Ngọt ngào cải lương

Tác giả:

Lâu lắm rồi, từ hồi còn bé, có một lần người thầy dạy tiếng Anh cho tôi, bảo rằng: “Khách thập phương rất thích nghe Cải lương Nam Bộ, vì phần lớn các nghệ sĩ đều có chất giọng Cải lương luyến láy mượt mà. Và mỗi lần họ xuống xề sao mà ngọt ngào. Lắng mình trong tiếng đờn mùi mẫn, nghe xốn xang nỗi mênh mang nào đó”.

K-63

Ngạc nhiên quá, thầy là dân Tây học sao lại cũng am tường cách hát tân thời này; không phải như Chèo ở Bắc Bộ hay hát Bộ của miền Trung, những loại hình nghệ thuật kinh điển và mẫu mực.

Hai tiếng “cải lương” có nghĩa là “sửa đổi cho tốt hơn.” Vào năm 1917, khi Cải lương ra đời, khán thính giả nhận thấy điệu hát này có phần tân tiến hơn điệu hát Chèo hay hát Bội, nên cho đó là một việc cải thiện những điệu hát cổ cho tốt hơn. Phải vậy chăng mà công chúng dùng hai tiếng “Cải lương” để đặt tên cho điệu hát còn nhiều mới mẻ này.

Một trong những nét đặc trưng văn hóa của lịch sử hơn 300 năm đất Sài Gòn – Gia Định, nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là “cơ cấu kiến trúc” Việt – Hoa – Châu Âu. Bên cạnh đó, nhìn ở góc độ nghệ thuật, sự kết hợp hài hoà giữa ba nền văn hoá: văn hoá người Việt với nét đặc sắc trong văn hoá phương Bắc và phương Tây chính là nền nghệ thuật Cải lương Nam Bộ.

Cải lương là loại hình sân khấu kịch hát dân tộc ra đời vào đầu thế kỷ XX, cách đây chưa tới một trăm năm. Nguồn gốc của nó là những bài hát lý, ca nhạc tài tử ở miền Tây Nam Bộ. Khởi đầu, từ những hình thức ca nhạc thính phòng, tiến tới các diễn xướng, vừa hát, vừa biểu diễn bằng động tác để minh hoạ, gọi là ca ra bộ (một hình thức diễn xuất vô cùng đơn sơ) với các nghệ nhân không chuyên, để phục vụ cho những buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu hậu.

Có thể nói, ca ra bộ là cây cầu nối giữa đàn hát thính phòng và sân khấu hát kịch Cải lương sau này. Bởi lâu dần con đường phát triển tất yếu của ca ra bộ là đi vào nghệ thuật sân khấu. Bước đầu là “hát bộ có pha lẫn cách hát tân tiến, gọi nôm na là Cải lương”, rồi tự định hình cho mình bằng một loại hình riêng vào thập niên 40. Cải lương gắn bó chặt chẽ với những người dân Nam Bộ, do đặc điểm phát âm ngọt ngào nên giọng Nam Bộ ca Cải lương rất “mùi mẫn”.

Ngay từ lúc mới ra đời, Cải lương đã chịu ảnh hưởng có tính quyết định của hai dòng sân khấu: sân khấu Tuồng truyền thống của Việt Nam và sân khấu Kịch hiện đại của Pháp. Sân khấu Tuồng Việt Nam mang đặc trưng chung của sân khấu Châu Á là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo kiểu tự sự và sân khấu Kịch Pháp mang đặc trưng chung của sân khấu Châu Âu là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo kiểu A-ri-xtốt. Vì vậy, Cải lương cũng đã có hai kiểu vở diễn rất khác nhau, nhưng cả hai lại có chung một nguồn âm nhạc. Các bài bản âm nhạc của Cải lương đậm chất dân tộc, có đầy đủ thể loại để thể hiện tâm trạng nhân vật với tất cả các trạng thái khác nhau, tạo điều kiện cho diễn viên ca hát kết hợp với diễn xuất dù biểu diễn theo kiểu Tuồng Việt Nam hay theo kiểu Kịch Pháp.

Trong quá trình phát triển, các tác phẩm Cải lương đã được bổ sung thêm từ nguồn Dân ca, Hò, Lý. Và khi tiếp cận, giao lưu với sân khấu Kịch hát Quảng Đông (Trung Quốc) và tân nhạc của phương Tây, Cải lương cũng đã chọn lọc một số bài bản, dân tộc hóa để làm giàu thêm vốn âm nhạc sẵn có. Cùng lúc bổ sung thêm các bài bản, dàn nhạc dân tộc của Cải lương đã biết cách tiếp nhận các nhạc cụ hiện đại. Những cây đàn vi-ô-lông, măng-đô-lin, ghi-ta của phương Tây được các nghệ sĩ Việt Nam khoét phím để khi chơi đàn, cung bậc và giai điệu phù hợp với dàn nhạc dân tộc đã có sẵn. Cho tới nay, cây đàn ghi-ta phím lõm là nhạc cụ chính của Cải lương và đã trở thành cây đàn dân tộc của Việt Nam.

Thảo luận cho bài: "Ngọt ngào cải lương"