóng tàn, chóng mất. Phần nào giống như Trần Thái Tông trong “Khoá hư lục” ngày xưa:

Thân như băng kiến hiệu
Mệnh tựa chúc đương phong
(Thân như băng gặp nắng trời
Mệnh như ngọn đuốc giữa gió)

Trần Thái Tông ví mệnh mình như “ngọn đuốc”, Trịnh Công Sơn ví đời mình như “đốm lửa”. Chúng ta thấy, cái nhìn của Trịnh Công Sơn về thân phận mình có chút gì mong manh, dễ tàn, dễ mất hơn:

Ðời ta có khi là đốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya

(“Ðêm thấy ta là thác đổ”)

ánh lửa ấy, rồi cũng như vệt nắng chiều mong manh hấp hối kia, sẽ tắt khi đêm về.

Ta có thể nhận ra là gần như nguyên văn đoạn này được sao chép lại từ chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc, trang 43:

Trịnh Công Sơn nhìn ngắm thân phận mình như một cái gì hư ảo, chóng tàn, chóng mất. Phần nào giống như Trần Thái Tông trong “Khoá hư lục” ngày xưa:

Thân như băng kiến hiệu
Mệnh tựa chúc đương phong
(Thân như băng gặp nắng trời
Mệnh như ngọn đuốc giữa gió)

Dù sao, cái nhìn của anh về thân phận mình có chút gì mong manh, dễ tàn, dễ mất hơn:

Ðời ta có khi là đốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya

(“Ðêm thấy ta là thác đổ”)

Ánh lửa ấy, rồi cũng như vệt nắng chiều mong manh hấp hối kia, sẽ đậy lại một ngày qua.

5. Trong phần “Trịnh Công Sơn, người ca thơ”, trang 100 trên Văn Học, Ban Mai viết:

Không ai nghe nhạc Trịnh Công Sơn mà lại không thấy những nét kỳ ảo trong ngôn ngữ của người nhạc sĩ. Những nét kỳ ảo trong thế giới của ông đã khiến cho cái thế giới ấy trở nên đẹp đẽ, lung linh nhiều mầu sắc, có khi nhòe nhạt thấp thoáng những nét nghệ thuật hơn.

Ðoạn này có thể nói là sao chép nguyên văn một đoạn văn trong chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc, chương năm, phần đầu của “Nghệ thuật ngôn ngữ”, trang 131:

Không ai nghe nhạc Trịnh Công Sơn mà lại không thấy những nét kỳ ảo trong ngôn ngữ của người nhạc sĩ. Những nét kỳ ảo trong thế giới của anh đã khiến cho cái thế giới ấy trở nên, có khi, đẹp đẽ, lung linh nhiều mầu sắc, có khi, nhòe nhạt thấp thoáng những nét nghệ thuật hơn.

 

*

Tất cả những phần vừa được trích dẫn để so sánh là những phần, trong luận văn của mình, Ban Mai không hề có ghi một chú thích nào cho thấy là mình trích văn của nhà phê bình trong chuyên luận của ông. Ðộc giả không có dịp đọc trước chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc sẽ tin rằng đó là suy nghĩ và chữ nghĩa của Ban Mai. Ðây có thể là một sự “nhập tâm”, hoặc một sự vô ý lớn, gây tai hại khá trầm trọng cho luận văn của Ban Mai. Nó cũng có thể phản ánh một khiếm khuyết của nền giáo dục Việt Nam trong khâu huấn luyện viết luận văn/luận án cấp hậu đại học.

Ngoài những đoạn vừa được phân tích trên, luận văn của Ban Mai còn những đoạn khác có thể cần được góp ý, nhưng trong giới hạn tìm hiểu và nghiên cứu của người viết bài này, tôi không muốn đi sâu vào việc phân tích thêm nữa. Bởi, như thế, có lẽ tương đối cũng đã đủ cho mục đích của bài viết này. Qua những điều vừa trình bày, tôi thấy mình có một vài cảm xúc và suy nghĩ sau, để kết thúc bài viết:

Thứ nhất, tôi tiếc vì mình đã phải viết ra bài này. Tôi yêu những công trình nghiên cứu có chất lượng và có chiều sâu về văn học và văn hoá Việt Nam. Ðề tài chọn lựa của tác giả Ban Mai là một đề tài có thể đưa đến một kết quả như thế, nếu ta biết sử dụng những thao tác đúng cách về mặt kỹ thuật cộng với một ý thức rõ ràng về vấn đề đạo đức nghề nghiệp khi cầm bút. Chọn lựa một đề tài như thế để làm luận văn bảo vệ bằng thạc sĩ (văn học) của mình là một chọn lựa đẹp và đáng quý. Tôi tiếc, nhưng tôi vẫn phải viết bài này. Vì những điều tôi phát hiện ra như đã trình bày có thể mang chứa trong nó những ảnh hưởng rất tiêu cực đối với công trình của tác giả Ban Mai, nói riêng, cũng như đối với cung cách và phong thái làm việc của những thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam sau này, nói chung.

Thứ hai, riêng cá nhân mình, tôi không nghĩ Ban Mai là một tác giả thiếu năng lực. Biết lợi dụng sức mạnh của công nghệ thông tin, sử dụng được những nguồn tài liệu rất phong phú trên hệ thống liên mạng toàn cầu với biết bao bài vở và thông tin hữu ích thuộc mọi đề tài, biết kết nối những thông tin đó và diễn giải chúng theo một trình tự hợp lý, mạch lạc và bám sát vào đề tài mình đã chọn lựa, đòi hỏi một quá trình đào luyện và học hỏi nhất định. Tác giả Ban Mai là một người đã vượt qua được cái mặt bằng nhận thức thông thường (xét theo một nghĩa nào đó) để vươn lên mức chuyên môn. Nhận thức được điều đó, mặc dù phải viết bài này, cá nhân tôi, tôi tránh không đi vào thái độ “xổ toẹt” mà người ta dễ có thể có khi đối diện với một trường hợp tương tự. Có thật nhiều những trường hợp như thế đã và đang xảy ra tại Việt Nam, từ cấp độ của một học sinh cho đến cấp độ của một tiến sĩ [5] . Tôi không muốn quy trách hoàn toàn cho hệ thống giáo dục tại Việt Nam, cho dù cái hệ thống ấy thật sự vẫn còn quá nhiều điều cần phải sửa đổi. Theo dõi những bài viết của những vị thức giả có quan tâm tới phẩm chất giáo dục của ta trên nhiều trang báo (in và điện toán) của cả trong lẫn ngoài nước, ta thấy được rất rõ những điều ấy. Ðiều tôi muốn nói ở đây là không chỉ Việt Nam là quốc gia duy nhất đang phải đối đầu với vấn đề nan giải liên hệ đến đạo đức và kỹ thuật trong thao tác khoa học gắn bó với quá trình viết luận văn cấp Thạc sĩ và Tiến sĩ. Mới đây, trên bài báo “Student Plagiarism Stirs Controversy at Ohio University”, đăng trên tờ Wall Street Journal ngày 15 tháng 8, 2006, tác giả bài báo là Robert Tomsho đã cho biết là khủng hoảng về việc đạo văn trong giới sinh viên ngoại quốc theo học tại Ohio University đang gây sóng gió tại đây. Vì những lý do khác nhau, nhiều sinh viên Trung Hoa, Ấn Ðộ, Sri Lanka, Saudi Arabia, Thái Lan, Nam Hàn (và cũng có cả Hoa Kỳ nữa) đã thực hiện những hành vi không đúng này. Ðại học Ohio đang đòi những sinh viên bị cáo buộc đạo văn phải sửa đổi lại luận văn bảo vệ bằng cấp của mình; nếu không, nhà trường sẽ huỷ bỏ bằng cấp đã trao, cho dù người sinh viên bị cáo buộc ra trường đã lâu. Có những sinh viên đã ra trường 5, 10, thậm chí 20 năm rồi nay mới bị phát hiện. Các giáo sư đỡ đầu hoặc chấm luận án đang gặp khó khăn; một số từ chức, một số đang bị cho nghỉ việc. Kể ra như thế để thấy rằng không nên chỉ vì vấn đề này mà xem Việt Nam là nước duy nhất “tụt hậu” về mặt phẩm chất giáo dục. Nhưng cũng không nên có thái độ “người sao ta vậy”, không cần sửa đổi làm chi. Trung Hoa và Ấn Ðộ là hai nước đang phải đối đầu một cách rất khó khăn với tệ nạn này. Dù sao, họ đang có những nỗ lực cần thiết để sửa sai. Việt Nam ta cũng cần phải có một thái độ tương tự.

