NGỘ ÁI NỊ

Tác giả:

Tôi thua bà chị cả của tôi gần đúng một con giáp , mãi đến bốn năm sau mẹ tôi mới lần lượt có thêm mấy đứa nữa . Thành thử hồi nhỏ trong thời gian đầu chỉ hai chị em , chúng tôi chơi rất thân với nhau . Vì chị tôi ra đời sanh thiếu tháng cho nên người ốm yếu, nhỏ con , tôi nhờ ra sau, mẹ tôi sẵn có kinh-nghiệm với đứa trước cho nên biết cách nuôi nấng hơn một chút, thêm vào đó tôi lại là thằng tham ăn, háu đói, bú sữa mẹ đến năm gần bốn tuổi mới chịu ngưng cho nên tôi cao ngồng hơn bà chị . Trong cư-xá chỗ tôi ở, vì tỉ số con trai đồng trang lứa lại ít hơn con gái, cho nên tôi thường hay la cà, tham dự những màn nhẩy dây, nhẩy cò cò chơi chung với đám bạn gái của bà chị . Thoạt đầu, tôi chỉ là tên “gạc đờ co” , kè kè đi theo bảo vệ . Có lẽ thấy tôi hiền, “mặt hoa da trắng” lại hay cười mỉm chi (để che dấu cái răng sún phía trước) như con gái cho nên mấy cô bạn của bà chị thấy vậy dần dần rủ vào nhập bọn . Một nhỏ bạn của bà chị có lần buột miệng bảo là tôi hao hao giống nữ tài tử Lăng-Ba đóng giả trai trong phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh-Đài . Tám, chín tuổi mà nghe nói mình giống minh-tinh tài tử điện-ảnh là trong lòng tôi thầm thấy khoái, sướng rên mé đìu hiu . Nghĩ mình có lẽ ngon lắm, đẹp trai lắm . Từ đó tôi không dám cười tô hô, ngoác miệng ra như trước, nhất là để che hàm răng sún của mình . Trong nhóm bạn gái của chị tôi, có một đứa là người Việt gốc Tầu, nhỏ nhất đám có mái tóc dài hay cột kiểu bím đuôi ngựa . Dáng gầy nhưng có khuôn mặt tròn trĩnh với hai gò má phúng phính lúm đồng tiền và đôi mắt tròn xoe, đen láy . Tên con nhỏ là Cẩm-Linh . Đáng lẽ nó không được nhập bọn vì nó mới bẩy tuổi, còn quá “con nít”, chưa biết chơi trò “người lớn” như nấu ăn, bán hàng chẳng hạn . Nhưng vì gia đình nó có tiệm chạp-phô, bán đủ thứ đồ tạp hoá, thức ăn, đồ dùng lỉnh kỉnh trong nhà cho nên đám bạn của bà chị – sau khi “họp mật” – đã chấp thuận cho con nhỏ vào “đảng” với điều kiện là nó phải về nhà “mua không trả tiền” những món gia-vị mà cả bọn tính nấu nướng, bán hàng bữa đó . Còn tôi dĩ nhiên những lúc ấy trở thành tên tà lọt , “được” sai chạy tứ tung, về nhà “thuỗm” than củi, gạo đường, mắm, muối , v.v… cho mấy đấng kẹp tóc trổ tài nội trợ, nấu nướng . Trong những nhiệm vụ “anh hùng, cao cả” ấy, tôi thường theo hộ tống con nhỏ Cẩm-Linh về nhà nó để “lãnh hàng” rồi ba chân, bốn cẳng phóng như bay về “mật khu” trước khi gia đình nó phát giác những hành vi đen tối “tẩu hàng” của tôi và nó . Không biết Cẩm-Linh vì thích được nói chuyện với tôi, hay muốn trả công cho cái việc chuyển hàng “lậu” đó, thỉnh thoảng nó thường hay dúi cho tôi gói ô-mai người ta hay dùng ăn cho ngọt miệng sau khi uống chén thuốc bắc đắng nghét . Quen rồi tôi mới biết Cẩm-Linh là con một trong gia đình, học ở trường tư-thục của người Tầu gần cạnh trường công Nguyễn Thái Học của hai chị em tôi . Ba của Cẩm-Linh ngày nào cũng chở nó đi học bằng chiếc xe đạp cũ kỹ . Người Tầu họ rất căn cơ, cần kiệm và không chú trọng đến bề ngoài . Tôi nghĩ gia đình con nhỏ rất khá giả dư sức sắm chiếc xe gắn máy mới toanh, nhưng có lẽ họ sợ hàng xóm ganh ghét hay sao , tôi thấy họ ít chưng diện xa-hoa . Mỗi lần ba nó đạp xe chở đi ngang qua mặt hai chị em tôi đang đi bộ, nó thường hay dơ tay vẫy vẫy chào . Cái nụ cười trên đôi môi nhỏ và má lúm đồng tiền của Cẩm-Linh tôi nhìn thấy nó ngồ ngộ một cách khó diễn tả . Có lẽ tại chơi chung với đám con gái nên tôi đâm ra để ý đến phái nữ “hơi” sớm, đã biết chải chuốt cái “sắc đẹp”, lo cho cái bộ vó của mình một cách sớm hơn con trai cùng tuổi . Năm lên mười hai, tôi không còn la cà theo nhóm kẹp tóc nữa mà hùa chơi, theo gia nhập vào bọn con trai bên cư-xá kế cạnh . Phần thì tôi bắt đầu thấy có một cái gì “kỳ kỳ” khi chơi chung, vô tình nắm tay con gái trong lúc chơi trò bịt mắt bắt dê, phần thì thấy trò chơi của con gái quá dễ ợt, hết còn hào hứng . Chẳng hạn như chơi cò cò, mấy bạn của bà chị dùng miếng gạch ngói thẩy vào ô để nhẩy . Miếng gạch ngói thẩy lên sàn si-măng thường hay bể hoặc tưng rớt sai chỗ, văng ra ngoài ô khác . Tôi ma giáo hơn, lấy vỏ chuối gấp lại làm đôi, muốn thẩy đâu dính đó, xí hết nhiều ô của mấy đấng kẹp tóc . Thậm chí bà chị cả của tôi sau này cũng muốn tôi ra rìa . Cơm hay chè mấy bà nấu cũng vậy . Khét lẹt hay cháy đen như than . Luôn luôn tôi là người bị đem ra để thử trước mấy món ăn ma chê quỷ hờn của mấy thị mẹt . Nhưng tới màn rửa chén, dọn dẹp là tôi kiếm cớ dông liền lập tức . Tôi thấy đi chơi chung với con trai leo cổng chùa hái trộm mận, vào sân nhà thờ hái cắp trái nhãn hay trái trứng cá, chơi tạt lon, dích hình , chia phe làm cao-bồi, mọi da đỏ bắn súng, bắn tên … coi bộ vui hơn nhiều . Thế là thời gian sau tôi quên bén đi mất con nhỏ Cẩm-Linh với đôi má phúng phính hồng dễ thương đó . Cho đến một ngày kia, như mọi bữa , tình cờ đi học hai chị em tôi gặp lại Cẩm-Linh . Con nhỏ không biết sao hôm đó ba nó không đưa đón, đi bộ đến trường gặp phải một bọn ba trợn , hai ba đứa côn đồ theo kéo cái đuôi tóc, chọc ghẹo hát câu “Các chú ba-tầu thằng nào cũng như thằng nấy, thằng nào không “giấy” thì cho nó đi về tầu …” . Tôi thấy nó đứng một mình khóc thút thít . Sẵn máu anh hùng rơm, ỷ biết vài đường quyền võ Bình-Định bố dậy, tôi đưa cặp táp cho bà chị , phóng đến can thiệp . Đứng bên cạnh cao hơn Cẩm-Linh gần một cái đầu, tôi quắc mắc bảo mấy thằng mắc dịch : 

– Ê mấy người ăn hiếp con gái mà không biết mắc cở hả ?
– Rồi sao ! có tức hông hở thằng “gà mái” ? 
Nghe chữ “gà mái” làm tôi bỗng nóng mặt. Chả là vì trong bọn nó có một thằng gần nhà biết tôi năm ngoái hay chơi với con gái, thỉnh thoảng đi ngang nhà vẫn trêu chọc . Giờ thấy tôi làm kỳ đà cản mũi cho cái trò chơi mất dậy của chúng, nó buông câu tính làm cho tôi mất mặt . Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, không muốn lộ cái giận run người ở trong lòng : 
– Thằng nào gà mái ? có giỏi đụng tới tao , ăn hiếp con gái nhỏ hơn mày hay 
ho mẹ gì ! 
