Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 29)

Tác giả:

Tiều rằng: Ba bộ mạch thường,
Thốn, Quan, Xích đủ âm dương ra vào.
Chia nam, bắc chính cớ sao ?
2070. Thiên hoà bất ứng, năm nào bộ chi ?
Môn rằng: Vận khí xây đi,
Nam chính, bắc chính, định vì chúa, tôi,
Sáu hơi quân hoả cao ngòi,
Chẳng dùng làm việc, một ngồi rảnh rang.
2075. Năm vận thấp thổ quyền sang,
Dùng nên số ở giữa bàn trung ương,
Cho hay vận thổ làm vương,
Mặt nam ra lệnh bốn phương đến chầu.
Mộc, kim, thủy, hoả ứng hầu,
2080. Đều tôi mặt bắc, cúi đầu xưng phan (phiên).
Chia ngôi nam, bắc rõ ràng,
Lấy trong mười chữ thiên can hóa vời.
Nam chinh ấy nói đạo trời,
Bắc chính đạo đất thật lời sách biên.
2085. Thử xem Giáp, Kỷ hai niên,
Hóa ra phận thổ, thật quyền nam quân.
Tám năm bắc chính đều thần,
Đinh, Nhâm, Canh, Ất, Bính, Tân, Quí, Mồ (Mậu).
Lấy hai ngôi chính phân đồ,
2090. Theo niên bàn mạch nói phô mới rành.
Thiên hoà mạch ấy vốn binh,
Mạch trầm chỉn luận tình hình tam âm.
Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.
Giữ trời, giữ đất, xét tầm theo niên.
2095. Nam chinh Thái âm tư thiên,
Bộ thốn tay hữu mạch chuyên đi chìm,
Nam chinh Thái âm tại tuyền,
Bộ Xích tay hữu mạch chuyên đi chìm,
Nam chinh Quyết âm tư thiên,
2100. Bộ Thốn tay tả mạch chuyên đi chìm.
Nam chinh Quyết âm tại tuyền,
Bộ Xích tay tả mạch chuyên đi chìm.
Nam chinh Thiếu âm tư thiên,
Bộ Thốn, tả, hữu đều chuyên đi chìm.
2105. Nam chinh Thiếu âm tại tuyền,
Bộ Xích tả, hữu đều chuyên đi chìm.
Bắc chính Thái âm tư thiên,
Tay hữu, bộ Xích, mạch riêng đi chìm.
Bắc chinh Thái âm tại tuyền,
2110. Tay hữu, bộ Xích, mạch riêng đi chìm.
Bắc chinh Quyết âm tư thiên,
Tay tả bộ Xích mạch riêng đi chìm.
Bắc chinh Quyết âm tại tuyền,
Tay tả bộ Thốn mạch riêng đi chìm.
2115. Bắc chinh Thiếu âm tư thiên,
Tả, hữu bộ Xích đều riêng đi chìm.
Bắc chinh Thiếu âm tại tuyền,
Tả, hữu bộ Thốn đều riêng đi trầm.
Ấy là mạch lý tam âm,
2120. Gọi rằng bất ứng đều trầm trong tay.
Cam châu sách lại tỏ bày,
Coi ngôi quân hoả năm nay bộ nào.
Ở nơi Xích Thốn bộ nào.
Mạch rằng chẳng ứng chìm vào lột xương.
2125. Cho hay phép mạch ấy thường,
Bốn mùa bệnh biến nhiều đường chẳng câu.
Kinh rằng trời đất máy sâu,
Khí làm thắng phục mạch đâu thấy hình.
Xem hơi thắng phục cho tinh,
2130. Chữ thời, chữ bệnh, mặc tình trị theo.
Đạo y lắm chỗ cheo leo,
Chẳng nên chấp nhất làm nghèo người ta.
Dón thay một mạch thiên hoà,
Tổ xưa sẵn đặt bài ca dạy đời:

Ca viết
(Ca rằng)
Dịch nghĩa:
Nói về mạch Thiên hòa chỉ bàn đến ba khí âm,
Nam chính tư thiên thì bắc chính tại tuyền.
Thái âm chuyên chủ bộ Thốn và Xích tay phải,
Quyết âm chuyên chủ bộ Thốn và Xích tay trái,
Thiếu âm thì Xích và Thốn cả hai bên đều không ứng.
Nếu giao hay phản là sắp chết.

