Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 15)

Tác giả:

Tiều rằng: Tên mạch đã trao,
Mạch nào chuyên chủ bệnh nào xin nghe.
Dẫn rằng: Chẳng mếch chẳng phe,
Mạch nào chứng nấy, tay đè thì hay.
1005. Xiết bao trong sách nhiều thầy,
Sẵn lời ca quyết ta rày vẽ ngươi.

Chư mạch chủ bệnh
(Các bệnh thể hiện qua hình trạng mạch)
Dịch nghĩa:
Phù là bệnh phong, Khâu là bệnh huyết, Hoạt là nhiều đờm,
Thực là bệnh nhiệt, Huyền là bệnh lao, Khẩn là bị đau đớn.
Hồng là bệnh nhiệt, Vi là bệnh hàn, đều tích tụ dưới rốn.
Trầm là đau vì khí, Hoãn thì da tê.
Sắc là bị tổn tinh âm, hại huyết.
Trì cũng là bệnh lạnh, Phục là bệnh ở cách quan.
Nhu thường bị toát mồ hôi, riêng người già thường mắc.
Nhược là tinh khí thiếu, xương và thân thể ê ẩm,
Trường là khí tốt, Đoản thì khí bị bệnh.
Tế là khí ít, Đại là khí suy.
Xúc là bệnh nhiệt cùng cực, Kết là tích tụ.
Hư là bệnh kinh giật, Động là thoát bị ra máu liên tiếp.
Sác là bệnh trong lòng buồn bực, Đại là bệnh đang tiến.
Cách là bệnh di tinh, băng huyết, cũng lạ lùng thay.

Thảo luận cho bài: "Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 15)"