Một thằng có lẽ là đầu xỏ trong bọn, thấy tướng tá tưởng tôi gầy còm, “mặt hiền như con gái” , chẳng nói chẳng rằng , nó xông đến dơ tay muốn thoi tôi một cú vào mặt . Tôi vội vàng đẩy Cẩm-Linh sang một bên , né cú đấm của nó và đồng thời bước tới luồn người xuống phía cánh tay của nó, ba ngón tay phải tôi xỉa mạnh ngay cái huyệt ở dưới nách . Lối chuyển mình một cách chớp nhoáng và cú đánh nhẹ của tôi cũng đủ làm thằng cô hồn các đảng khụm người, tê điếng một phần bên trái của nó . Thấy tôi có vẻ biết võ và thằng đàn anh của mình thoáng một cái đã bị quỳ gục xuống trong tích tắc, cả bọn bèn hùa nhau bỏ chạy . Hai chị em tôi đưa Cẩm-Linh đến gần trường nó rồi mới băng qua đường đến trường mình . Tối hôm đó, ba của Cẩm-Linh dẫn nó qua nhà tôi ngỏ lời cám ơn . Con nhỏ chỉ nhìn tôi cười mỉm chi và lí nhí nói vài câu theo lời ba nó bảo . Trước khi về nó dúi cho tôi hai gói ô-mai kèm theo câu “Cám ơn Bình nhen !” nói nho nhỏ như sợ mọi người nghe thấy . Tự dưng chưa ăn mà tôi đã tưởng tượng, thấy vị cam thảo ngòn ngọt ở cuống họng . Lần này, tôi đã không bóc ăn hai gói ô mai đó , chỉ đặt nó trên bàn học để dành mà ngắm và thỉnh thoảng nghĩ đến cái nụ cười dễ thương có cái răng khểnh của con nhỏ rồi thấy lòng nao nao . Thỉnh thoảng hôm nào ba của Cẩm-Linh đi xa mua hàng hay xe đạp bị xẹp bánh không thể chở nó đi học, Cẩm-Linh thường hay chờ cho hai chị em tôi đi ngang nhà rồi đi ké theo cùng . Từ ngày ra tay “anh hùng hào hiệp” tôi thấy Cẩm-Linh lại càng bé bỏng, nhỏ nhắn hơn trước mặc dù bây giờ nó cũng bắt đầu lớn xộn cao gần bằng tôi . Con gái có khác. Lớn trước con trai một cái ào rồi thôi . Mấy thằng bạn cùng tuổi sau này gặp Cẩm-Linh đứa nào cũng đâm ra ngờ nghệch , ngớ ngẩn . Có lẽ tại tôi quen với nó cả hai, ba năm chơi chung hàng ngày nên không thấy điểm gì lạ . Lúc thằng bạn thân của tôi khen Cẩm-Linh có nét giống nữ tài Miêu-Khả-Tú, đóng chung với Bruce Lee trong phim Đường Sơn Đại Huynh, tôi mới để ý và công nhận rằng nó nói đúng . Một lần chị tôi bị bịnh ở nhà, tôi sánh vai với Cẩm-Linh đi học đến trường . Trên đường , tôi hỏi Cẩm-Linh có thể chỉ cho tôi học vài câu tiếng Tầu . Con nhỏ cười khoe cái răng khểnh : 
– Bình muốn học tiếng Tầu làm gì ?
– Để biết đâu sau này Bình đi Hồng-Kông chơi, coi sách báo nói về minh-tinh, tài tử Tầu…
– Ý da, coi bộ Bình mê phim kiếm hiệp Tầu quá hén !
– Cũng vầy vậy thôi, mà muôïi có muốn chỉ tiếng Tầu hay không hở ?
– Ừ, chỉ thì chỉ … Bình muốn học chữ gì nào ?
Nghe hỏi tôi đâm ra lúng túng, lọng cọng , nghĩ mãi mới rặn ra được một câu :
– Tị dụ như Bình muốn hỏi “Chào cô mạnh giỏi” thì nói làm sao ?
– Nị hầu mạ
– Cái gì ? Cẩm-Linh nói cái gì nghe ngộ ghê ta !
– “Nị hầu mạ” nghĩa là “chào mạnh giỏi”
– “Nị hầu mạ” ? Tôi lập lại .
– Ừ ! Bình nói đúng giọng đó . Con nhỏ cười mỉm chi .
– Thế còn câu “tao đánh mày bây giờ” ?
– “Ngộ tả nị xẩy ah” . Ý da, bộ Bình tính kiếm chuyện, đánh lộn với ai sao mà học câu đó ?
– Không , tính hỏi chơi thôi . Còn câu “Tao thích mày” ? 
Tôi bấm bụng, hỏi một cách bạo gan hơn một chút .
– “Ngộ ái Nị “ . Cái này dễ òm ! Cẩm-Linh tưởng ai cũng biết chớ …
Tôi nhìn nó cười cười :
– À ! ngộ ái nị hả ? dễ quá hén… ngộ ái nị …tôi thích em… ngộ ái nị … 
Tôi thỉnh thoảng lập đi lập lại câu nói đó trên con đường đến trường làm như muốn thuộc lòng cái bài học vỡ lòng của mối tình đầu chập chững mới lớn . Không biết con nhỏ đã nghĩ gì , tôi thấy khi không nó im lặng, không nói mà đôi má bỗng đỏ ửng như hai trái đào trong mấy cuốn lịch Tết người ta hay treo , tặng quảng cáo cho không vào dịp Tết. 
Thời gian sau, tôi gia nhập đoàn Hướng-Đạo rồi mải mê đi cắm trại, thi đua tháo vát và ham vui , thoả chí tang bồng với cái chân trời tự do, bao la không bị tù tùng quanh quẩn ở nhà, nơi cư-xá . Tôi quên khuấy mất Cẩm-Linh, chỉ mang máng đâu như nó thôi không còn theo học trường ở gần nhà nữa , mà đã vào nội-trú ở trường Regina Pacis của mấy bà soeur . Rồi năm mười bốn, mười lăm tuổi tôi thường cúp cua, bỏ học để tập tành ăn chơi kiểu hippy cùng với ông anh họ . Mới đầu mẹ tôi còn dụ khị, hễ mỗi tháng đứng từ hạng nhất tới hạng năm, tôi sẽ được thưởng năm trăm đồng . Một số tiền khá lớn trong khi tiền ăn sáng, tiền quà của tôi lúc đó chỉ được có hai chục một ngày . Tháng nào cần tiền thì tôi đứng từ hạng nhất tới hạng năm, không thì tôi tụt xuống hạng chót, đội sổ . Bố đi làm, mẹ đi buôn cả ngày, tôi như con chó hoang, tung hoành ăn chơi, nhẩy đầm khắp nơi . Thỉnh thoảng chủ nhật đi lễ nhà thờ của trường Regina Pacis ở đường Tú-Xương , tôi gặp Cẩm-Linh trong bộ nữ-sinh áo đầm đồng phục ngồi chung với đám bạn học nội-trú có hai bà sơ ngồi cạnh như bà giám-thị, canh chừng . Tôi bỗng nhớ lại mới ngày nào sau khi được rước lễ lần đầu, trên đường về gặp con nhỏ có khuôn mặt tròn trĩnh, hai má hồng hồng dễ thương, tôi chọc ghẹo thò tay béo má Cẩm-Linh làm nó – không biết vì giận ghét hay xấu hổ – bỏ chạy, trốn biệt . Mãi hơn hai tháng sau nó mới thò mặt ra chơi chung với nhóm bạn gái của bà chị tôi . Bây giờ lớn lên gầy bớt đi, khuôn mặt trở thành hình trái soan với cái cằm nhọn . Vẫn mái tóc dài nhưng không còn cột bím đuôi ngựa nữa . Tôi thấy Cẩm-Linh đẹp hơn Miêu-Khả-Tú nhiều . Một cái đẹp vừa liêu-trai, vừa thuỳ-mị, đáng kính . Nhưng lúc đó cảm tưởng như mình kẻ ăn chơi, hoang đàng nhiều tội lỗi, tôi chỉ dám ném cái liếc trộm nhìn về phía nàng rồi vội vàng cúi đầu đọc kinh, tan lễ ra về mà không dám dừng chân lại hỏi han đôi câu . 
