Người Đẹp Đông Dương

Tác giả:

Cuộc thi hoa hậu đầu tiên của báo Tiền phong tôi được ngồi ở hàng ghế đầu. Thật là sung sướng cho thời mở cửa, chúng ta có nhiều cách sinh hoạt vǎn hoá đa dạng. Tuy tuổi đã cao, nhưng lòng tôi cứ trẻ trung theo các bạn nữ lên bục thi hoa hậu.
– Thu Hằng, hoa hậu Nghệ An.
Tôi sững sờ cả người, bất giác hô lên.
– Xuân! Người đẹp Đông Dương.
Tôi biết mình đã nhầm, nên ngượng ngùng ngồi xuống. Nhưng rồi tôi đứng ngồi không yên khi thấy Thu Hằng sao lại giống một người bạn gái cách đây gần hai mươi nǎm hồi ở chiến trường; hay là con gái bạn tôi? Cách đây một nǎm, tôi có tìm về quê, gặp lại mẹ Xuân, bà vẫn nói:
– Cái Xuân bặt vô âm tín, bác nhờ bạn bè đi tìm, chưa thấy một tin tức gì.
Lần cuối cùng gặp mẹ, tóc bà đã bạc trắng, nó giống như một nắm rơm khô phủ lên gương mặt bà lão. Nỗi lo lắng về con chưa lúc nào nguôi ngoai.
Cuộc thi vòng một kết thúc, chúng tôi ôm hoa tặng 15 người đẹp đã làm cho buổi biểu diễn thật là mĩ mãn. Tôi bắt tay Thu Hằng, mềm mại, ấm nóng như bàn tay Xuân.
– Con giống một người bạn của bác ngày xưa.
– Vậy con giống bác con.
Một sự đồng cảm sâu nặng, cả hai chúng tôi ôm hôn nhau, mà nước mắt cứ trào ra.
Sau mấy đợt đồng diễn, Thu Hằng trúng hoa hậu toàn quốc báo Tiền Phong. Mấy tháng sau kiếm cớ đi công tác, tôi tìm đến nhà Thu Hằng ở ngoại ô thành phố Vinh. Một cǎn hộ tập thể gọn gàng, ngǎn nắp, cái cảm giác không có bóng dáng người đàn ông trong nhà được thấy ở mọi sự sắp đặt tại đây. Ngoài ngõ những hàng tóc tiên hoa trắng, lá xanh mượt, đang đứng đợi gió. Từ ngày được là hoa hậu, Thu Hằng đi đâu cũng phải có mẹ kèm. Người tốt kiếm cớ đến chơi, kẻ ngang ngược trêu ghẹo cũng không ít. Nhà thì bé, mẹ con phải rào tường thật cao, cổng thật chắc. Gặp tôi là người quen, mẹ con mừng lắm, khi tôi chức mừng hoa hậu thì cả hai mẹ con đều tái mặt.
– Em cho con đi thi hoa hậu là để được ra Hà Nội chơi, thi chơi mà là thật. Là hoa hậu rồi, nhà toàn đàn bà lại là thảm hoạ. Nhưng mẹ con em còn một mục đích khác, để tìm hoa hậu thời xưa, chị Xuân em.
Đêm ấy tôi ngủ lại nhà hoa hậu mới, để nghe kể lại hoa hậu thời xưa mà tôi đã mất công đi tìm kiếm.
– Mẹ em sinh được bốn chị em gái, lần lượt mẹ đặt tên cho là: Xuân, Hạ, Thu đến em mẹ đặt là Mưa. Mẹ bảo là đặt là Đông thì ảm đạm quá. Đặt là Mưa có buồn một chút, nhưng cái buồn đáng yêu (cái buồn đáng yêu của em kia kìa).
Mưa chỉ Thu Hằng, tôi thì không hỏi thêm chuyện đáng buồn của Mưa, mà lẩm bẩm một mình.
– Nhưng sao lại giống Xuân như đúc.
– Cả nhà em, lúc nào cũng thương nhớ chị Xuân, cả khi ngủ với chồng em cũng nói chuyện về chị nên cháu giống bác.
Nǎm ấy Xuân 22 tuổi, chị được trường Đại học Y khoa cử đi niềm Nam nǎm 1967 để chuẩn bị cho Mậu Thân 1968, Đảng đã huy động hết sức người, vật chất cho chiến trường miền Nam. Trưa nào nǎm mẹ con em cũng quây quần bên rổ khoai llang luộc, mấy hôm ấy mẹ nấu nồi chè bí đỏ, đậu xanh.