Cuối cùng, chuyên luận Trịnh Công Sơn: Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc mặc dù chưa chính thức phổ biến trong nước, nhưng, theo chỗ tôi biết, đã có mặt ở Việt Nam, ít nhất trong dạng photocopy. Ngoài ra, như nhiều người đã biết, khoảng một nửa chuyên luận, được đăng lần đầu trên tuyển tập đặc biệt về Trịnh Công Sơn của tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ, đã được phổ biến trên một số mạng điện toán toàn cầu. Việc tác giả Ban Mai (vô ý hay cố ý) sao chép lại nguyên văn nhiều đoạn văn (mà không có những ghi chú chính đáng và cần thiết về thẩm quyền tác giả) từ chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc, một chuyên luận văn học mà ngôn ngữ mang đậm chất văn chương là một việc làm rất thiếu ý thức và không khôn ngoan. Hầu hết các sinh viên “có vấn đề” như vừa được trình bày ở trên tại đại học Ohio, Hoa Kỳ, là những sinh viên ngành kỹ sư. Các phần sao chép của họ là các phần với ngôn ngữ mang nặng tính khoa học và khô khan của các lý thuyết. Sự phát hiện, như thế, có thể khó nhận ra hơn. Nhưng sao chép các đoạn văn trong một tác phẩm còn khá mới, được phổ biến rộng rãi trên nhiều kênh thông tin khác nhau, của một tác giả được sự theo dõi của nhiều người cả trong lẫn ngoài nước, là một việc làm thật khó hiểu! Nói như vậy không có nghĩa là người ta có quyền đi sao chép những tài liệu khó phát hiện hơn. Tôi chỉ muốn nói là tôi khó tìm được cách giải thích về trường hợp này. Dù sao, tôi cũng muốn nói thêm rằng luận văn của Ban Mai có những đóng góp nhất định ở một số mặt. Nét sáng tạo trong luận văn của tác giả Ban Mai có thể chưa nhiều, nhưng những cố gắng tổng hợp và hệ thống hoá là có. Bỏ qua những sai sót trầm trọng kia—những sai sót mà riêng cá nhân mình tôi vẫn muốn nghĩ là mang nhiều dấu vết của sự thiếu kinh nghiệm và thiếu hướng dẫn trong việc viết luận văn/luận án, cũng như là do sự vội vã, hơn là do sự thiếu vắng một “đạo đức nghề nghiệp”—luận văn của Ban Mai vẫn có thể mang lại cho người đọc những hiểu biết hữu ích về đề tài mà tác giả đã chọn lựa.

Bài viết này chấm dứt ở đây với những cảm xúc buồn bã và xót xa. Dù sao, tôi không mất hy vọng vào phẩm chất giáo dục của Việt Nam. Tất cả những ai vấp phạm, vì bất cứ hoàn cảnh hay bất cứ lý do gì, trong những vị trí riêng của mình, đều có thể sửa đổi. Chúng ta tự sửa đổi và dạy cho những thế hệ sau những phong cách làm việc chính đáng và khoa học hơn. Ðược thế, tất cả chúng ta vẫn có thể tin tưởng vào sự vươn lên của những giá trị nhân văn trong văn hoá của người Việt.

23 tháng 8.2006

© 2006 talawas


[1]Xem Nguyễn Mộng Giác, “Trò chuyện với sinh viên”, đăng trên talawas ngày 14 tháng 3. 2006.
[2]Nếu không kể luận văn cao học về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn của Yoshii Michiko. Chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc nghiên cứu về mặt ngôn ngữ và đào sâu vào vùng vô thức của Trịnh Công Sơn nhiều hơn.
[3]Xem phỏng vấn Bùi Vĩnh Phúc của Phạm Văn Kỳ Thanh trên talawas, “Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, đăng làm hai phần, ngày 10 tháng 12, 2005.
[4]Cuốn Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật do nhà Văn Mới (Hoa Kỳ) xuất bản vào khoảng giữa năm 2005. Trước đó, theo tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong phần giới thiệu chuyên luận này, khoảng nửa cuốn sách, với sự sắp xếp nhiều phân đoạn của chính tác giả, đã được giới thiệu trên tuyển tập đặc biệt về Trịnh Công Sơn, cũng do tạp chí Văn Học xuất bản, vào tháng 10 & 11, năm 2001 (Trịnh Công Sơn – Tình yêu, quê hương, thân phận – ấn bản đặc biệt). Phần nghiên cứu này, theo nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc trong lời mở sách của mình, sau đó đã được một số websites, có thể do sự quý mến nội dung của nó, tự ý đánh máy và cho phổ biến. Cũng theo tác giả, một tuyển tập các bài viết công phu về Trịnh Công Sơn ở trong nước, thu thập nhiều bài viết từ nhiều nguồn tài liệu cả trong lẫn ngoài nước, dày trên 650 trang, đẹp và trang trọng (mà trong sự tìm hiểu và sưu tầm riêng, tôi được biết là quyển Một cõi Trịnh Công Sơn), cũng đã tự ý đăng gần như trọn vẹn lại phần tài liệu của Bùi Vĩnh Phúc đã được giới thiệu trên Văn Học, với lời xin lỗi chung các tác giả ngoài Việt Nam là vì trở ngại địa lý nên nhóm chủ trương đã không thể chính thức xin phép các tác giả này trong việc sử dụng bài của họ.
[5]Xem tin về Việt Nam: thí sinh thi văn vào đại học được điểm 10, “Bài văn điểm 10 là bản sao” trên http://www.bbc.co.uk/vietnamese ngày 11 tháng 8, 2006 và bài “Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương “đạo văn” như thế nào?” của Nguyễn Hoà trên http://www.viet-studies.org ngày 15 tháng 8, 2006.