Sau này, năm tôi mười bẩy tuổi . Chán chường với những cuộc ăn chơi đua đòi, nhậu nhẹt, nhẩy đầm thâu đêm suốt sáng với bọn nhà giầu con ông, cháu cha . Tôi bỏ nhà đi giang hồ, muốn tìm một định nghĩa, một phương hướng nào đó cho cuộc đời của mình . Với những tháng ngày ngao du ấy, tôi thấy cuộc đời sao lắm đau thương, đầy phiền muộn . Cái chết nhiều khi đến một cách cũng chẳng ngờ . Trong đám bạn vào không quân, vài thằng đã bỏ mạng, trở về với gia đình trong áo quan phủ kín dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ . Mới ngày nào còn nhậu nhẹt, chở nhau đi cua đào, tán gái . Giờ đã nằm dưới ba tấc đất . Thằng thì bị pháo kích chết trong tết Mậu-Thân đến nỗi mất xác, chỉ còn lại cái chân trên giường ngủ . Sống đó chết đó . Tất cả dường như chỉ là trò đùa, một vở tuồng bi kịch . Chỉ có hình ảnh của Cẩm-Linh, thỉnh thoảng vẫn còn phảng phất , hiện hữu trong tâm khảm, nhưng có lẽ vẫn còn cái mặc cảm về những năm ăn chơi truỵ lạc, tôi thấy mình không xứng đáng để tìm gặp lại người con gái, khơi dậy lại mối tình thơ ngây ban đầu . Một lần, trong buổi dạ tiệc đêm Giáng-Sinh ở biệt-thự của một người bạn gái , con của một ông đại-tá làm tỉnh-trưởng miền Trung, giữa lúc mọi người quay cuồng , chìm đám trong tiếng nhạc , đứng một mình trên sân thượng tránh cái khói thuốc ngột ngạt bên trong, tôi chợt nghĩ tại sao mình phải lệ thuộc vào người khác để tìm cái niềm vui trong thoảng chốc, và sau đó chỉ còn lại những khoảng trống, giọt đắng trong lòng . Tôi bỗng nẩy ra cái ý định thử đi tìm hiểu về đạo lý, về cuộc đời, tại sao có những khổ đau của loài người, đồng thời tôi cũng đã mỏi mệt, chán chường kiếp ăn chơi, hoang đàng bao năm nay . Thời gian ngắn sau , quen nhiều tu-sinh ở một vài chủng-viện đây đó , tôi tìm thấy một sự an bình , thanh thản – không còn những tư tưởng chán đời, yếm thế như trước . Tôi tưởng lầm có lẽ không chừng mình có số đi tu thật . Vậy đó mà chỉ hơn một năm – sau khi miền Nam buông súng đầu hàng năm 1975 – tôi gặp một người con gái cũng dịu hiền, cũng có cái nét giống Cẩm-Linh ngày xưa , có điều nàng thấp hơn Cẩm-Linh gần cả cái đầu, quen nhau khá lâu rồi tôi mới dám chọc ghẹo, gọi nàng là con “vịt xiêm”, “vịt đẹt của anh” . Chúng tôi làm đám cưới vội vã trước khi âm thầm, lẳng lặng dắt nhau xuống thuyền vượt biên hai năm sau . Nhờ trời thương cho nên vợ chồng tôi xuôi thuyền, thuận gió sang đến đảo Phi Luật Tân và được tị nạn sang Hoa-Kỳ . Vợ tôi không những có nét giống Cẩm-Linh mà tánh tình cũng gần như vậy . Hay dỗi hờn và dễ khóc mặc dù đôi lúc cũng đổ lì, hơi bướng ít nói . Chúng tôi thường tâm sự rằng sẽ có ngày nào đó về lại quê nhà, vợ chồng tôi sẽ đi tìm giúp những trẻ em mồ côi, xây cất trường học cho những đứa bé thiếu may mắn này . Thoáng chốc mà đã hai mươi năm trôi qua , con cái đã lớn, đứa đã ra đời và ở riêng, tự lập . Tôi tưởng ước vọng của hai vợ chồng đã gần kề , chỉ chờ đứa út ra trường đại-học là chúng tôi bắt tay vào làm cho cái mơ ước của mình thành sự thật . Nào ngờ cuộc đời nhiều nghịch cảnh, bất ngờ. Một hôm đi làm về, tôi thấy một phong thư để lại trên bàn ăn . Mở ra đọc được vài hàng, tôi bỗng choáng váng, sững sờ . Người vợ tôi hằng yêu thương, ôm ấp bao năm nay viết thư để lại, nói nàng cần có một “khoảng cách” sống riêng biệt để tự tìm hiểu về chính nàng, về những gì nàng mong muốn cho cái quảng đời còn lại . Hãy để cho nàng được tự do, bảo tôi yên tâm đừng tìm kiếm nàng trong một thời gian ngắn . Rồi khi nào hiểu thấu những khúc mắc trong lòng, nàng sẽ quay trở về và cho tôi biết . Hai tháng sau nàng trở về thật, nhưng nàng trở về với giấy tờ ly-dị đã soạn thảo sẵn chỉ cần tôi ký tên vào đó . Gặng hỏi nàng cũng không nói nhiều , đại khái chỉ nói rằng thấy tôi mỗi ngày một xa lạ, tình cảm của nàng đối với tôi hình như đã không còn . Trong lúc tôi có những ước mơ quá “cao sang” , vẽ những mộng đẹp “thánh thiện” cho người khác mà không để ý nàng bắt đầu thích những chuyến du-lịch, đi chơi đây đó . Tôi cố giải thích rằng rồi cả hai cũng sẽ có những chuyến ngao du như thế, hoặc ngay bất cứ lúc nào nàng muốn . Nhưng hình như khi con tim của một người đã có những nhịp đập thay đổi, những ước vọng muốn ngã rẽ mới . Hoặc đã chán những nếp sống phẳng lặng, bình thường – như nàng bảo tôi không còn “lãng mạn”, “say mê” nàng như thửơ hai người còn yêu nhau . Tôi không phải biết nói làm sao . Những bài thơ tôi làm cho nàng, ngày xưa làm nàng rung động bao nhiêu, bây giờ nàng lại càng dửng dưng, không buồn đọc, đã vậy thỉnh thoảng lại ghen bóng gió với những nhân vật giả-tưởng trong truyện . Bên ngoài ai cũng nghĩ hai vợ chồng tôi thật đẹp đôi, hạnh phúc hiếm thấy . Thế rồi cũng không tránh được cái cao trào thoái hoái của xã-hội Mỹ . Sự đổ vỡ của vợ chồng tôi làm cho con số thống-kê của những gia đình ly dị đã sẵn cao nay lại nhẩy thêm một con số nữa . Ít lâu sau, tôi nghe nói nàng sang Úc cặp bồ lại với người bạn trai mà ngày xưa trước khi gặp tôi, đã mê mẩn thần phục và chiều chuộng nàng hơn ba năm trời . Khi gặp tôi, nàng bỗng thấy hắn đâm ra trẻ con, mặc dù tôi chỉ hơn hắn một, hai tuổi gì đó . Giá mà ngày xưa biết hai người đang quen nhau, tôi đã chẳng nhào vô tán tỉnh. Tánh tôi kỳ cục là không muốn phá vỡ hạnh phúc, làm người khác đau khổ , vậy mà đôi ba lần đi theo làm quân-sư “quạt mo” cho thằng bạn cách cua đào, bạn gái của nó lại “chịu đèn” tôi – kẻ ngang phè phè, chỉ muốn rong chơi làm thơ, tính chuyện tu hành . Cũng đôi lúc nghĩ lại, tôi thấy mình vì thương người đâm ra vô tình làm vài việc “ác đức” . Chẳng hạn thấy trong lớp những cô gái xấu xí, nhiều người chê, không ai tán . Tôi làm thơ không ký tên để gởi tặng họ . Làm như có kẻ vô danh ái mộ những cô nàng kém may mắn . Hoặc đôi lần đi học thật sớm, tôi hái trộm những cành hoa cúc trắng, hay nụ hoa hồng mọc bên hiên nhà, sân nhà của người lạ, đem vào lớp và để trên ghế ngồi của những cô giá xấu xí này . Nhìn khuôn mặt họ hân hoan, sung sướng khi khám phá ra những cánh hoa , những bài thơ lãng mạn dấu dưới ngăn bàn học . Tôi thấy lúc ấy trong lòng mình thầm vui lây, chia sẻ cái sung sướng của họ . Khi đã chán cuộc sống của cái tỉnh lỵ nhỏ bé và rời bỏ để đi đến ở chỗ khác, sau tôi chợt hiểu rằng mình đã vô tình tạo ra và làm vỡ cái mộng tưởng của những cô gái nọ . Chắc có lẽ ai đó đã đau khổ vì cái hành động kém suy nghĩ về hậu quả, thiếu chiều sâu của tôi , nên có thể bây giờ bị vợ đòi ly-dị là cái giá phải trả cho những hành động vô ý thức của tôi ngày xưa . 