– Mẹ nấu nồi chè này để ǎn liên hoan tạm biệt chị con đi xa. Sau này mẹ có chết các con yêu thương, đùm bọc nhau dẫu có nghèo vẫn ngọt ngào như nồi chè trưa nay mẹ nấu.
… Chúng tôi nhìn chị cả, chưa bao giờ chị lại đẹp như hôm nay, có đi kiếm cả thế gian này cũng không có ai sánh bằng. Khi còn rất nhỏ, tôi luôn đứng đằng xa nhìn chị từ dáng đi, kiểu ngồi, ngay cả lúc chị nằm ngủ. Tôi ước ao giá tồi được đẹp như chị, lúc đó tôi đã có ý nghĩ không bao giờ cho chị đi xa, để chị ở lại nhà mà ngắm cũng đủ no. Nǎm đi đại học, lũ em chúng tôi đã khóc hết nước mắt. Bây giờ chị đi đâu? Một cảm giác chị biến mất trên thế gian này bỗng ập đến.Tôi lǎn gào khóc một cách đau đớn, tôi ôm chặt chị trong tay chỉ sợ chị đi sẽ là mãi mãi không trở lại. Nǎm mẹ con chúng tôi ôm nhau khóc. Khóc cho tới khi mệt quá ngủ đi với sự lo sợ phập phồng. Lúc tỉnh tkhông thấy người, tôi lại lǎn ra khóc, bỏ cả ǎn uống, lúc ấy tôi chẳng thiết sống. Mẹ và các chị phải dỗ dành thuốc thang cho tôi, đến lúc khoẻ, thấy mình tóc bị rụng đi một nửa bởi vì những khi tỉnh tôi lại thương nhớ chị. Nǎm giải phóng miền Nam, một người tìm về quê tôi hỏi chị Xuân, tôi cứ soắn xuýt bên anh để được biết về chị. Đến lúc yêu nhau mà lúc nào cũng nhắc về chị ấy… Anh Hùng ân hận vì yêu còn chị ấy mà không dám bước qua lời thề. Tình yêu còn lại anh để cho tôi và đứa con gái, nó là con tôi nhưng lại mang dáng vóc, lẫn tính tình của bác nó …
Câu chuyện Mưa kể cho tôi nghe đã sống dậy cả một thời xã xưa của Xuân. Xuân ơi ở đâu tôi đang đau đáu đi tìm một con người làm nghiêng ngả cả Đông Dương. ấy vậy mà Xuân lại biến mất. Tôi sẽ đi tìm Xuân để người thân của hoa hậu không còn phải khắc khoải mong chờ. Cái đêm tĩnh mịch ở Nghệ An thật là buồn. Nỗi buồn của tôi và Mưa là nỗi buồn của người bạn gái, em nhớ về một người phụ nữ đẹp cứ đeo đẳng suốt đời. nǎm ấy ở chiến trường, Xuân viết thư báo cho tôi biết một quyết định sẽ lấy Nô Đen làm chồng, tôi buồn bực đứng giữa cứ tại xóm Thuộc Củ Chi bắn một bǎng AK lên trời mà hét.
– Lũ đàn ông thật là hèn mạt.
Rồi tôi bỏ cứ đi lang thang sang mấy đứa bạn. Thủ trưởng nhà tôi bị thất tình có thể bỏ chạy về phía bên kia, nên đã chuẩn bị phương án 2 dời cứ. Ba ngày sau tôi lững thững đi về như một kẻ mất hồn. Lần ấy tôi phải nhận một kỷ luật: khiển trách vì không giữ gìn bí mật cơ quan. Tôi chẳng quan tâm gì về vụ kỷ luật của tôi mà tôi chỉ thấy dòng chữ Xuân viết cho tôi những dòng đớn đau của một đời con gái: "… Chỉ có Nô Đen nói là yêu mình, còn tất cả lũ đàn ông cứ vờn như vờn chuột. Họ sợ cái quá khứ của mình hằn vết cho đời họ. Xuân đồng ý lấy Nô Đen vì anh ấy ít nhất cũng dũng cảm yêu mình thật sự. Ngày cưới đã quyết định, mình không thông báo cho bạn bè biết ngày đó mà chỉ thông báo cho mình sắp lấy chồng. Có thương mình thì hãy nghĩ: "Thế là cái Xuân cũng đã lấy được chồng…"
Trận càn Đông Dương nǎm 1970, bệnh viện của Xuân làm nhiệm vụ di chuyển thương binh bên đất Campuchia. Túi thuốc, ba lô thuốc trên vai, là bác sĩ phải chạy ngược xuôi để chǎm sóc thương binh nặng. Đoàn đã đi đến gần thị trấn Rạch Pô thì bị đột kích. Trong vòng một giờ đồng hồ, thương binh nặng thì bị chết, các cǎng binh tản ra chặn biệt kích, Xuân thì bị một người nhét giẻ vào mồm, trói chặt vác đi. Anh ta vác Xuân từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm thì tới một thị trấn nhỏ và đưa vào một cǎn nhà kín cổng cao tường rồi cởi trói cho Xuân.