2 – Thư gửi ông Vũ Đông Ngọc Ban Mai Kính thưa ông, 1. Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc bài viết của ông là nỗi đau xót vô cùng. Nếu với tư cách là người viết ông có “những cảm xúc buồn bã và xót xa”, thì tôi với tư cách người được ông nhắc đến càng thấy xót xa và buồn bã đến tận cùng. Cảm ơn ông rất nhiều khi có những lời lẽ đúng mực khi phê bình, và đem tôi làm minh chứng cho trường hợp về đạo đức trong nghiên cứu khoa học. Điều đó chứng tỏ ông là người rất ý thức và quan tâm đến tình hình giáo dục của nước nhà. Những điều ông viết phần nào chính xác và đúng thực tế giáo dục Việt Nam. Cũng như ông và bao người khác, tôi cũng rất hiểu thực trạng Việt Nam và những ái ngại khi có ai đó xưng mình là thạc sĩ hay tiến sĩ. Vì những ánh nhìn nghi ngại? 2. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà giới trí thức trong nước không có những người tự trọng biết làm việc nghiêm túc. Là người Việt Nam cho dù ở trong nước hay nước ngoài, tôi nghĩ rằng chỉ số IQ của người Việt là như nhau. Hơn nhau chăng là môi trường và điều kiện làm việc. Chính điều đó tạo ra một khoảng cách rất xa… Xin đừng nói đến điểm tối đa! Tôi hiểu điều đó cũng là tương đối trong một môi trường cụ thể, trên một bình diện cụ thể. Việc đánh giá, so sánh một đề tài, một tác phẩm trên một bình diện tri thức với điều kiện khác nhau, môi trường khác nhau là điều rất tương đối. Có khi ở hội đồng này, ngay chính địa phương này, trong những con người này là đánh giá như vậy. Nhưng cũng con người ấy, đến một nơi khác lại là con số không… đó là điều bình thường trong cuộc sống. Đánh giá văn chương lại càng nhiêu khê. Hiểu rõ những điều “nóng bỏng” mà xã hội đang quan tâm, vì vậy khi làm luận văn về văn học Việt Nam tôi không muốn đi vào vết chân cũ nên đã chọn một đề tài hoàn toàn mới mà ở Việt Nam ít nhất là trong các luận văn Cao học chưa từng nghiên cứu. Dùng ca từ Trịnh Công Sơn để nghiên cứu dưới góc nhìn văn học trong dòng văn học Việt Nam. Và để thực hiện nhiệm vụ chính đó, luận văn sẽ mở rộng trường nghiên cứu tới một số đối tượng thơ ca, ca từ khác nhằm tạo điều kiện so sánh trong khi khám phá giá trị độc đáo của ca từ Trịnh Công Sơn. (Cụ thể tôi so sánh với Thơ Thiền đời Lý – Trần; dòng Thơ Mới như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Huy Cận…; ca từ của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Lê Thương, Phạm Duy…). 3. Có lẽ chính tôi cũng không ngờ từ việc mình tự chọn đề tài Trịnh Công Sơn để nghiên cứu, đến khi tìm kiếm tư liệu, cho đến lúc bảo vệ và công bố đề tài, tôi đã trải qua nhiều khổ sở, nghi ngại, cấm đoán. Thậm chí đến lúc bảo vệ bạn bè còn nhắc nhở có lẽ sẽ không xong vì tôi đã đem ca từ nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vào bài viết. Đây là vấn đề tế nhị mà nhà nước hiện nay vẫn chưa cho phép, không được đem nghiên cứu trong trường học chính thống. Liệu những suy nghĩ “nội chiến” của Trịnh Công Sơn mà tôi đồng cảm có được hội đồng thông qua? Những người không chuyên ngành thì lo lắng: Văn học Việt Nam hết người rồi hay sao mà phải đem ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào nghiên cứu, ông ta là nhạc sĩ, có phải là nhà văn nhà thơ đang được giảng dạy trong trường học đâu? Những người bạn cùng học thì bảo tôi điên khi phải tự bỏ tiền ra truy cập tài liệu trên internet cả mấy năm trời, rồi lại đi Huế gặp ông Bửu Ý và Hoàng Phủ Ngọc Tường xác minh tư liệu và nhờ cung cấp kiến thức, ra Hà Nội gặp GS. Dương Viết Á dạy tại Viện Âm nhạc Việt Nam để học hỏi về lý thuyết ca từ Việt Nam. Vào Sài Gòn gặp gia đình ông Trịnh Công Sơn để thẩm định tư liệu cuộc đời, trước khi bảo vệ… Việc gì phải tốn công sức tiền bạc nhiều như vậy? Với đồng lương một công chức khiêm tốn như tôi? Tôi đã quá mệt mỏi. Nói những điều này để ông hiểu rằng, tôi làm đề tài về Trịnh Công Sơn từ niềm say mê của tôi từ khi tôi còn nhỏ. Và làm với tấm lòng lương thiện. Người ta nói: Ca từ của Trịnh Công Sơn là tự tình khúc, có nghĩa là tự hát cho mình nghe. Ai cũng đều thấy có mình trong đó. Vì vậy, việc có nhiều người cùng đồng cảm với nội dung ca từ của Trịnh Công Sơn là điều bình thường. Trong một mớ tài liệu hỗn độn từ nhiều nguồn thu thập được, đôi lúc đọc những bài nghiên cứu tôi tự hỏi sao cảm xúc của họ giống ta quá, y chang vậy? Tôi đặc biệt yêu thích những bài viết của các ông Bùi Vĩnh Phúc, Trần Hữu Thục, Lê Hữu, Đặng Tiến, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường…, kể nhiều người “hải ngoại” không dễ bị bài xích “chuộng ngoại”; nhưng không, vì họ viết rất hay và tinh tế (tôi may mắn học được ở họ rất nhiều). Có lẽ vì họ cùng thời với Trịnh Công Sơn, đã từng cùng Trịnh Công Sơn trải qua một giai đoạn đầy biến động của đất nước nên cảm rất sâu tuy nhiều quan điểm trái ngược. Tôi cảm nhận được điều đó và hiểu họ. 4. Trong quá trình làm việc, giáo sư hướng dẫn cho tôi luôn nhắc nhở phải cẩn thận ghi chú rõ ràng những tài liệu tham khảo vì khi hiệu đính dễ nhầm lẫn và quên. Vì trong thao tác viết bản thảo, tôi phải sửa đi sửa lại hàng chục lần. Những điều ông Vũ Đông Ngọc chỉ ra phần nào là chính xác và đúng như vậy, tôi đã ghi chú sai sót trong quá trình làm việc. Đó là lỗi ở phương pháp, tôi không hề cố ý. Trong quá trình sắp xếp ý tưởng của mình để kết nối với các nguồn dẫn liệu theo một bố cục nhất định, có lúc tôi đã sơ suất chưa ghi hiệu đính. Qua nhiều lần chỉnh sửa, đã dẫn đến văn bản như ông thấy. Vấn đề đồng cảm và nhập tâm ngôn ngữ trong bề bộn những tư liệu, có thể đã làm cho tôi mất khả năng nhận thấy thiếu sót này (nói theo thuật ngữ là bị bão hòa). Tôi hiểu tính nghiêm trọng của vấn đề nếu bị hiểu lầm. Nếu các bạn đã đọc bài viết, dễ dàng nhận thấy tôi trích dẫn tư liệu từ nhiều nguồn, nhiều người và có ghi tên tác giả hoặc ghi chú trong tài liệu tham khảo rất nhiều. Thật ra, là một người thường xuyên lên mạng để lấy thông tin làm việc, tôi hiểu rằng trong thế giới phẳng về thông tin ngày nay, việc công bố tác phẩm sẽ được sự soi rọi của nhiều người và không gì che dấu được. Đặc biệt, tôi thừa hiểu ông Bùi Vĩnh Phúc là nhà lý luận phê bình về Trịnh Công Sơn rất nổi tiếng. Bài viết tôi đăng trên tạp chí Văn Học là bài viết tổng hợp từ luận văn, đó không phải là luận văn chính thức. Vì bố cục hoàn toàn khác nhau: Bố cục bài viết đăng trên tạp chí Văn Học. THÂN PHẬN CON NGƯỜI VÀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 1. Cuộc đời và sự nghiệp 2. Tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn 3. Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn 4. Trịnh Công Sơn, người ca thơ Bố cục luận văn thạc sĩ: THÂN PHẬN CON NGƯỜI VÀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN A. Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu 5. Cấu trúc luận văn B. Nội dung Chương I: Cuộc đời và sự nghiệp Trịnh Công Sơn 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 1.2 Tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn Chương II: Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn Phần 1. Thân phận con người trong ca từ Trịnh Công Sơn 1.1 Con người bản thể trước sự sống và cái chết, ám ảnh về nỗi tàn phai 1.2 Thân phận con người trong nỗi buồn và cô đơn 1.3 Thân phận con người trong chiến tranh Phần 2. Tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn 2.1 Quan niệm tình yêu và những biểu hiện tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn 2.2 Người nữ và những khúc ru trong ca từ Trịnh Công Sơn 2.3 Tình người trong ca từ Trịnh Công Sơn. Chương III: Nghệ thuật ngôn từ về thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn Phần 1. Lý thuyết về ca từ 1.1 Ca từ là gì? 1.2 Mối quan hệ giữa ca từ với thơ ca và âm nhạc Phần 2: Nghệ thuật ngôn từ về thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn 2.1 Ngôn ngữ ca từ là ngôn ngữ thơ của nhạc 2.2 Ngôn ngữ ca từ chịu sự chi phối của âm nhạc: thường sử dụng phương pháp điệp từ (láy), điệp câu, điệp vần… 2.3 Ngôn ngữ được “lạ hóa”, kết hợp một cách độc đáo, mới lạ, mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ 2.4 Ngôn ngữ thường mang tính nhị nguyên, tính triết học C. Kết luận D. Tài liệu tham khảo Phần Phụ lục Phần tài liệu tham khảo trong bài viết đăng báo Văn Học gồm 55 mục, trong đó tôi có ghi rõ tài liệu về ông Bùi Vĩnh Phúc và bài phỏng vấn của Phạm Văn Kỳ Thanh (mục số 3 và mục số 31). (3) Bùi Vĩnh Phúc. 2005. “Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, nguồn http://www.tcs-home.org (31) Phạm Văn Kỳ Thanh. 2005. Phỏng vấn Bùi Vĩnh Phúc, “Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, nguồn: in trên talawas tháng 12/2005 Trong bài viết tôi có ghi chú 5 lần về ý kiến của ông Bùi Vĩnh Phúc khi nhận định các ca từ của Trịnh Công Sơn: 1. Trong bài “Nhìn những mùa thu đi”, Trịnh Công Sơn viết: Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai. Đó là những nhận thức của Trịnh Công Sơn về bước đi hững hờ mà gây nhiều xót xa, đau đớn của thời gian, đối với kiếp người (3). 2. Chợt một chiều tóc trắng như vôi. Tiếng kêu nghe thật thảng thốt và xót xa. Cái khoảng thời gian chiều, rồi tối, rồi đêm ấy hình như là khoảng thời gian đem lại cho Trịnh Công Sơn nhiều ám ảnh nhất trong những suy nghĩ về thời gian của ông. Trong hướng nhìn thời gian của ông, không phải không có những ban mai, những sương sớm và ánh nắng. Nhưng khảo sát kỹ, ta vẫn thấy Trịnh Công Sơn có nhiều gắn bó với những khoảng thời gian chiều, tối, đêm, là những khoảng thời gian bắt đầu cho sự muộn màng của ngày để đi dần đến sự tàn tạ và chấm dứt của nó (3). 3. Bàn tay chăn gió mưa sang. Gió mưa ở đây được xem như bầy cừu hay một bầy dê nhỏ đáng yêu mà bàn tay ai đã chăn dắt sang đây (3). 4. Bùi Vĩnh Phúc nhận định: Người ta thường cho rằng những lời ca của ông là thơ. Thì đúng như vậy. Chúng là những lời thơ thả bay cho gió cuốn. Chúng là những hình ảnh, những biểu tượng bất chợt. Như những hình ảnh bất chợt hiện ra lạ lùng, kỳ bí và đầy hư ảo trong những giấc mơ của ta. …………….. (31). 5. So với suy nghĩ của tôi, nhà lý luận phê bình Bùi Vĩnh Phúc cũng có cái nhìn tương tự “… nếu hiểu dòng nhạc như thế, hành âm như thế, ca từ của Trịnh Công Sơn có bắt được vào cái thần thái, cái phong khí của dòng nhạc hay không”. Theo ông Bùi Vĩnh Phúc thì “Trịnh Công Sơn đã tìm được những dòng nhạc hoặc lối hành âm thích hợp với ca từ của ông, thường là lối kể chuyện, những điệu ballad” (31). Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao ông Vũ Đông Ngọc không nói rõ những lần tôi có hiệu đính khi trích dẫn tài liệu những lời bình của tác giả Bùi Vĩnh Phúc? Mà chỉ tỉ mỉ tìm ra những sai sót để minh chứng cho sản phẩm giáo dục Việt Nam hiện nay? Và không ngần ngại đưa ngay lý lịch của tôi lên mạng để công bố. Tôi hiểu ẩn ý của ông. Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ lấy văn của người khác làm của riêng mình. Mặc dù tôi rất ảnh hưởng văn của ông Bùi Vĩnh Phúc. Mặc nhiên, tôi tự biết mình chỉ là học trò của ông ấy thôi, luận văn thạc sĩ chỉ là một bài tập lớn để đánh giá về khả năng học viên tự nghiên cứu – tôi chỉ là người đang tập nghiên cứu. Vì vậy việc đòi hỏi phải đưa ra những điều sáng tạo mới lớn lao là điều tốt nhưng là quá sức của tôi, tôi đã nói rõ ràng trong Mở đầu luận văn: Phần Lịch sử vấn đề và Giới hạn đề tài: “Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn này hệ thống lại, đào sâu thêm, mở rộng hơn nữa, nhằm góp phần khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật ca từ Trịnh Công Sơn trong dòng văn hóa Việt Nam, dưới góc nhìn văn học.” Xin trích một phần Mở đầu của luận văn: 1. Lịch sử vấn đề 1.1. Về thư mục bài hát Người ta thường ước lượng Trịnh Công Sơn đã sáng tác hơn 400 ca khúc, có người đã tăng số ấy lên 600, 800 bài, thậm chí có người cho rằng 1000 bài, nhưng không ai đưa ra chứng cớ gì cụ thể, không biết dựa vào dữ kiện nào để phỏng lượng như vậy. Chính Trịnh Công Sơn, lúc sinh thời, cũng không biết mình đã viết bao nhiêu ca khúc vì thời chiến tranh sống cuộc đời trốn tránh, lang bạt, ông không có điều kiện giữ gìn, những sáng tác ấy thất lạc khắp nơi. Vào năm 1991, khi Trịnh Công Sơn còn sống, cô Yoshii Michiko một sinh viên người Nhật làm luận văn cao học về nhạc phản chiến của ông ở Paris, sưu tầm được 196 bài hát, trên cơ sở tài liệu Trịnh Công Sơn cung cấp dựa vào trí nhớ tác giả hoặc của các ca sĩ [18]. 