Thời gian hơn một năm sau, tôi vẫn còn luyến tiếc, nhung nhớ người vợ cũ với bao nhiêu kỷ-niệm của những ngày chung sống bên nhau . Hình như ít cặp vợ chồng nào mà không có những cơn sóng gió lớn trong đời . Tôi nghĩ mãi, nhận ra rằng vợ chồng tôi chỉ có những chuyện hục hặc xẩy ra sau khi đã đưa gia đình nàng sang được Hoa-Kỳ đoàn tụ . Thời gian đầu, vì sau bao năm trời xa gia-đình, nàng chăm lo cho cha mẹ, anh chị em rất chu đáo, hết lòng . Tôi khuyên vợ nên cẩn thận, đừng quá phí sức, cũng nên để cho họ học hỏi một chút tự lập . Nàng tưởng lầm tôi ích kỷ, không muốn giúp đỡ gia-đình nàng . Về sau vợ tôi mới biết, sau bao năm gia đình nàng sống dưới một chế-độ hà khắc, ngu xuẩn chỉ biết dậy con người tánh vị kỷ, tham lam – không cách chi vợ tôi chu toàn , làm đủ cái gọi là “bổn phận đối với gia đình” mà cha mẹ, anh em của nàng đã lên án . Tôi biết trước nên không giận vợ tôi hoặc ngay chính cả gia đình bên vợ . Chỉ tội nghiệp vì họ đã không thấy những thảm cảnh sẽ xẩy ra sau này khi mỗi người ra ở riêng . Sau cú xốc vì chuyện gia đình của nàng . Sức khoẻ của vợ tôi yếu hẳn đi , ít còn những nụ cười hồn nhiên như ngày xưa . Ngay cả đến cái nhìn vô tư, thành thật về cuộc đời của nàng cũng bị thay đổi không ít . Từ ngày lấy nhau , tôi xốc vác hết tất cả mọi chuyện, không muốn để vợ phải đi làm, chỉ ở nhà nuôi con cho chúng nó nên người , tôi muốn chúng nó tránh cái bài học mà tôi đã trải qua thời niên thiếu . Trước ngày gia đình nàng qua Mỹ, vợ tôi rất dễ cười vì máu tiếu lâm, thích nghịch ngợm của tôi . Có lẽ nhờ đó mà nàng trẻ lâu . Hơn ba mươi tuổi mà chưa có một người Mỹ nào đã đoán nàng trên hai mươi lăm, hăm sáu . Có người đến nỗi lầm tưởng vợ tôi còn là học trò đang ở bậc trung-học . 
Giở đống hình ảnh cũ, nhìn lại những tấm hình kỷ-niệm tôi chụp cho vợ tôi ngày trước . Đôi lúc nhìn vài tấm hình, nàng gợi nhớ cho tôi cái phảng phất, nét dáng của một người con gái tuổi ô-mai, cột tóc đuôi ngựa thưở xa xưa . Để tìm quên nỗi buồn đang gặm nhấm trong tâm hồn, tôi thu xếp mọi công việc, dặn dò hai thằng con lớn – đứa đã ra trường có việc sống tự lập, đứa đang học năm thứ hai – chỉ cho chúng nó biết những sổ sách, giấy tờ nhà cửa , cần thiết xong đâu đó . Tôi gia nhập vào cơ-quan từ-thiện Habitat For Humanity của cựu tổng-thống Hoa-Kỳ Jimmy Carter, bay sang Phi-Luật-Tân theo đoàn thiện-nguyện đi vào những vùng làng mạc, hẻo lánh để xây cất những mái nhà lợp tôn, vách gỗ đơn sơ cho những gia đình nghèo khó . Thấy những đứa trẻ thơ gầy ốm, đói khát, bệnh tật hay những người già cả, yếu đuối không đủ manh áo che cái lạnh, cô đơn giữa nơi rừng thiêng, nước độc . Tôi thấy cái buồn ly dị, cô đơn của mình chưa thấm bằng những cái đau khổ của người khác . Thêm vào đó, xa cách cái khung cảnh xô bồ, một xã-hội chỉ biết chạy đua với vật chất và thời gian . Tôi thấy không gian như cô đọng chậm dần lại, tâm hồn tôi an định hơn đôi chút . Sau khi làm việc gần sáu tháng với cơ-quan Habitat For Humanity, tôi thu thập được thêm một mớ kiến thức mới như lối đào giếng và lọc nước, cách thức tổ chức một dự án lớn như thế . Sẵn có những dự tính trong đầu, tôi trở về Việt Nam , thăm lại quê hương sau hơn hai mươi năm xa cách . Ngày bước xuống phi-trường Tân-Sơn-Nhất, tôi nghe lòng nao nao – không biết trong lòng mình vui hay buồn . Ít hôm sau, tôi thấy lòng buồn nhiều hơn vui, nhìn những trẻ thơ lang thang xin ăn , ngủ vất vưởng bên vỉa hè, bụi bờ . Với cái ý định sẽ xây cất một cô-nhi-viện, một trường học như ký-túc-xá để thu nhặt những đứa trẻ vô gia đình, vô nghề nghiệp , đem về nuôi nấng dậy dỗ cho chúng nó nên người tốt trong xã-hội . Nghe nói ở Di-Linh, Bảo-Lộc có một dòng nữ-tu đang khởi đầu, bắt tay vào làm công việc đó . Tôi thu xếp hành trang, đón chiếc xe đò đến nơi để tìm hiểu, xem có thể giúp đỡ họ trong cái công tác đầy tình thương, bác ái này . Trên đường đi, tôi bâng khuân hồi tưởng lại những ngày tháng phiêu du, theo những chuyến xe đò hay dùng cái thẻ phóng-viên báo-chí của mình để quá giang đoàn công-voa của quân đội đi đây đi đó, lang bạt thăm viếng nhiều nơi trên quê hương . Hai mươi năm sau từ bên kia nửa trái đất trở về, tôi vẫn còn nhớ – không thể nào quên được – từng tiếng động náo nhiệt hay những quãngg đường thanh vắng của quốc lộ từ Sàigòn – bây giờ là Hồ Chí Minh – lên Bảo-Lộc, Đàlạt . Ngày xưa đi nhiều lần như cơm bữa , tôi có thể vừa ngủ gà ngủ gật trên chyến xe đò, nhưng vẫn biết xe đang đi đến đâu tuỳ theo tiếng động ở bên ngoài, độ dằn vì xe cán lên ổ gà và mùi hương thoang thoảng bay trong gió . Nhất là khi sắp đến Bảo-Lộc, mùi trà sen và cái khí hậu mát lạnh lùa vào làm tôi tỉnh ngủ hẳn.
