Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 18)

Tác giả:

Nhập môn ngâm thơ rằng:

Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi, có hay không?
Mây giăng ải bắc trông tin nhạn,
Ngày xế non nam bặt tiếng hồng.
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng mưa nay há đội trời chung.
Chừng nào thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.

1085. Nghe rồi Đạo Dẫn vội vàng,
Bước ra trước cửa rước chàng Nhập Môn.
Ngư, Tiều nhìn thấy Nhập Môn,
Chạnh lòng bạn cũ, bôn chôn hỏi chào,
Miệng cười mà nước mắt trào,
1090. Mừng thương giao cách, biết bao nhiêu tình.
Mừng là mừng gặp bạn lành,
Thương là thương đạo ở mình hèn lâu.
Luống ôm báu tốt minh châu,
Ở nơi nước tối, ai hầu biết ai.
1095. Cách nhau mười mấy năm dài,
Gặp nhau một thuở, dễ phai lòng này.
Việc nhà ấm lạnh rủi may,
Cùng nhau trót đã tỏ bày căn duyên.
Môn rằng: Cám cảnh bạn hiền,
1100. Người sông, kẻ núi lưu liên bấy chầy.
Từ năm dứt hội rồng mây,
Những ngờ chúng bạn theo bầy tinh chiên.
Buồn xem trong đất U Yên,
Y quan xưa hoá nón chiên áo cầu.
1105. Người so cầm thú khác nhau,
Vì noi lễ nghĩa, giữ câu cương thường.
Tuy rằng ở cuộc tang thương,
Tấm lòng ngay thảo nào thường đổi xây.
Hai người tài trí vượt bầy,
1110. Chẳng tham danh lợi buổi này khá khen
Dẫn rằng: Mấy mặt như sen,
Đứng trong bùn lấm, mà bèn sạch trơn.
Chưa hay trong ý cao nhơn (nhân),
Lời thơ ngâm trước còn hờn, trông chi?
1115. Môn rằng: Ta đọc sách y,
Thấy trong vận khí xây đi nhiều toà,
Trời đông mà gió tây qua,
Hai hơi ấm mát chẳng hoà, đau dân.
Nhớ câu “vạn bệnh hồi xuân”,
1120. Đòi ngày luống đợi Đông quân cứu đời.
Tiều rằng: Nào xiết lo đời,
“Vinh, khô” hai chữ, mặc trời chủ trương.
Thánh kinh còn chữ “xuân vương”,
Trong, ngoài, há dễ lộn đường Hoa, Di.
1125. Đạo đời có thịnh có suy,
Hết cơn bế bĩ, đến kỳ thái hanh.
Ngư rằng: Gặp thuở thái hanh,
Bọn ta cũng đặng rạng danh nước nhà,
Chỉn e đời xuống càng xa,
1130. Tấm lòng nhân dục đắm sa lở bờ.
Dẫn rằng: Gặp bạn Thi, Thư,
Luống bàn lý sự, bao giờ cho xong.
Ai ai cũng có tấm lòng,
Biển sâu chưa hẳn đục trong lẽ nào.
1135. Nay xin mở tiệc tửu hào,
Phú thi vài lối tầm phào nghe chơi.
Ngư, Tiều, Môn, Dẫn bốn người,
Cùng nhau ăn uống vui cười ngoả nguê.
Môn rằng: Nam, bắc, đông, tê (tây),
1140. Gặp nay thơ biết cảnh đề ra chi?
Dẫn rằng: Nào phải trường thi,
Ra đề hạn vận, một khi buộc ràng!
Trượng phu có khí ngang tàng,
Rộng cho phóng tứ làm bàn thi tiên.
1145. Noi theo đạo cũ kim liên,
Cùng nhau xướng hoạ đoản thiên nối bài.
Mặc dù hai chữ tả hoài,
Việc xưa được mất bởi ai, cớ gì?
Người xưa sao có thị phi?
1150. Đạo đời sao có thịnh suy chẳng đồng?
Học theo ngòi viết chí công,
Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu.
Họ Đường mở vận xướng đầu,
Sau Châu Đạo Dẫn nối theo hoạ liền.

Nhập môn xướng rằng:

Đời hoàng rồi đế, đế rồi vương,
Từ dấu vương sau bá dọn đường.
Ai cấm đỉnh Chu người Sở hỏi,
Máy trời đã mở tiệm giày sương.

Đạo Dẫn hoạ rằng:

Nghìn năm có một hội minh lương,
Vua thánh tôi hiền vững bốn phương.
Nhớ thuở khóc lân treo bút đạo,
Mặc tình trời đất với quân vương.

Nhập môn xướng rằng:

Tà thuyết đua ra lấp nẻo đường,
Bủa lời Dương, Mặc, nét Thân, Hàn.
Sự đời bóng rối cười ông Lão,
Nợ nước khô lâu khóc họ Trang.

Tiều hoạ rằng:

Nửa nghìn chưa gặp vận sông Vàng,
Năm nhạc, hơi che một chữ quang,
Khổng thánh còn mang lời hạ quỷ,
Mạnh hiền luống chịu tiếng Tàng Thương.

Nhập môn xướng rằng:

Kiếm phù Hán tổ đãi Hàn công,
Nệm gối Đường tông sánh vợ chồng.
Hai chữ cương thường như thế ấy,
Dầu lân, điềm phụng, vội khôn trông.

Ngư hoạ rằng:

Bạo Tần dọn chỗ sẵn cho Lưu,
Trời khiến bầy hùng dấy đuổi hươu.
Lửa đốt A Phòng đền lửa sách,
Hầm chôn hàng tốt trả hầm nhu (nho).

Đạo Dẫn ngâm rằng:

Thuở nào năm ngựa lội sông nam,
Lắm bậc tài danh mấy có làm
Người Địch chống chèo thề cũng luống,
Họ Đào vận bịch sức còn tham.

Nhập môn ngâm rằng:

Công danh bọn trước rủi xiêu bè,
Biển bụi lênh đênh sóng gió đè.
Rồng phụng Kinh Châu còn mắc núp,
Chó gà Tề khách chớ nên khoe.

Tiều ngâm rằng:

“Mông thỏ, cung chim” tiếng trước de,
Tôi người họ Lục chở đầy xe,
Kén tơ kéo hết ra thân nhộng,
Hơi tiếng kêu còn nhọc sức ve.

Ngư ngâm rằng:

Tàu ngựa cầm trâu, trước lỗi nghì.
Năm Hồ roi dấu lấp đường đi.
Việc đời hỏi tới người mò rận,
Nạn nước trông về kẻ bán ky.

Nhập môn ngâm rằng:

Cuộc cờ thúc quý ngựa xe đua,
Nay chúa, mai tôi, lộn ấn bùa.
Một núi ông Đoàn riêng trốn khách,
Năm triều ngươi Đạo nhọc thờ vua.

Bài thơ mở đầu của hồi này từng được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006 với tiêu đề Xúc cảnh, nhưng đã được lược bỏ trong SGK Ngữ văn 11 từ 2007.

Nguồn: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học Giải phóng, TP Hồ Chí Minh, 1976

Thảo luận cho bài: "Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 18)"