2135. Ngư rằng: Gẫm lẽ dưới trời,
Đã sinh dược phẩm cứu đời nhân gian.
Cớ sao lắm kẻ ngỗ ngang,
Đau thời cầu phép dị đoan độ mình.
Hoặc cầu thầy sãi tụng kinh,
2140. Hoặc cầu thầy pháp rập rình chữa chuyên,
Hoặc cầu thần quỷ cho thuyên,
Hoặc cầu đồng bóng chúc nguyền chư linh ?
Thấy làm những việc bất kinh,
Bùa đeo, thuốc giải, bệnh tình cũng thuyên.
2145. Chẳng hay đạo thuốc xưa truyền,
Phương nào trị đặng thói xiên nhân tình ?
Môn rằng: Trong cuộc u, minh,
Người cùng thần quỷ yêu tinh khác đường,
Bởi người ăn ở không thường,
2150. Hơi tà duồng gió vấn vương tai nàn.
Như nay miễu sập chùa hoang,
Thần nghèo, quỷ đói mượn đàn làm ôn.
Như nay hồ mị hớp hồn,
Vực giao bắn bóng, đều phồn yêu tinh.
2155. Có nơi quỷ mị hiện hình,
Làm cho bệnh nhiễm trong mình người si.
Sách rằng “trúng ác truyền thi “,
Ấy là tật quấy, bệnh kỳ xiết bao.
Tổ xưa làm thuốc ấy cao,
2160. Có phương lại có phép màu nhiều môn
Ông thời lấy thuốc đuổi ôn,
Lấy trâm trừ quỷ, tiếng đồn đã vang,
Ông thời ếm huyệt Cao hoang,
Chích hang Quỷ nhãn, giải nàn cứu tai.
2165. Ông thời mũ áo trắng trai,
Phá hình cày gái trừ loài yêu ma.
Đao ta lắm chước trừ tà,
Yêu tinh, quỷ quái khó qua thánh hiền.
Vậy nên trong sách thuốc biên,
2170. Chữ rằng hoạt pháp rộng truyền nhiệm thay !
Thầy nay chấp nhất chẳng hay,
Gặp cơn tà thắng khoanh tay, lắc đầu.
Khiến bầy thuật sĩ theo sau,
Ra làm phép bậy đua nhau dối đời.
2175. Dân ngu chẳng tỏ lẽ trời,
Đau thời sợ chết, khắp vời chư sư.
Lòng tà gây bởi chư sư,
Dân phong lần nhiễm ngày hư thói đời.
Dù người đau tỏ lẽ trời,
2180. Y còn phép bí, ai vời dị đoan ?
Muốn cho dẹp lũ dị đoan
Dò theo phép tổ, rỡ ràng đạo ta.
Người đau có chính có tà,
Nhà y phép trị có khoa biến thuờng.
2185. Bệnh chính thời dụng thuốc thường,
Bệnh tà thời dụng biến phương phép ngoài
Trời sinh muôn vật đều tài,
Học cho tột lẽ, trừ loài yêu tinh,
Loại như vật uế trừ tinh,
2190. Vật hương trừ quái, quỷ kinh A ngùy.
Hồ tinh sợ chó săn đi,
Xà yêu sợ tỏi, lại nghi Hùng hoàng,
Lấy vài vật ấy suy bàn,
Biết trong tạo hóa nhiều đàng thuốc tinh,
2195. Vật đều có chỗ hợp sinh,
Khác nhau thời ắt có hình chế nhau.
Cho hay vật có chế nhau,
Khắp xem Bản thảo trước sau chẳng đồng.
Sách nêu tinh dược nhiều ông,
2200. Nếm mùi chẳng một Thần Nông xưa truyền.

Bản thảo dẫn (Lôi công soán tiệp kinh)
(Lời dẫn về bản thảo. Tóm tắt sách Lôi công bào chế)
Dịch nghĩa:
Bản thảo truyền trong nghề thuốc; còn lưu cho tới ngày nay.
Vua thánh tôi hiền lịch đại, ai cũng lưu tâm;
Người nhân, con hiếu từ xưa, thảy đều chú ý.
Sinh làm người trong khoảng hai nghi; Đúc nên xác nhờ công bốn chất,
Phong hàn, thử, thấp, nấu nung; Mừng, giận, nghĩ lo, uất kết,
Héo tươi, khổ, sướng, tất tổn đến tinh thần;
Nhọc, rỗi, đói, no, đều hại cho khí huyết.
Đã có sống khó mà trốn khỏi;
Đã có thân ai cũng thế thôi.
Bẩm thụ người hư thực chẳng đồng, phải giữ mực thường mới được;
Cây cỏ chất độc lành đều khác, chưa rõ tính nó chớ dùng.
Thuốc nào mà chẳng hiệu; Dùng đúng thì hay.
Thử ngậm ô mai, răng ê ngay mà nước dãi chảy;
Vừa thổi Bồ kết, hắt hơi liền mà lỗ mũi thông.
Ăn cải cay mà lệ vòng quanh; Nhai Hoa tiêu mà hơi bế tắc.
Âm giao dò biết nhọt trong ở đâu;
Tiêu mạt chữa chứng đầu đau tưởng chết !
Đái vặt, dái săn, đêm sắc Tỳ giải; Mình lạnh, bụng lớn, nhờ cả Lô từ.
Nước đái rùa chữa được cấm khẩu;
Xương xảu chuột làm cho mọc răng.
Từ thạch bắt được mũi kim;
Hổ phách nhặt được hạt cải.
Mật rái rẽ được nước, Keo loan nối được xương;
Cho ngó sen mà tiết không đông;
Bỏ xác cua mà sơn tan rữa.
Nhựa có thể nấu tan quế ra nước;
Mỡ cóc có thể làm mềm ngọc như bùn.
Tạm kể ít điều để làm chứng nghiệm rõ ràng;
Cho rõ hết thảy đều có công dụng riêng biệt
Thường khi dùng một, khí thuần nhất thì công hiệu càng nhanh.
Hoặc lúc kiêm nhiều, vị phức tạp mà kết quả hơi chậm.
Tá, sứ biết để tâm kén kỹ, giúp đỡ thêm thì chóng thu công;
Uý, ố lầm những vị trái nhau, ganh ghét lộn sẽ thành rắc độc.
Mừng, lo trông cả ở bệnh lui hay tiến;
Chết sống quan hệ bởi phương dở hay hay.
Phải tinh tường theo sách định bài;
Chớ quấy quá gặp chăng hay chớ!
Đối chứng lập phương, phải lọc lấy sở trường trong các sách;
Tùy nghi dùng thuốc, họa là mong công hiệu được vạn toàn.

Thảo luận cho bài: "Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 29)"