Xuống xe đứng ở bên lề , tôi hỏi thăm quanh quất những người buôn bán về nơi chốn và đường đi đến chỗ tu-viện, làng cô-nhi đang xây cất . Họ bảo tốt nhất nên thuê một người lái xe ôm sẽ đưa tôi đến tận nơi , vì chỗ đó tuốt bên trong làng, gần ngoài bìa những đồn điền trồng vườn trà . Một người lái xe ôm vội vàng phóng đến khi thấy tôi ngoắc tay gọi . Ông ta trông có vẻ thật thà, lương thiện qua lối nói chuyện trả giá . Tôi cười thầm khi ông ta mừng rỡ lúc tôi bằng lòng với cái giá một cuốc xe mà tôi đoán biết, có lẽ trả hơi quá lố . Đối với tôi lúc đó năm đô-la chả thấm vào đâu, nhưng sẽ là một bữa cơm đầy đủ, thịnh soạn cho cả gia đình của ông ta bữa đó . Mà quả thật, tội cho chiếc xe gắn máy Honda già nua cũ kỹ , con đường làng đất đỏ, lỡm chởm những ổ gà, sình lầy sau trận mưa lớn tối hôm trước, chạy dài ngoằn ngoèo đến cả hơn chục cây số mới đến cổng của một trang trại treo bảng tên “Trại Thiện-Tâm”, nét sơn vẫn còn có vẻ mới, bên trong cổng vỏn vẹn ba căn nhà tranh lợp mái tôn, lụp xụp, nghèo nàn . Tôi dặn người tài xế xe ôm chờ tôi ở cổng, rồi vác lên vai cái ba-lô và cái sách tay nhỏ bước vào một căn nhà trông rộng rãi , thoáng khí ở giữa sân . Bên trong, một người đàn bà trạc độ trên sáu mươi, trong bộ áo chùng thâm, đầu mang chiếc khăn nhà dòng, đeo sâu chuỗi thánh-giá trước ngực, bước ra tự giới thiệu và hỏi : 
– Tôi là soeur Lan, coi sóc trại ở đây, xin lỗi ông muốn kiếm ai ?
– Thiên Chúa ở cùng soeur, tôi nghe nói ở đây có dòng nữ-tu Mến Thánh-Giá đang mở một trang trại cho các trẻ em mồ côi nên tôi muốn tìm hiểu để có thể góp tay, xin giúp đỡ làm được một điều gì đó . 
Tôi chào soeur với một thói quen của người thường đi nhà thờ ở Mỹ và nhận thấy nét vui mừng, rạng rỡ lộ trên nét mặt hiền hoà nhưng khắc khổ của người đàn bà đã hy sinh trọn cuộc đời của mình cho một lý tưởng phụng sự cao cả . Bà soeur mời tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu làm bằng thân cây cổ thụ được cắt thành từng khúc, chà đánh giấy nhám trên mặt cho bóng để trở thành một cái ghế ngồi thực dụng, thật giản dị . Bà vừa loay hoay, bắt bếp lửa để đun một ấm nước pha trà, vừa ân cần kể chuyện về cái trang trại mới được khánh thành, khởi sự gần một năm nay . Tôi chợt nghĩ có lẽ câu chuyện sẽ dài cho nên xin phép tạm gián đoạn , bước ra ngoài trả tiền cước xe cho người tài xế, cho ông ta thêm vài ngàn đồng Việt để ăn trưa, dặn ông ta trở lại khoảng hai tiếng đồng hồ đón tôi rồi sẽ tính sau mọi chuyện . Trở lại với soeur, tôi ngồi xuống gợi chuyện dang dở lúc ban nẫy : 
– Dạ, ngoài Soeur ra còn ai giúp soeur một tay hay không ? Tôi thấy có lẽ còn nhiều công việc lắm phải không ạ ?
– Có chứ thưa ông… à xin lỗi ông tên chi để gọi cho tiện .
– Chết thật, tôi quá vô ý, xin lỗi soeur, dạ tôi tên Bình .
– Không có chi ông Bình . Tôi còn có hai soeur nữa phụ giúp . Một đang ở ngoài nông trại dậy mấy đứa trẻ cách trồng tỉa, một soeur nữa ở Saigòn , đang mua sắm chút vật dụng và kiếm tìm hỏi thăm có đứa trẻ nào không có cha mẹ, thân quyến muốn theo về đây ở chung với chúng tôi . Ngày mốt soeur ấy trở lại . Hiện tại trại đang có hơn mười hai cháu, tuổi từ ba, bốn cho đến mười một, …mười lăm . Chúng tôi cần thuốc men, quần áo cũ, ít dụng cụ học đường…. cái gì cũng thiếu thốn cả như ông đã thấy .
– Thế có ai giúp đỡ, như chính phủ chẳng hạn, đóng góp chút gì cho soeur, cho cái trang trại này không ạ ?
– Thưa ông, chúng tôi mới mở trang trại này gần được một năm nên chỉ có một số ít người biết đến và quyên tặng . Chính quyền cấp phát, cho chúng tôi được mảnh đất này đã là may mắn lắm rồi . Tôi chỉ mong, trông cậy vào tình thương của những người như ông đem đến cho mấy cháu . 

Tôi bảo với soeur đó là cái mục đích trong chuyến đi này của tôi, và kể sơ qua những điều tôi đã dự định, muốn đem lại niềm an ủi cho những kẻ bất hạnh, thiếu may mắn . Nhìn những đứa trẻ xa xa đang tới lui, chăm chú làm việc ngoài vườn , tôi thầm nghĩ và so sánh chúng nó với những đứa con của tôi . Tưởng tượng, nếu ngày xưa vợ chồng tôi vẫn còn ở lại Việt Nam, vì lý do hoàn cảnh nào đó hai đứa con tôi phải lang thang đói khát , sống không biết nguồn gốc , tương lai của mình về đâu . Khoảng cách giữa hai hoàn cảnh thực hư – nghĩ ra thấy quá gần, quá mong manh . Như cái hạnh phúc vợ chồng của tôi, mới ngày nào đó mà nay đã là dĩ vãng, xa mờ . Sau khi hỏi han thêm về dăm ba công việc , dự tính sắp đến của trang trại , thấy người tái xế xe ôm trở lại đón , tôi kiếu từ người soeur già đầy từ tâm này, hẹn ngày mai sẽ trở lại sau khi tìm được một chỗ trọ, khách sạn nào đó ở ngoài phố . Trước khi rời, tôi không quên lôi ra trong cái ba-lô những túi kẹo bánh đem về từ Mỹ, đưa cho bà để chia cho những đứa trẻ . Đêm nằm trong căn phòng vắng dưới ánh đèn néon trắng lạnh, tôi suy tư thầm nghĩ đến thân phận nhỏ bé của con người, của chính tôi, có lúc muốn mình như một “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều” của Trịnh Công Sơn, cuộn mình trong thiên-thu chờ một kiếp mai, và tôi thiếp đi hồn lạc vào quá khứ, chìm vào trong giấc mộng ngày còn tuổi thơ lúc nào tôi cũng chẳng hay . 
Hôm sau thức dậy thật sớm, ghé xuống quán nhỏ bên đường ăn miếng bánh mì với cái trứng tráng và ly càfe đen đăïc sản của thị-xã Bảo-Lộc . Tôi chợt thấy kỷ-niệm của hơn hai mươi năm trước như sống dậy trong lòng . Đó là những buổi sáng la cà , ngồi nơi quán cốc ăn miếng xôi, khúc khoai mì, bắp luộc , hôm nào “xịn” có chút tiền thì dĩa trứng chiên với ổ bánh mì nóng hổi, uống ly càfe trong lúc chờ đợi chuyến xe đò đưa tôi đi về những phương trời , góc phố của quê-hương . Tôi hồi tưởng, nhớ lại lần đi săn với vài người bạn phi-công, được chiếc trực thăng bốc lên khỏi khu rừng thuộc vùng tam giác sắt Pleiku-Komtum-Ban Mê Thuột, mới đó vừa băng qua con suối nước chẩy cuồn cuộn để đến bãi đáp , lúc bay lên cao độ, nhìn xuống chỉ thấy cánh rừng như một bức thảm trải dài mầu xanh lá, che dấu không còn thấy những con suối ở phía dưới . Tôi đã liên tưởng đến cuộc tình trong sáng, thánh-thiện thưở ban đầu , không biết Cẩm-Linh có bao giờ thấu hiểu rằng tôi đã yêu nàng tựa “… yêu người như suối cuộn rừng sâu… như con giun ngước lên trời, như trăng sao vời vợi… ” của Phạm Duy qua bài Phượng Yêu . Bản nhạc đó cùng với bài “Em hiền như ma soeur” một thời đã ru ngủ, an ủi cái tâm hồn hoang mang tuyệt cùng của tôi ngày ấy . Bây giờ, ngồi đây giữa đám đồng loại cùng mầu da, cùng ngôn-ngữ, tôi thấy mình như Lưu-Nguyễn đi lạc bao năm nay trở về . Khung cảnh và đời sống quen thuộc vẫn còn đó , tôi một mình vẫn cô đơn như ngày nào . Hôm thứ nhì trên quê-hương, tôi tìm lại chổ cư-xá cũ, căn nhà của bố mẹ tôi nay đã được cả ba gia đình cán bộ chiếm đóng từ ngày gia-đình tôi vượt biên ra đi , căn nhà của Cẩm-Linh cũng thế – toàn những khuôn mặt xa lạ ra vào . Tôi hỏi thăm nhưng chẳng ai biết gia-đình của nàng ở đâu . Thỉnh thoảng nghĩ, hình như tôi đã tiếc cho cuộc tình ngây thơ không trọn vẹn nhiều hơn là luyến tiếc cho cái hạnh phúc vợ chồng vừa mới đổ vỡ . Có lẽ tôi tự biện hộ, cho rằng mình ít nhiều gì đã làm tròn đầy đũ bổn phận với vợ tôi, con tôi . Riêng mối tình xa xưa đã không có đoạn kết, cũng chưa hẳn ngã ngũ khiến cái tiềm thức của tôi thoảng vẫn sầu vơi, nghĩ về nàng . 