– Anh bắt em về ở với anh, em đẹp quá!
– Tên đại uý lon ton nói tiếng Việt, tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Hàng ngày đại uý mang cơm vào cho Xuân ǎn, không cho Xuân đi đâu ra khỏi phòng "ngoại bất nhập, nội bất xuất". Vợ đại uý cũng không được quyền đặt chân vào cǎn phòng này.
Một ngày trời đẹp thu, Xuân ngồi nhìn ra cửa sổ, cơn gió chút lá vàng, nhè nhẹ, như đang nói lời chia tay với những chiếc lá. Bỗng vợ đại uý bước vào, chị quỳ sụp dưới chân Xuân:
– Chị đẹp quá, báu vật của trời cho mà nhà tôi đã bắt được. Tôi không ghen với chị mà mong chị một lòng một dạ với nhà tôi.
Xuân cũng ngồi sụp xuống nói với vợ đại uý:
– Chị hãy thả tôi được về với đồng đội. Tôi bị bắt, tôi không có tình yêu với anh ấy thì không sống nổi, hãy thả tôi, tôi cảm ơn chị.
– Ra khỏi nơi này, con trai Campuchia trông thấy chị, họ bắt ngay; rồi chị lại rơi vào tay những kẻ đểu cáng.
Con có ý muốn lập miếu ghi công trạng người con cùng quê với Bác Hồ, ở đất này, những người con của Nghệ An ngã xuống không phải ít, chúng tôi cám ơn mảnh đất trung dũng ấy đã đẻ ra bao người tài dựng nước và giữ nước dũng cảm.
Có lẽ tôi chỉ biết gói lời ấy về nói với mẹ Xuân, một người mẹ sinh ra bốn người con tài sắc trên một vùng đất rất nghèo. Các anh tiêm thuốc ngủ cho tôi để tôi không thể đòi hỏi một điều vô lý trên … Tôi tìm lại bố con Nô Đen, người đau khổ nhất lúc này là anh, anh yêu Xuân vụng dại, nhưng lạ rất thật lòng. Xuân mất, anh suy sụp cả tinh thần và sức khoẻ.
– Tôi muốn chết theo Xuân, nhưng lại thương con, giọt máu còn lại của vợ tôi. Hai đứa con anh còn nghị lực hơn bố, chúng mếu máo nhưng cũng nói được với anh.
– Ba ơi, chúng coi chỉ còn ba, ba ở lại với chúng con, con lạy ba.
Cả hai đứa lạy ba nó,lạy sống một người.
Nửa tháng sau, tôi cùng ba cha con ra miền Bắc. Chúng tôi lục tục kéo về quê thǎm bà mẹ già, mẹ không khóc được, mẹ chỉ sờ lên đầu từng người và đếm: "một, hai, ba, thiếu cúi Xuân!".
Một bà mẹ của bốn đứa con, nay còn ba, gia đình con bà có bốn người còn ba. Bà cứ đếm như vậy từ chiều đến tối đen, khi mọi người đã lên đèn. Một ngọn đèn sáng đã đánh thức tâm trí bà dậy, bà bật khóc.
– Bữa ni thì nó chết rồi đó, ta sống mà mần rǎng.
Bà lǎn ra khóc, nỗi đau lúc này mới toát ra ngoài, hình như nước mắt làm lòng bà dịu đi nhiều, bà níu lấy Nô Đen.
– Con ơi, ta với mi đều đau đớn, nhưng phải ráng lên con.
Tất mọi người phải ráng vượt lên số phận của mình, điều ấy Xuân đã sống và làm như vậy, chúng tôi chỉ còn biết học theo. Nghe tin Xuân mất, những người bạn xa xưa đã về, họ mang đến nhà những bức tranh sơ dầu, bức tượng thạch cao và dày công vẽ và đắp chân dung một người đẹp ở một thời khói lửa có bao chuyện buồn đau, nhưng những con người biết giữ gìn nó một cách trân trọng.
Tiếng mẹ lại ngồi đếm một, hai, ba, mẹ biết con mẹ đã mất đi một bức tranh đẹp đến bao giờ mẹ mới nguôi ngoai. Tiếng mẹ đếm là chúng tôi cứ thấy hãng hụt khi thiếu vắng đi một người đẹp nhất trần gian.


Thảo luận cho bài: "Người Đẹp Đông Dương"