10 năm sau, khi TCS qua đời năm 2001, những bạn bè của ông ở trong nước và ngoài nước cố công sưu tầm bài hát của ông qua nhiều nguồn. Hiện nay trên mạng “Hội Văn hóa Trịnh Công Sơn tại Pháp”, trong thư mục bài hát Trịnh Công Sơn, ông Phạm Văn Đỉnh đã kỳ công sưu tầm được 291 bài hát, có chú thích năm tháng rõ ràng chính xác. Có lẽ đó là thư mục bài hát tìm được nhiều nhất cho đến thời điểm hiện nay [50]. Khi sưu tầm ca từ của Trịnh Công Sơn để làm luận văn cao học, bước đầu chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn như vậy. Tuy nhiên, qua thời gian dài sưu tầm công phu, cẩn trọng với những cứ liệu khoa học có được chúng tôi nhận định rằng Trịnh Công Sơn sáng tác khoảng trên 300 bài hát. 1.2. Về bài viết nghiên cứu hiện tượng Trịnh Công Sơn Âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ngay từ khi mới ra đời và xuất hiện trước công chúng đã gây được một tiếng vang và nhanh chóng trở thành một hiện tượng. Từ đó đã có những bài viết về nhạc của ông. Chúng tôi tạm phân ra có hai thời kỳ như sau: Thời kỳ ông còn sống và sau khi ông mất. Thời kỳ Trịnh Công Sơn còn sống: Qua tư liệu mà chúng tôi sưu tầm được, trước năm 1975 có vài tờ báo viết về hiện tượng nhạc Trịnh Công Sơn với những nhận định chung chung về thiên tài âm nhạc của ông. Gồm các bài: “Phong trào da vàng ca” của Lê Trương, “Trịnh Công Sơn” của Tạ Tỵ, “Huyền thoại về con người” của Tô Thùy Yên. Trong các bài viết đó, nhận định của Tạ Tỵ rất đáng chú ý. Ông cho rằng: “Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật làm lay động đến chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công Sơn. Trong vòng 4-5 năm trở lại đây, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly đã đi hẳn vào đời sống tâm linh của những người trẻ tuổi bằng niềm đau xót và phẫn nộ xen kẽ trong một hoàn cảnh không mấy thuận lợi vì tình hình quân sự và chính trị” [30]. Nhìn chung các bài viết trên cho ta cái nhìn toàn cảnh về âm nhạc Trịnh Công Sơn trong bối cảnh xã hội chiến tranh loạn lạc lúc bấy giờ, không có bài viết nào nghiên cứu sâu về ca từ Trịnh Công Sơn. Đến năm 1991, khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn sống, có một luận văn cao học viết về nhạc của ông, do cô Yoshii Michiko người Nhật nghiên cứu với đề tài “Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn”, viết bằng tiếng Pháp, bảo vệ tại Đại học Paris 7. Luận văn này giới thiệu những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn, nhằm chứng minh đó là những kiệt tác về âm nhạc, từ đó giúp người nghe nhạc hiểu tốt hơn về những bài hát phản chiến của ông [18]. Tóm lại, trong khoảng thời gian 62 năm khi ông còn sống, việc nghiên cứu ca từ của Trịnh Công Sơn rất hạn chế, do nhiều nguyên nhân: trước năm 1975 do chiến tranh loạn lạc, sau năm 1975 trong quan điểm chính thống có nhiều luồng tư tưởng còn cực đoan, phiến diện. Đây đó, trên những tờ báo trong nước và nước ngoài chỉ giới thiệu về hiện tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong âm nhạc và trong cuộc đời, chưa đi sâu khai thác những đóng góp của ông về nghệ thuật ca từ. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời ngày 01/04/2001, người ta mới bắt đầu nghiên cứu nhiều về cuộc đời và những sáng tác của ông. Tại Việt Nam Có nhiều tác phẩm rất công phu của Nhiều tác giả lần lượt ra đời, tập họp và in lại những bài phê bình của các tác giả trong và ngoài nước (lấy lại trên các trang web hải ngoại và được biên tập lại) gồm những bài phỏng vấn, những bài nghiên cứu, cảm nghĩ của bạn bè, và một số bài viết của Trịnh Công Sơn. Phần phụ lục cung cấp nhiều hình ảnh cuộc đời ông và giới thiệu một số ca từ của Trịnh Công Sơn. Sau 01/04/2001, cuốn sách ra đời đầu tiên là cuốn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sưu tầm và biên soạn (2001): Trịnh Công Sơn, một người thơ ca một cõi đi về. Sau đó tái bản với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (2004) in ấn đàng hoàng hơn và có một số sửa chữa. Tiếp theo, lần lượt được phát hành các cuốn Trịnh Công Sơn, Cát bụi lộng lẫy NXB Thuận Hóa và Tạp chí Sông Hương (208 tr.), Trịnh Công Sơn, người hát rong qua nhiều thế hệ, NXB Trẻ (416 tr.), Trịnh Công Sơn, rơi lệ ru người, NXB Phụ Nữ (208 tr.) và Trịnh Công Sơn, cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng, NXB Văn nghệ TPHCM (286 tr.). Ngoài ra còn có các tác phẩm cá nhân của Bửu Ý, giảng viên tiếng Pháp Trường Đại học Sư phạm Huế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân. Ở đây, chúng tôi xin điểm qua 3 tập tiêu biểu của Nhiều tác giả: Thứ nhất là tập Trịnh Công Sơn, rơi lệ ru người do NXB Phụ Nữ ấn hành năm 2003, dày 208 trang. Cuốn sách nhỏ, khiêm tốn, in thoáng, chữ rõ, tụ họp một số bài viết thiên về người mẹ, người phụ nữ. Trong đó có thư gửi Ngô Kha khá dài của Trịnh Công Sơn, đề năm 1974 khi nhà thơ Ngô Kha bị nhốt khám lần thứ ba. Văn bản này rất đáng ngờ, vì văn phong rất hiện thực, nội dung lại rất dấn thân, lời lẽ cổ vũ đấu tranh liên tục, không chùn… Nổi bật trong tập sách này có bài “Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận” của Bửu Ý, với những nhận định sắc sảo: “Tình yêu, với Trịnh Công Sơn, là diễm tình. Trước hết là phải đẹp, đẹp trong từng lời bội bạc, bước chân quay gót, trong dang dở và tan vỡ… Cái đẹp ở đây là cái đẹp siêu thực, tức là ít nhiều nhuốm màu sắc ý chí của kẻ chủ trương và đồng thời nhạt bớt hương vị của thường tình… Quê hương nổi bật hai nét lớn: nghèo và chiến tranh. Cái nghèo còn là hậu quả của chiến tranh. Và chiến tranh diễn ra không phải ở chiến trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh… Giữa một nền trời như vậy, thân phận con người là một vấn nạn, ta nên nói ngay: đây là một chủ đề tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý… Sự sống bước giật lùi mỗi phút giây như hình ảnh cuốn chiếu. Trịnh Công Sơn quả quyết “Chỉ có ta trong một đời” và dứt khoát chọn lựa: Sống, sống hết mình. Không khất hẹn, không chờ đợi, không ủy quyền… Phải ôm cho hết cuộc đời nhị nguyên cồm cộm này, bao gồm những cặp phạm trù khó dung nạp nhau nhưng khó phân ly: sống/chết; buồn/vui; hạnh phúc/khổ đau” [40; 129-133]. Tiếp theo là tập Trịnh Công Sơn, người hát rong qua nhiều thế hệ, của NXB Trẻ, 2003 dày 416 trang. Bìa cứng, có chân dung tự họa của Trịnh Công Sơn, năm 1999, sau một cơn bịnh “thập tử nhất sinh”. Ấn phẩm này trình bày đẹp, in ấn