Trưa hôm đó tôi trở lại trang trại như đã hứa . Lần này gặp soeur Maria – khoảng chừng ba mươi – trông có vẻ tháo vát, nhanh nhẹn – theo lời mẹ bề trên ( soeur Lan) bảo dẫn tôi đi thăm những luống đất mới trồng các loại khoai , bắp, hành , ngò , rau cỏ … để ăn hàng ngày . Còn chỗ các em trú ngụ, lớp học , ngoại trừ cái bảng đen trên tường còn tương đối khá mới, những chiếc ghế ngồi học mang vẻ như cũ kỹ, lung lay . Có lẽ đã được lấy đem cho từ một ngôi trường bỏ hoang nào đó gần đây . Giường ngủ đều làm bằng tre, đốn từ trên rừng đem xuống . Không đủ số giường chiếu cho nên cũng có vài đứa bé được cho nằm chung với nhau . “Nhiêù khi ngủ thế mà chúng nó đâm ra đỡ lạnh, tuy sáng dậy thấy chân đứa này gác lên vai, lên bụng đứa kia…” . Giọng phân trần, kể chuyện của soeur Maria thật vui vẻ, không chút than van, oán trách . Lúc đến gần hàng rào, tôi hỏi thăm về cái diện tích của trại Thiện-Tâm, soeur Maria bảo rằng hiện tại trại chỉ có được hơn năm mẫu , còn thêm vài mẫu đất gần bìa rừng – cũng do chính phủ trợ cấp – chưa được đốn cây, khai phá để làm vườn . Đó là công việc chính của soeur Joanna cùng với mấy đứa lớn mười ba tuổi trở lên trợ giúp . Chiều mai sau khi soeur ấy từ thành phố trở nghỉ ngơi và sau đó sẽ tiếp tục làm công việc này . Tôi đề nghị nên làm chuồng nuôi heo, gà để lấy trứng ăn hoặc đổi bán lấy thịt, cá cho thêm phần dinh dưỡng . Thêm vào đó dùng phân của chúng nó làm phân bón rất tốt cho việc trồng trọt . Soeur Maria cười, bảo rằng mẹ bề trên cũng đã nghĩ đến, nhưng vì ngân sách đang gặp “sự cố” (hoàn cảnh khó khăn) và không ai biết làm những công việc đóng chuồng đó cho nên tạm để qua một bên . Nghe nói thế, sau khi bàn với người tài xế xe ôm , tôi thân mật tạm gọi là bác tài, rủ bác đi ăn buổi trưa và hỏi thăm chỗ mua sắm những vật liệu xây cất . Bác chở tôi đi một vòng đến hai chỗ bán gỗ, đinh ốc trong phố . Tôi đặt cọc mua một số thanh gỗ, vật dụng, dặn chở đến trại tôi sẽ giao hết phần còn lại . Bác tài cũng ghé ngang qua nhà của bác, lấy cho mượn một vài kìm, búa, đồ cưa tay đoạn chở tôi về lại trang trại . Buổi chiều, mấy đứa nhỏ thấy xe chở gỗ đến và nghe nói tôi sẽ đóng vài cái chuồng gà , chuồng heo cho trang trại, chúng nó bu lại xin phụ một tay . Tôi vui vẻ phân chia công việc khiêng gỗ, cưa gỗ cho mấy đứa lớn , còn mấy đứa bé đứng xì xào, thì thầm nhìn và nói chuyện về gia súc . Trong lúc chờ đợi làm xong chuồng, tôi đưa một số tiền cho soeur Maria đi mua một cặp lợn và một số gà, vịt về làm giống . Khuôn mặt Soeur hớn hở và luôn miệng “Cảm tạ chúa đã dẫn dắt ông có lòng thương đến với các cháu “ . Tôi bỗng triết-lý, cảm thấy làm vui lòng thượng-đế có lẽ còn dễ hơn làm vừa lòng con người . Vì ngài hiểu tấm lòng và khả năng của tôi, trong khi con người đôi lúc lòng tham vô đáy , sự hiểu biết nông cạn không biết thế nào là đủ . Như đối với các con tôi ngày xưa, việc đóng chuồng, nuôi hai con thỏ cho chúng nó chỉ là vấn đề giải trí, rồi cũng mau chán, thích những thứ khác . Ở đây, một con gà, một trái trứng vừa đem đến niềm vui cho trẻ con, vừa thêm phần dinh dưỡng cho chúng nó . Tôi tưởng tượng đến những bữa ăn có thêm vài quả trứng, miếng cá , hay miếng thịt … cho những đứa trẻ mồ côi này, tự dưng tôi thấy lòng phấn khởi, hăng hái, bắt tay ngay vào công việc , không muốn phí chút thì giờ . 
Trưa hôm sau , đang ở trần mặc mỗi chiếc quần jean vì trời nóng, loay hoay chăm chú đóng gần xong cái chuồng gà – chỉ thiếu vài thước hàng rào với lỗ hổng bằng kẽm để làm cánh cửa . Tôi chợt nghe giọng ai như reo mừng gọi, hỏi tên mình : 
– Ah ! xin lỗi , có phải Bình đó không ? 
Tôi quay đầu nhìn qua bên phải, nhìn khuôn mặt và nhận ra giọng nói vừa gọi tên, tôi ngẩn người ngạc nhiên, suýt làm rớt cái búa xuống đất vì người đàn bà trong chiếc áo choàng đen của dòng nữ tu-kín đứng cạnh : 
– Cẩm-Linh… ! soeur Cẩm-Linh đấy à ! Phải rồi . Bình đây …
– Chúa ơi ! nghe nói Bình ở Mỹ mà người ngợm sao đen đúa như thế này !

Cẩm-Linh, nay gọi là soeur Joanna, vừa reo mừng và chỉnh lại cho tôi biết cái tên mới của nàng, bước tới đưa tay cho tôi bắt . Nàng bảo vừa mới trở về từ thành-phố Hồ Chí Minh, nghe nói có Việt kiều về giúp làm chuồng nuôi gia súc, định ra tiếp chuyện và cám ơn . Thấy dáng tôi quen quen và nhìn một chập cái nét mặt tôi mải mê làm việc không biết nàng đến gần bên cạnh . Cẩm-Linh nghĩ nàng đoán không sai nên bạo dạn hỏi thăm . 
– Chao ơi ! bao năm rồi mà Bình không mấy thay đổi … ở Mỹ chắc cuộc sống thoải mái lắm hả Bình ?
– Soeur nói thật không đấy ? Bình mà không thay đổi mấy ! tưởng mình già lắm rồi chứ, hay là soeur không có ô-mai định cho Bình uống nước đường, đi tầu bay giấy ? 

