Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 42)

Tác giả:

Môn rằng: Nghề thuốc rộng đưởng,
2900. Trước nêu các phép khuyên chàng chớ quên.
Dùng thời tông biến làm trên,
Chẳng nên chấp nhất, chẳng nên hiếu kỳ.
Cũng đừng cầu tốc làm chi,
Mau thời sớn sác lỗi nghì âm dương.
2905. Năm mùi thuốc có âm dương,
Dùng bằng lỗi thứ, lập phương nào lành.
Ví như ông tướng dùng binh.
Binh không kỷ luật, trao mình giặc đâm.
Ngàn xưa một đám Y lâm,
2910. Phép lòng hay nhóm, nào lầm lỗi chi.
Dón vào hai chữ “bất khi”,
Khí thời chẳng trọn y quy ở mình,
Học rồi phải tính có hành,
Làm đừng nhút nhát mà danh chẳng tròn,
2915. Thánh y dạy chỗ muốn còn,
Mật to, lòng nhỏ, trí tròn, nết vuông.
Hỡi ôi, sách thuốc luông tuồng,
Chữ “y”, chữ “ý”, tiếng luôn trắc bình.
Y là ý vậy, cho mình,
2920. Gẫm qua xét lại nghĩa Kinh mới tường.
Tuy rằng y bất chấp phương,
Gốc nhờ phương ấy dọn đường trổ ra,
Chữ rằng: Khử, thủ, giảm, gia,
Hợp, xuyên, trích, biến, ở ta vận dùng.
2925. Dẫn rằng: Chuyện nói đã xong,
Ta xin trở lại, thưa cùng nhân sư.
Cùng nhau làm lễ từ quy,
“Họ Bào, họ Mộng, đều tuỳ Nhập Môn.
Ngư, Tiều qua chỗ Nhập Môn,
2930. Riêng làm lễ tạ, bôn chôn tính về.
Tiều rằng: Nay phải trở về,
Việc nhà còn vợ rề rề chưa xong,
Nghiệp y còn chỗ chưa thông,
Xin sau thong thả học cùng sư huynh.
2935. Môn rằng: Ta vốn hậu sinh,
Nhớ ơn người trước tỏ tình kẻ sau,
Sách y lắm chỗ kín sâu,
Trước sau trọn đạo phải âu học thầy.
Muốn nên tài đức vượt bầy,
2940. Xưa nay ai có bỏ thầy mà hay.
Hai người phải gắng công dày,
Theo thầy mới đặng tài hay đức tuyền.
Có câu “y bát chân truyền”,
Đặng nghe chước bí thánh hiền mới hay.
2945. Chớ e đui mắt tật này,
Việc trong giáo quán khó đầy công phu.
Chớ rằng “hạt luyện manh tu.
Rừng văn biển học che mù khôn trông”.
Có trời thầm dụ trong lòng,
2950. Tuy ngồi một chỗ suốt thông trăm đời.
Nho, y, lý, bốc, đạo đời,
Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy,
Ta từng đứng cửa chầy ngày,
Ngưỡng xem khí tượng so tày Thái San.
2955. Lời ngay cặn kẽ khuyên chàng,
Trước sau chẳng khá lỗi đàng sư sinh.
Ta, ngươi kết nghĩa đệ huynh,
Tới lui một cửa học hành thêm xuê.
Ngư, Tiều vâng dạy ra về,
2960. Nhập Môn đưa khỏi Liễu Khê một hồi.
Chỉ đường rồi mới trở lui,
Bâng khuâng phần hữu, ngậm ngùi phần sư,
Ngư, Tiều cất gánh chẳng đi,
Cùng nhau than thở, một khi nói cười.
2965. Tiều rằng: Ta trước nhờ ngươi,
Đem đường nay đặng làm người y khoa.
Những ngày e lụn tháng qua,
Học hành mạnh lãng chẳng ra vẻ gì.
Những e tơi nón bỏ đi,
2970. Búa rìu mục cán, lấy chi cứu bần.
Hay đâu trời đã định phần.
Chẳng đành cho sĩ tấm thân nhọc nhằn
Xuất gia chưa trọn hai trăng,
Đem danh rừng củi đổi rằng rừng y.
2975. Khỏi nơi gai góc kéo trì,
Hươu nai, khỉ độc còn gì dễ ngươi.
Của trong rừng núi giúp người,
Hai vai gánh vác khô tươi đã nhiều,
Nay xin cổi lốt lão tiều,
2980. Làm ông thầy thuốc tiêu diêu cứu đời.
Ngư rằng: Ta bởi có ngươi,
Gắng công cũng đặng làm người tri y.
Bấy lâu thương lũ tiểu nhi,
Chìu lòn theo kẻ dung y tơi đầu.
2985. Tưởng là đạo thuốc thâm u,
Hay đâu y cũng trong nho một nghề.
Đã nên chài lưới dẹp nghề,
Khỏi lo tôm cá chở về chợ tan.
Tha cho loài thủy tộc an,
2990. Long vương nào giận quăng bàn thầy Viên.
Từ đây sóng gió xa thuyền,
Khỏi nơi lặn lội, lên miền sạch thơm.
Đặng theo sâm quế mùi thơm,
Dù cho bữa cháo bữa cơm cũng đành.
2995. Nguyện làm một kẻ y sinh,
Lấy câu âm chất đổi danh lão chài.

Thảo luận cho bài: "Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Hồi 42)"