trang nhã, tụ họp 26 bài viết của Trịnh Công Sơn, 28 bài viết về Trịnh Công Sơn trước ngày 1/4/2001, 87 bài của bạn bè sau 1/4/2001 và một số hình ảnh tư liệu về Trịnh Công Sơn. Nổi bật có bài “Hành tinh yêu thương của Hoàng tử bé” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhận định về tình ca, nhà văn họ Hoàng cho rằng: “… Với Sơn, Người Tình là người đối thoại cần thiết, và vì thế trong tình ca Trịnh Công Sơn, người nói không là ‘Anh’ mà là ‘Tôi và Em’. Hai tiếng Anh-Em ngọt ngào đó hình như không thích hợp với những điều cay đắng. Không thích hợp với nhiều thứ gai góc cuộc đời, như thân phận, cái chết và nỗi tuyệt vọng: “Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng tuyệt vọng” Đến đây thì mọi sự đã ngã ngũ, rằng tình ca Trịnh Công Sơn chính là siêu hình học, và vì thế không bao giờ cũ” [39; 128]. Nhạc sĩ Phó Đức Phương, trong bài “Khát khao hướng về cội nguồn, về cái đẹp” cho rằng: “Âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã gắn bó thật sự với cuộc sống xung quanh anh và mang một ý nghĩa phản ánh rất điển hình, khi mà đất nước, do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, còn bị chia cắt. Ở thời kỳ đó, nhiều ca khúc của anh bộc lộ nỗi thao thức bồn chồn của người dân sống trong một điều kiện éo le của vận mệnh cá nhân cũng như vận mệnh dân tộc. Nỗi khắc khoải, khát khao hướng về cội nguồn, hướng về quê hương, sự mong mỏi ngày thống nhất, ngày đoàn tụ với tình yêu thương đùm bọc của một dân tộc có quá nhiều hy sinh, mất mát, thường được bộc lộ trong các ca khúc của anh. Bằng cách riêng có thể, gắn liền với thân phận mình, nhạc sĩ đã chia sẻ với đất nước, ở một thời kỳ gian truân khốc liệt nhất, những vui buồn, mong đợi, ước vọng sâu thẳm của lòng mình đối với ngày khải hoàn, hoan ca của lịch sử dân tộc. Nhưng cái vẻ riêng đặc biệt, cái bao trùm rộng lớn làm nên hiện tượng Trịnh Công Sơn, chính là ở mảng tình ca bất hủ của anh. Các ca khúc của anh luôn chứa đựng vẻ đẹp khó tả của ước vọng yêu đương. Nỗi khắc khoải tình yêu đã trở thành ám ảnh, khiến nó ngày càng mênh mông đến độ ngôn từ tả thực không thể chuyển tải nổi, và cách bộc lộ của anh dường như đã tiến gần đến trường phái ấn tượng và siêu thực” [39; 280]. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong bài “Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người tình lãng du của nhiều thế hệ”, đã tự hỏi: “… vì sao mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được công chúng hâm mộ đến thế? Có lẽ chính anh là một nhà thơ được hát lên. Ca từ của anh không chỉ là giàu chất thơ người ta thường nói, mà đấy là những bài thơ thực sự, những bài thơ thấm đẫm triết lý về cuộc sống, về tình yêu, về sự sinh ra và trở về cát bụi của phận người ngắn ngủi… khi được nhờ chọn một số bài thơ tình hay nhất thế kỷ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến đã tâm đắc tiến cử lời bài ca “Đêm thấy ta là thác đổ” của Trịnh Công Sơn. Nhưng những lời thơ ấy được hát lên bằng nhạc của chính tác giả, thì nó bỗng trở thành những câu kinh bất hủ. Và người ta nói rằng, âm nhạc của anh là những bài kinh cầu bên vực thẳm về thân phận và tình yêu” [39; 171]. Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài “Huyền thoại cát bụi” nhận định về âm nhạc Trịnh Công Sơn, ông viết: “… Tôi lắng nghe, âm nhạc Trịnh Công Sơn linh thiêng như tiếng gọi hồn, như sóng âm, như địa chấn, làm loạn nhịp tim tôi và làm loạn nhịp tim biết bao người hâm mộ… Âm nhạc Trịnh Công Sơn đã nâng cao, nối dài, và vô hạn hóa cuộc đời hữu hạn của tác giả. Bao nhiêu là người sẽ còn nuôi anh trong hồn. Bao nhiêu là người sẽ còn hát với anh và khóc vì anh. Tình người không hề vơi trên cõi đời nhưng nó có luật đo lường của nó. Anh cho bao nhiêu thì sẽ được tặng lại bấy nhiêu, ấy là lẽ công bằng của cát bụi. Xin hình dung, tầm vóc con người được xác định bằng tầm vang của trái tim người ấy. Anh là người có âm vang vô tận, âm vang của trái tim thiên tài. Một thiên tài không có tuổi” [39; 164]. Thứ ba là tập Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hóa và TTNN Đông Tây, 2004, dày 650 trang. Công trình này gồm 43 bài viết của bạn bè, trong đó có nhiều bài trùng với tập Người hát rong qua nhiều thế hệ, phần phụ lục có văn xuôi Trịnh Công Sơn, đặc biệt có truyện ngắn “Chú Lộ”, và phần phụ lục gồm 73 ca từ của Trịnh Công Sơn. Đáng chú ý có bài “Trịnh Công Sơn và tiềm thức ‘Thân phận mong manh’” của Nhật Lệ. Ông viết: “Ám ảnh về thân phận, tình yêu ẩn hiện trong ca khúc của Trịnh Công Sơn. Ca khúc của anh là sự giãi bày với mọi người, giãi bày mà người nghe không thấy chán. Dường như bởi từng góc tâm trạng đều có mặt ta ở đấy. Nỗi buồn của Trịnh Công Sơn đã đặc trưng hóa cho những mảnh tôi “tự mình liếm vết thương”. Ấy nên, người trẻ hay già đều yêu thích hoặc chấp nhận ca khúc của Trịnh Công Sơn ở mức khá phổ cập” [38; 141]. Đánh giá về ca từ Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Phạm Tuyên viết: “Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí hết sức quan trọng và về mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh không dễ dãi tùy tiện, mà luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói là anh đã tìm được những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kỳ, kiểu cách để thể hiện nội dung đó. Đối với người sáng tác, có được một phong cách riêng là một điều phải phấn đấu. Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình một sự khác biệt lập dị, nhưng bằng tình cảm chân thành của mình, anh đã có được một phong cách rất riêng được sự mến mộ của đông đảo công chúng. Sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh với những sự đánh giá có thể khác nhau, nhưng phải khẳng định rằng sự nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng vào nền ca khúc Việt Nam hiện đại” [38; 463]. Phạm Phú Phong trong bài viết “Lời thơ trong ca khúc Trịnh Công Sơn” đã nhận định: “Văn Cao, Nguyễn Đình Thi và sau này có Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha… đến với thơ rồi mới đến với nhạc. Với Trịnh Công Sơn, cả hai cùng đến một lúc: khi anh đặt bút xuống ghi những lời ca vào khuôn nhạc, cũng là lúc hồn thơ trong anh ào ạt, dồn đến réo gọi. Hay nói đúng hơn, anh để khuôn nhạc của mình trôi trên dòng chảy của thơ ca, mà cả hai phía đều ào ạt, cồn cào một cách mãnh liệt như nhau. Một nghịch lý khá phổ biến trong nền thơ ca Việt Nam là nhiều người làm thơ nhưng ngôn từ chỉ dừng lại ở lời ca, có khi để lẫn vào ca dao dân gian, trong khi đó, có những người viết lời ca cho nhạc của mình, dù không hề có ý thức rằng mình đang làm thơ, mà ngôn từ ca khúc kia, được giai điệu truyền đến cho tâm hồn người nghe, hòa nhập ở cửa ngõ của thơ. Trịnh Công Sơn là một trong những người như vậy” [38; 190]. Tác giả Trần Thanh Hà trong bài “Ca hát không mỏi mệt về phận người” nhận định về phận người trong ca từ Trịnh Công Sơn như sau: “Đời người, với Trịnh Công Sơn là một hành trình cát bụi, sự sống chỉ là đối diện với cái chết, trong niềm vui của tuổi trẻ và tình yêu đã thấy đâu đó ‘Lau trắng trong tay’ và đường trần là một chuyến khăn gói để ‘Mai kia chào cuộc đời nghìn trùng con gió bay’. Cái nhìn ấy thật buồn nhưng không hẳn bi quan, bởi vì cũng trong nó vụt sáng lên cái ý niệm Cát bụi tuyệt vời. Dẫu là thoáng chốc thôi trong thế gian vô cùng, thì hãy sống cho tận cùng, sống cho đẹp, hãy yêu, yêu em, yêu cuộc đời và yêu mọi người. ‘Làm sao biết từng nỗi đời riêng, để yêu thêm yêu cho nồng nàn’; và dẫu cho rồi Em sẽ đi, mọi điều sẽ mất, cũng hãy vui như mọi ngày, vui như mọi người, dù ‘Chiều nay không ai qua đây hỏi thăm tôi một lời, vẫn yên chờ đêm tới’… Cát bụi hư vô, vậy thì Em ạ, hãy bỏ đi tất cả, đừng hận thù, hãy nhìn đời qua bằng ánh mắt độ lượng, hãy yêu thương vì chỉ có yêu thương là cứu chuộc chúng ta, đừng bao giờ đòi hỏi, ‘Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…’ Trịnh là như thế” [38; 69]. Ngoài ba tập sách của Nhiều tác giả trên, còn có ba tác phẩm cá nhân: Thứ nhất là tập Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý – một người bạn thân từ thời trai trẻ của Trịnh, do NXB Trẻ ấn hành năm 2003, dày 211 trang. Bửu Ý hiện là giảng viên dạy Pháp văn tại Trường Đại học Sư phạm Huế và cũng là họa sĩ, ông viết lại từng chặng đời của Trịnh Công Sơn và phân tích một số chủ đề và nghệ thuật ngôn ngữ trong ca từ, bên cạnh còn có những thủ bút của Trịnh. Ngoài ra Bửu Ý còn cung cấp một số bài viết của người nước ngoài viết về Trịnh. Tiếp đến, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân cho ra đời tác phẩm Trịnh Công Sơn, có một thời như thế, NXB Văn Học, 2003, dày 214 trang. Những tư liệu sưu tầm công phu, đáng tin cậy ấy đã cho ta một cái nhìn xác đáng về cuộc đời của Trịnh. Bên cạnh đó, tác giả đã có công trong việc truy tìm lại bài “Dã Tràng ca” (còn có tên “Trường ca Tiếng hát Dã Tràng”), được sáng tác thời học Sư phạm Quy Nhơn bị thất lạc đến nay. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường – bạn rất thân của Trịnh – ngoài bài viết “Hành tinh yêu thương của Hoàng tử bé” in ở tập Trịnh Công Sơn, người hát rong qua nhiều thế hệ còn cho xuất bản tập Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của Hoàng tử bé, do NXB Trẻ xuất bản năm 2004, dày 141 trang, với những bài tùy bút viết về kỷ niệm của hai người và những cảm nhận về nhạc phản chiến, tình ca Trịnh Công Sơn. Tại hải ngoại Ngay từ ngày 02/04/2001, sau khi Trịnh Công Sơn vừa mất một ngày, Diễn Đàn là tạp chí đưa tin và có bài viết sớm nhất về ông đăng trên mạng Internet, chủ yếu là tập họp các bài viết của bạn bè sinh sống ở Âu, Mỹ. Tiếp đó, trung tuần tháng 4/2001, tạp chí điện tử Văn Học Nghệ thuật đã nhanh chóng đưa lên mạng Phụ trương đặc biệt, phong phú và đa dạng với nhiều bài viết từ trong và ngoài nước, chủ yếu là kể lại những kỷ niệm và cảm xúc của bạn bè dành cho Trịnh Công Sơn. Tạp chí Hợp Lưu số 59 tháng 6&7/2001 dành 72 trang đầu viết về ông. Trong đó, có bài “Chiêm ngắm đóa hoa vô thường” của Hà Vũ Trọng, khẳng định nhạc của ông là thơ, ông viết: “Chúng ta yêu nhạc Trịnh Công Sơn vì trong nhạc của anh có thơ. Vậy, chúng ta có được cả hai. Tự thơ đã là một loại nhạc biểu hiện cái đẹp và sự hài hòa của chữ nghĩa. Nhạc thơ ở anh song sinh từ niềm thôi thúc muốn tỏ tình với cuộc đời. Nhạc thơ đó cũng lung linh ảo diệu như bóng trăng in trên mặt nước mà chúng ta thường không phân biệt nổi đâu là nhạc là thơ. Nếu nhạc là con sông thì thơ là con trăng nhập vào mặt nước thành con thuyền chở tình yêu của anh. Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được” [43; 17]. Đặc biệt, tạp chí Văn Học tại Cali, số tháng 10&11/2001 dành nguyên một ấn bản chuyên viết về Trịnh Công Sơn. Trong đó, có bài nghiên cứu “Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn” của Trần Hữu Thục rất công phu, ông so sánh kỹ thuật viết của Trịnh Công Sơn khi viết về hai dòng nhạc tách bạch: dòng nhạc về chiến tranh – hòa bình, và dòng nhạc về tình yêu, thân phận. Ông nhận định: “… trong hầu hết những bài hát thuộc loại chiến tranh và hòa bình, anh viết bằng một lối viết rất hiện thực, kể cả khi mô tả những giấc mơ, những ước vọng. Hiện thực kinh khiếp đó được mô tả bằng chữ nghĩa sống động và đầy hình ảnh: trái tim rơi theo đại bác, thịt người cho thú nhai ngon, thịt xương đã phơi đồng xanh, đại bác ru đêm dội về thành phố… Mọi sự hoàn toàn khác hẳn khi ta bước vào tình ca và thân phận. Tất cả bắt đầu chông chênh ở biên giới chữ nghĩa, ý tưởng bởi vì có một sự pha trộn đặc biệt giữa nhiều hình ảnh và ý tưởng cũng như ẩn dụ… tạo ra những hình ảnh, biểu tượng mới và rất nhiều khi tạo nên những hiệu ứng đặc biệt về mặt âm thanh: tuổi đá buồn, nắng khuya, mặt trời ngủ yên, miệng ngọt hạt từ tâm” [44; 57-58]. Và kỳ công hơn là bài viết của Bùi Vĩnh Phúc, “Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”. Bằng phương pháp thi pháp học, ông khảo sát kỹ thời gian và không gian nghệ thuật trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Theo ông trong nhạc Trịnh Công Sơn chủ yếu có những loại thời gian nghệ thuật: phai tàn, trông ngóng, hướng vọng thiên thu. Không gian nghệ thuật: gồm Trời đất, Sông núi, Rừng, Biển. Không gian phố. Và cuối cùng ông kết luận: “Trịnh Công Sơn là một thi sĩ. Anh sống trong thời đại của mình, và anh có những giấc mơ. Và nói như Jiris Wolker ‘Qua nhà thơ, người ta nhìn ra được tầm cỡ của thời đại mà ông ta sống’. Có lẽ, nếu muốn, chúng ta cũng thấy được tầm cỡ của thời đại mình qua những giấc mơ và