Tôi cười khẽ, chế nhạo Cẩm-Linh với câu chuyện ngày còn nhỏ . Câu nói đùa vô tình làm soeur Joanna có vẻ hơi xúc động . Tâm hồn tôi cũng giao động không kém . Suốt cuộc nói chuyện, gần chót tôi mới nhận ra có lúc lẫn lộn tôi gọi nàng với cái tên “soeur Joanna” một cách cung kính, lúc thì gọi bằng Cẩm-Linh một cách thân mật như ngày xưa . Không ngờ cuộc đời nàng cũng nhiều gian truân, sóng gió không kém . Gia đình nàng toan vượt biên năm bẩy sáu nhưng bị lộ tẩy, bố mẹ nàng bị lính tuần-giang xả súng bắn bỏ thây ngoài sông rạch ở Bến Tre . Cẩm-Linh thoát được nhưng tứ cố vô thân, may nhờ gặp lại bà soeur ở trường cũ cho tá túc trong tu-viện , thời gian ở chung nàng cảm nhận được cái tình yêu của thiên-chúa cho nên đã khấn nguyện khoác chiếc áo dòng với tên thánh là Joanna, và theo chân người mẹ đỡ đầu là soeur Lan hiện tại . Tôi cũng kể sơ qua hoàn cảnh của mình và lý do tôi muốn trở về Việt-Nam . Soeur Joanna ngỏ ý đáng tiếc cho cái hôn nhân đổ vỡ của tôi, và sau đó nhìn tôi mỉm cười, nụ cười với chiếc răng khểnh hiền hậu ngày xưa đã làm hầu như suốt cuộc đời tôi ray rứt , tương-tư – bảo là nàng biết tánh tôi từ nhỏ hiền lành “… Linh đã tin rằng rồi thế nào Bình cũng sẽ làm những việc từ-thiện như vầy … ” . Tôi muốn, nhưng đã kịp thời dừng lại, chỉ sợ xúc phạm – không dám hỏi về chuyện tình cảm của Cẩm-Linh trước khi nàng mặc áo nữ-tu , theo chân Chúa . Tối hôm đó cả ba người soeur muốn đãi tôi một bửa ăn đạm bạc, canh rau dền luộc cà chua chấm mắm chanh ớt và mấy miếng cá chiên . Tôi không từ chối, ngồi ăn hai bát cơm ngon lành , lòng thấy phơi phới, hân hoan một cách khó tả . Đêm trở về nằm ngủ ở khách-sạn, tôi cảm thấy nó bớt đi cái lạnh lẽo, trống vắng như ngày đầu . Tôi đâm trở thành một con chiên ngoan đạo, quỳ gối bên chân giường đọc kinh Lậy Cha, kinh Kính Mừng mà tôi tưởng đã quên vùi sau bao năm nghĩ mình tội lỗi , biếng nhác đến nhà thờ . Tôi cám ơn Thiên-Chúa đã giúp tôi thấy lại hình ảnh tuổi thơ cũ, gặp lại người đã làm linh hồn tôi ngậm ngùi, lo âu bấy lâu không biết số phận ra sao . Nay biết nàng đã yên vui với cái hạnh-phúc, với cái tình yêu vĩnh cửu nơi Thiên-Chúa . Tôi thấy nếu được nhắm mắt , cho một giấc ngủ dài vào thiên thu trong lúc này, ngay đêm nay, có lẽ tôi mãn nguyện, đội ơn và sẽ không một lời than trách . Cuộc đời đối với tôi có lẽ thế cũng đã gọi là đủ , nhưng tôi biết mình còn nhiều việc cần phải làm, cái thánh-giá tôi xin mang vì cái tình thương và cảnh khổ đau của người khác đã nung nấu trong lòng bao năm nay . Với sự lao động , làm việc tay chân lúc ban ngày và tìm được điều giải thoát cho cái khúc mắc trong tâm hồn . Tôi nằm lăn quay ra ngủ giấc ngon lành, không mộng mị, hay nhớ gì một giấc mơ nào cho đến sáng . 
Những ngày kế tiếp, tôi phụ với mọi người trong trang trại ra vào làm đủ thứ việc . Kể ra những cái tôi từng học hỏi, thu nhặt được trong bao nhiêu năm làm kẻ “handyman” – thợ lặt vặt – độc nhất trong nhà . Bây giờ đâm ra lại đem nhiều ích lợi, thực dụng hơn hết trong hoàn cảnh này . Thấy tôi sửa chữa những chân bàn, chân ghế lung lay, bị gẫy trở thành cứng cáp, vững chắc . Cẩm-Linh bảo với soeur Maria đứng bên cạnh : 
– Bình ngày xưa hay làm thơ, bàn tay làm việc văn-phòng mà không ngờ lại giỏi nghề thợ mộc quá há !
– Soeur không biết tên thánh đỡ đầu của Bình là Giu-Se hay sao ? Tôi nóị
– Thảo nào, thánh hộ mạng là thợ mộc thì Bình cũng rứa thôi .
Soeur Maria cười, cũng muốn góp phần vào câu chuyện . Thỉnh thoảng lúc rảnh rỗi, nghỉ tay . Cẩm-Linh kể cho mẹ bề trên và soeur Maria về những mẫu chuyện ngày xưa của chúng tôi , như chuyện tôi một mình trong đám kẹp tóc hồi còn nhỏ lấy trộm đồ ở nhà để tập tành nấu ăn . Lần hái trái trứng cá liệng chọc đám con gái đi học giáo-lý trong nhà thờ (nhưng nàng không nhắc đến lần bị tôi tinh nghịch bẹo má ) . Đôi lúc nàng đang cùng với mấy đứa thiếu-nhi đi chặt cây , khai quang những đám bụi rậm để có thêm đất trồng trọt, không biết nàng trở về trại từ lúc nào để lấy nước uống, tôi tình cờ quay lại gặp nàng đứng lặng yên , đôi mắt hiền hoà nhìn tôi đang đào mương làm rãnh thoát nước . Tôi cũng đôi lần kín đáo ngắm nhìn nàng chăm chú may vá, dịu dàng chải tóc, săn sóc cho những đứa bé mồ côi, ngây thơ . Trông Cẩm-Linh lúc ấy thật thánh-thiện, cao sang vời vợi, giống như trong cái trí tưởng xa xưa của tôi đã nghĩ về nàng . Ngày xưa đóng vai “đại-huynh” để bảo vệ nàng “Miêu Khả Tú” nho nhỏ trong mối tình ngây thơ, khờ khạo . Bây giờ ngược lại , Cẩm-Linh có thể cầu nguyện, xin cho tôi được sự tha thứ, chút bình an . Hình như có một cái khoảng cách thiêng-liêng nào đó ỡ giữa hai chúng tôi . Tuy không nói nhưng có lẽ tôi lẫn nàng đều muốn giữ cái cách khoảng vô hình nhưng rõ ràng đó . Nhất là lúc bàn bạc về kinh-thánh, đạo lý . Khuôn mặt nàng như rạng rỡ, hân hoan lên khi nghe tôi nói về cái tình yêu bất diệt, bao la của thiên-chúa, của thượng-đế mà tôi đã nghiệm thấy trong đời . Tôi một lần đổ vỡ với cái tình yêu đã thay đổi theo thời gian, còn nàng – không biết có phải vì không tìm thấy một cái tình yêu nào bền vững, lâu dài hơn cho nên đã chọn con đường đạo, hy sinh cuộc đời này cho tha nhân . Nhưng nói như thế không có nghĩa là mọi người nên đi tu để được cái tình yêu thánh-hoá, trọn vẹn – hoặc những người đi tu không được phép, có quyền yêu đường người khác . Làm sao cấm cản, lay chuyển được nhịp đập của con tim . Điều này khó có thể chối cãi được, tôi chỉ có thắc mắc riêng một điều là tại sao Chúa lại cho những người như tôi, không những biết yêu sớm mà còn yêu nhiều . Nhưng tôi không yêu nhịều như kiểu của Mai-Thảo . Ông chính thực là một nhà văn sống trọn đời cho văn-chương và nghệ-thuật . Dù quen biết Mai-Thảo chỉ một thời gian ngắn, tôi thấy ông yêu nhiều nhưng không muốn bị ràng buộc hay lệ thuộc bất cứ vào ai . Những cái tình yêu có thật đã thoảng qua – hay trong trí tưởng – đã làm văn, thơ của ông xúc tích đầy tình cảm, nhiều lãng mạn . Đối với Mai-Thảo, ông đã “tu” trong văn-chương và sản phẩm tình yêu của ông là những tác phẩm ca tụng về nhiều chuyện tình thật đẹp, tuyệt đối cho dù trong tan vỡ – như sau này khi qua đời, ông cô đơn ra đi chỉ một mình một bóng trong căn phòng studio nhỏ nhắn ở khu phố Bolsa . Còn tôi, tôi thấy mình chỉ là kẻ một bình thường nếu không nói là tầm thường, tại sao Chúa không bắt hoặc cho tôi chỉ yêu ngài từ ban đầu – hay ít ra giống nhà văn Mai-Thảo – sống một mình để yêu – như tôi vừa nói đến . Tôi nhận thấy trong nội-tâm cuả mình hình như đang có sự xung khắc giữa cái ích kỷ, muốn thố lộ cho Cẩm-Linh biết rằng tôi vẫn còn yêu nàng, và phần muốn nàng vẫn yên vui, hạnh phúc trong cái chân-lý nàng đã thề hứa, theo đuổi bấy lâu nay . Giữa cái khổ trước đó không biết cuộc đời của Cẩm-Linh đã ra sao và cái dằn vặt mới đây của nội-tâm . Tôi làm theo lời của nàng thường nói : “Cầu xin thì sẽ rõ lời giải đáp của Chúa . Em thấy luôn luôn được sự soi sáng khi lòng mình đã thật tâm muốn biết “ . 
Hôm sau, trong lúc đang đổ đống xi-măng cuối cùng làm cái nền cho căn nhà thứ tư của trại Thiện-Tâm, tôi bỗng nghe một tiếng nổ ầm vang dội từ xa . Chợt nhớ nó tương tự như tiếng nổ của một quả lựu đạn hay của một trái đạn phóng lựu M79 thời còn chiến-tranh. Thấy khói bụi bay lên gần phía bìa rừng, chỗ soeur Joanna và một đứa thiếu-nhi đang chặt cây, cuốc đất . Một nỗi lo sợ từ đâu chợt xâm chiếm tâm hồn, tôi vội vàng bỏ cái xẻng cầm trên tay, tất tả chạy về phía mé rừng . Sau hơn hai mươi lăm năm chinh chiến, bao nhiêu tai ương, thảm hoạ vẫn còn vương vất, đôi khi xẩy đến cho bao người dân vô tội . Thỉnh thoảng vẫn còn vài người tử-vong, thương tích nặng vì vô tình cầy, cuốc trúng những đạn bom hay quả mìn xưa kia đã gài bẫy, để lại quên chưa tháo gỡ, chưa nổ . Đến nơi, tôi thấy một thằng nhỏ mình bê bết, dính đầy máu nằm duỗi thẳng yên không nhúc nhích . Tôi cầm lấy cổ tay nó để tìm nhịp mạch máu và ghé tai lên lồng ngực nghe trái tim đập . Tất cả đều im lặng, ngưng đọng . Lật mí mắt nó để hy vọng cái sự sống vẫn còn trong thằng bé . Thấy con mắt nó trợn ngược . Tôi biết rằng đã trễ . Vuốt mắt và đặt thân thể nó xuống đất . Quay nhìn tìm kiếm Cẩm-Linh, tôi thấy ở cạnh bìa rừng, cách tôi độ chục bước, nàng đang khuỵ xuống quỳ bên một đầu gối, tay phải ôm chặt lồng ngực như thể người đang lên cơn đau tim . Tôi phóng tới kịp lúc để đỡ nàng ngả vào người tôi : 
– Bình ơi, bé Kiệm bị thương nặng không ? Sao Linh đau ngực quá…! 
Tôi chưa muốn cho nàng biết gì về tình cảnh của bé Kiệm trong giây phút này, chỉ nhẹ gỡ bàn tay Cẩm-Linh đang nắm chặt trước ngực , xem vết thương nặng nhẹ như thế nào . Ngực áo nàng bây giờ đang vấy đầy máu . Một mảnh kim loại đã xuyên thủng chiếc áo dòng, cắm ngập vào ngay dưới vùng trái tim của nàng . Tôi không phải là y-sĩ nhưng đủ để biết vết thương của Cẩm-Linh nếu không có phương tiện cấp cứu khẩn cấp thì cơ hội cứu sống thật quá mong manh . Trong hoàn cảnh này, tôi chỉ muốn gào lên thật to cho mọi người, cho thượng-đế thấu nghe tiếng thống thiết, nỗi đau đớn trong lòng tôi . Xa xa, thấy bóng mẹ bề trên và soeur Maria cùng mấy đứa trẻ lúp xúp, hốt hoảng chạy đến . Tôi để đầu của Cẩm-Linh ngả vào vai mình, vỗ về hỏi thăm cho nàng dịu cơn đau, nhưng Cẩm-Linh chợt run ngừơi , giọng mệt nhọc : 
– Bình ơi ! sao em lạnh quá, ôm em một chút đi anh !!!
– Nằm yên, có anh đây . Cẩm-Linh đừng nói nhiều kẻo mất máu thêm … 
Tôi vòng tay ôm xiết chặt lấy Cẩm-Linh vào lòng, muốn dùng tất cả bình sinh , nghị lực con người của tôi để truyền sang, sưởi ấm nàng . Nhưng tôi biết tất cả đã muộn, nàng mất máu quá nhiều . Ở một chốn héo lánh, xa xôi cách biệt , thiếu thốn đủ mọi tiện-nghi cần thiết . Không một trạm y-tế cứu thương hay một bệnh-viện nào gần đây . Tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực , hèn mọn trước cảnh đau thương, đành đoạn này . Gương mặt Cẩm-Linh vốn đã tiều tuỵ, gầy yếu nay lại càng thêm xanh xao, trắng bệt . Giây phút chờ đợi trôi qua tưởng chừng như thiên thu, Cẩm-Linh chợt hé mắt, nhìn thấy trên khuôn mặt của tôi thoáng nét tuyệt vọng, buồn bã, nàng khẽ mỉm cười như an ủi . Nụ cười với chiếc răng khểnh năm xưa không bao giờ xoá nhoà trong tâm khảm, trong hồn tôi . Giọng nàng thoảng nhẹ như giấc mơ : 
– Đừng lo nhiều cho em nghe Bình . Em thấy hình như có thiên thần với áo trắng 
đứng trong ánh sáng đang dang tay chờ đón … Có lẽ Chúa đã gởi Bình về đây 
để tiếp tục công việc, cho em được yên nghỉ . Em sẽ chờ Bình … 
Nàng chợt ngắt quãng vì một dòng máu đỏ thắm vừa trào ra lên khoé miệng . Tôi ôm đầu nàng để dựa sát vào ngực , tôi cố nhếch môi cười cho nàng an tâm trong lúc hai giòng lệ lăn dài trên má : 
– Anh biết, rồi mình sẽ gặp lại nhau . Nhưng Linh ơi , tha thứ cho anh ngày xưa 
đã không hề nói một lần với em … 
Đang nói, tôi cảm thấy bàn tay của Cẩm-Linh bóp nhẹ tay tôi như muốn nhắn điều gì . Đôi má nàng chợt hồng lên rạng rỡ một cách lạ thường, ngước lên với cái nhìn thật hiền, trìu mến, môi nàng mấp máy: 
– Linh biết, trong lòng em đã mãi mãi vẫn biết như thế, biết từ ngày em dậy anh 
học câu “Ngộ ái nị” … 
Tôi cười qua nước mắt :
– Hoá ra anh tưởng chỉ riêng mình anh còn nhớ “Ngộ ái nị” . Anh yêu em .
Anh vẫn yêu Cẩm-Linh từ thưở đó . Chúa ơi ! ngày xưa sao không cho anh nói 
được một cách dễ dàng …
– Đừng tiếc anh ạ, có lẽ ý Chúa muốn đôi ta mỗi người phụng sự ngài một cách . 
Rồi chúng ta gặp nhau để làm nốt công việc cuối cùng này . Đến lúc Linh phải 
đi, họ đang chờ đợi em … Anh yêu, đừng buồn anh nhé. Em sẽ luôn luôn bên 
cạnh anh… 
Giọng Cẩm-Linh nhỏ dần, nhỏ dần và cuối cùng bằng một tiếng thở hắt thật nhẹ , cánh tay nàng buông xuôi, đôi mi khép kín vĩnh viễn . Khuôn mặt nàng bấy giờ trông thật bình thản như đang dựa trên vai tôi, ngủ một giấc mãi mãi thôi không còn mộng mị . Mặc dù đã nghĩ và cho rằng cái lòng tin vào thiên-chúa của tôi thật vững vàng và sẽ không hề bị suy suyễn . Tôi quá đớn đau để mở miệng kêu than hay cầu xin cho linh-hồn của nàng . Chỉ nhớ mang máng rằng hình như trong lúc mọi ngừơi đến tụ tập, vây quanh quỳ xuống đọc kinh , tôi vẫn ôm xác Cẩm-Linh và thì thầm lấy một mình dăm ba câu chữ Tầu mà ngày xưa nàng đã dậy tôi thưở mới biết yêu lần đầu . 

(Tống Văn Bình July 2001)

 

Thảo luận cho bài: "NGỘ ÁI NỊ"