thế giới mà Trịnh Công Sơn đã sống, đã yêu và đã cùng xót xa với chúng” [44; 172]. Kế đến là bài “Trịnh Công Sơn, tiếng hát hòa bình” của Đặng Tiến, bàn về ca khúc phản chiến, ông giải thích: “Dùng chữ nhạc phản chiến, theo kiểu anti-guerre, anti war, là nói cho gọn, và đã có người phản bác, cho rằng mông lung, vì người nghệ sĩ chân chính nào mà không chống chiến tranh? Ngoài ra, những ca khúc Trịnh Công Sơn tố cáo chiến tranh, gào gọi hòa bình còn bày tỏ khát vọng thống nhất đất nước, tình tự dân tộc, tình yêu nhân loại, niềm tin vào cuộc đời, tình người và hạnh phúc lứa đôi. Những tình cảm này đan quyện vào nhau. Hơn nữa một số nhạc tình thuần túy, nội dung không quan hệ đến chiến tranh, khi nghe trong đám đông, cũng tạo nên một cảm giác thời thế, từ một thời phản chiến” [44; 176]. Bên cạnh những tác phẩm trên, còn phải kể đến một số bài phê bình khác in trên tạp chí và trên mạng rất công phu như “Ảo giác, Trịnh Công Sơn” của Lê Hữu, nói về ảo giác con người Trịnh Công Sơn, với nhiều cách nhìn của người ngoài nước. Bài viết đăng trên tạp chí Văn Học tại Cali tháng 02&03/2004; và trên mạng http://www.tcs-home.org. Ngoài những công trình trên, chúng tôi còn tìm thấy các bài sau đây: Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn, của GS Cao Huy Thuần bình luận sắc sảo về nội dung những bài hát chủ đề này, đăng trên mạng http://www.tcs-home.org ngày 03.05.2003; “Trịnh Công Sơn và những phố xa”, của Ngự Thuyết http://suutap,com phân tích kỹ về không gian phố trong ca từ Trịnh Công Sơn. “Bài phỏng vấn Khánh Ly” của nhà báo Bùi Văn Phú tại Mỹ tháng 7/2004, nguồn Tạp chí Văn (California) số 92, tháng 8/2004. Ngoài nữa còn có nhiều trang web tập họp tất cả hình ảnh, bài hát, đĩa nhạc, bài viết, phê bình, thủ bút của ông, cập nhật thường xuyên. Như trên trang web http://www.trinhcongson.org tại Mỹ và http://www.tcs-home.org tại Pháp. Nhìn chung, điểm qua các công trình nghiên cứu, sưu tầm được, tôi nhận thấy như sau: – Theo thời gian, các công trình nghiên cứu đã cố gắng dựng lại trung thực cuộc đời âm nhạc của Trịnh Công Sơn trong bối cảnh đất nước trước và sau chiến tranh 1975. – Hầu như các nhà nghiên cứu đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một hiện tượng văn hóa lớn trong thế kỷ XX, ông không những là một tài năng lớn trong âm nhạc mà còn là một nhân cách lớn trong một bối cảnh Việt Nam đầy biến động. – Nghiên cứu, đánh giá Trịnh Công Sơn nhìn chung thường trong trạng thái hỗn hợp giữa nhạc và lời. Nhưng dù vậy, căn cứ trực tiếp hơn vẫn là thiên về phần lời, phần ca từ. Nghiên cứu về ca từ, phần lớn các công trình nghiên cứu đều phân tích phong phú các chủ đề mà nội dung ca từ Trịnh Công Sơn phản ánh, đồng thời lý giải về mặt sử dụng nghệ thuật ngôn từ một cách tài hoa trong các ca khúc của ông. Cụ thể bàn về nội dung ca từ của Trịnh Công Sơn, hầu hết các bài nghiên cứu đều nhận định Thân phận con người và tình yêu là hai chủ đề nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông. Thân phận con người của ông thường mang những cặp phạm trù đối lập sống/chết; buồn/vui; hạnh phúc/khổ đau. Ông ám ảnh phận người mong manh, chóng tàn. Tình yêu với người nữ của Trịnh Công Sơn là thứ tình yêu sương khói, lãng đãng, dở dang. Còn tình yêu con người trong ông, là tình yêu thương nhân loại không bó hẹp màu da, chính kiến. Tuy nhiên, trong các bài viết chỉ mới đề cập đến nhưng chưa nêu thành một hệ thống và đào sâu. Nhận xét ngôn ngữ ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn hầu hết đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một thi sĩ, ca từ của ông đích thực là thơ. Một kiểu thơ lãng mạn, trữ tình, giàu chất hiện sinh, siêu thực mang đậm dấu ấn Thiền, Phật, có giá trị lớn về nội dung trong lòng văn hóa Việt Nam, khẳng định những đóng góp to lớn có ý nghĩa cách tân của ca từ Trịnh Công Sơn trong nền ngôn ngữ thơ ca Việt Nam. Ngôn ngữ Trịnh Công Sơn đã tạo thành một trường phái ngôn ngữ mang phong cách Trịnh. Tóm lại, trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn này hệ thống lại, đào sâu thêm, mở rộng hơn nữa, nhằm góp phần khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật ca từ Trịnh Công Sơn trong dòng văn hóa Việt Nam, dưới góc nhìn văn học. 2.2 Đối tượng, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài Từ tình hình nghiên cứu đã nêu ở trên, trong điều kiện tư liệu và khả năng cho phép, chúng tôi xác định đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của công trình như sau: 2.1 Đối tượng nghiên cứu: các ca từ của Trịnh Công Sơn 2.2 Nhiệm vụ: 2.2.1 Phát hiện những nội dung đặc sắc trong ca từ Trịnh Công Sơn ở chủ đề thân phận con người và tình yêu 2.2.2 Phát hiện những giá trị ngôn ngữ ca từ của Trịnh Công Sơn trong việc diễn tả thân phận con người và tình yêu 2.2.3 Để thực hiện hai nhiệm vụ chính trên đây, luận văn sẽ mở rộng trường nghiên cứu tới một số đối tượng thơ ca, ca từ khác nhằm tạo điều kiện so sánh trong khi khám phá giá trị độc đáo của ca từ Trịnh Công Sơn mà hai nhiệm vụ chính yêu cầu. … 3.3. Giới hạn đề tài 3.3.1. Âm nhạc Trịnh Công Sơn gồm nhạc và lời, luận văn chỉ nghiên cứu phần lời 3.3.2. Ca từ Trịnh Công Sơn gồm trên 300 tác phẩm. Luận văn chỉ xin giới hạn trong phạm vi 211 tác phẩm mà điều kiện hiện tại cho phép chiếm lĩnh (có phụ lục kèm theo) 3.3.3 Nội dung ca từ Trịnh Công Sơn rất phong phú. Luận văn chỉ giới hạn ở hai chủ đề cơ bản nhất, chứ chưa phải là tất cả thế giới tâm hồn mà Trịnh Công Sơn phản ánh. Hai chủ đề đó là thuộc hai nhiệm vụ chính đã được nêu lên trong luận văn. * Trong phần Mở đầu luận văn tôi đã nói rõ ràng, đây là một sự kế thừa những người đi trước, như nhận định của ông Vũ Đông Ngọc: “Nét sáng tạo trong luận văn của tác giả Ban Mai có thể chưa nhiều, nhưng những cố gắng tổng hợp và hệ thống hóa là có”. Tôi tin rằng tôi đã làm việc nghiêm túc, tự trọng, đúng giới hạn của đề tài nêu ra. Riêng phần sai sót khi hiệu đính tư liệu tham khảo tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm không liên quan đến người hướng dẫn. Kính chào ông. Việt Nam, 31.8.2006 (Tái bút: Bắt đầu từ hôm nay tôi chấm dứt tham gia đối thoại.) © 2006 talawas

 

Thảo luận cho bài: "Nghiên cứu về Trịnh Công Sơn – Nghi Vấn và Trả Lời"