Người Ðàn Bà Lạ Mặt

Tác giả:

Tỉnh dậy.Vật đầu tiên anh nhìn thấy, lớp vải màn lù xù của chiếc mùng nhà binh có vài chỗ vá, nhăn nhúm. Bóng tối lờ mờ xung quanh làm anh khó xác định rõ thời gian là chiều hay tối. Người vẫn ê ẩm, nhức mỏi nhưng chỗ chân đau không còn nhói buốt như mấy ngày trước. Anh chống tay. Vạch mùng. Theo thói quen, đảo vội một vòng mắt. Khi tia nhìn quen bóng tối, anh nheo mắt suy nghĩ. Khung cảnh xung quanh lạ quá. Ngoài bộ bàn ghế gỗ thông kê sát vách đắp bằng đất sét, không còn một vật dụng nào khác, để anh có thể xác định mình đang ở đâu.. Ngồi lặng trên ghế, anh căng tai nghe ngóng. Hy vọng một vài tiếng động nào đó, đáp lại sự chờ đợi của mình. Tuyệt nhiên không. Căn nhà yên ắng đến nỗi, chỉ hơi thở người và tiếng tặc tè của con thạch sùng bám vách cột. Mình đang ở đâu đây? Vỗ vỗ trán. Cố lần hồi nhớ lại những sự việc đã xảy ra trong mấy ngày trước, anh chợt giật mình. Còn thằng bạn của mình đâu ? Nó và anh cùng trốn tù trên đường giải về tỉnh. Tội phản động. Lợi dụng lúc xe lọt ổ gà, anh nhào kẹp cổ thằng công an áp tải, dùng cùi chỏ, dộng mạnh một cú ngay ót , đầu nó đập bộp vào mép ghế. Anh lên đầu gối cú thứ hai. Ngay cằm. Nó ngoẹo đầu xuội lơ, bên mép rỉ lòng thòng dòng máu. Bạn anh, cũng vật một thằng khác. Cướp súng. Anh và nó làm nhanh đến nỗi, thằng tài xế đành líu ríu giơ hai tay đầu hàng, sau khi bị cột trói và giẻ nhét đầy miệng. 


Hai thằng chạy bán mạng, tìm đường thoát thân. Giữa đường, trời tối, anh lạc về xóm mé rẫy. Còn nó, không hiểu thoát hiểm chỗ nào. Vết thương của anh, bị mưng mủ từ mấy ngày trước, sưng tấy, di chuyễn thật khó khăn. Lê từng bước, lội qua bùn sình, nhiều chỗ trũng lởm chởm gai nhọn, anh cắn răng bò lết từng gang. Ban ngày ẩn trốn. Ban đêm mò nhắm phía xóm dân. Với cái đau xé thịt và tay chân rũ liệt, bụng cồn cào mờ mắt thấy đủ hào quang. Anh nghĩ. Có lẽ mình sẽ bị bắt lại. Và nếu vậy. Chọn cách chết nào để thoát khỏi sự tra tấn của bọn chúng. Một lần nữa ? Thế mà… Bây giờ anh đang ở đây. Ít ra, anh biết. Mình được sống. Thậm chí bình yên. Còn bạn anh. Thì sao ?



Bước xuống giường, thử vươn vai. Nhấc chân. Tốt lắm. Chỉ cần một vài ngày dưỡng sức, mình có thể đi lại khá dễ dàng. Lòng thầm cảm ơn vị ân nhân đã giúp đỡ, anh suy nghĩ tìm một lý do nào đó, giải thích cho trường hợp trốn chạy. Nếu cần. Ðang phân vân với mớ lý lẽ cần sắp xếp, chợt có tiếng cửa mở rột rẹt. Anh nín thở, chạy nấp sau cánh cửa bằng phên tre ngăn giữa gian ngoài và trong. Một người đàn bà bước nhanh vào nhà. Ngọn đèn dầu được thắp lên. Vì bà ta đứng quay lưng lại nên anh nhìn không rõ mặt. Già hay trẻ. Nhưng bộ quần áo rộng thùng thình dấu cái dáng ốm o, còm cõi, anh đoán chừng bà ta phải ngoài ba mươi. Bà ta để vật gì đó lên bàn. Và. Thay vì đi vào nhà như anh tưởng, bà ta bước vội ra ngoài, khép cửa. Tất cả sự việc xảy ra. Nhanh. Gọn. Ðến nỗi. Anh há hốc mồm, mắt trợn tròn. Kinh ngạc. Anh hít một hơi sâu. Nghe ngóng. Không chút động tĩnh. Có lẽ, ngoài anh, không còn ai trong căn nhà tranh tối tranh sáng nầy. Ðợi một lúc, anh bước về phía ngọn đèn. Trên bàn, ngoài gô cơm và thức ăn còn nóng, một tờ giấy kẹp dưới chân đèn " Ông. Thức ăn của ông. Sau khi ăn, uống một viên trụ sinh và một viên an thần" .


Ngồi xuống ghế, anh nhìn phần thức ăn với nhiều câu hỏi. Ðúng ngưòi đàn bà nầy đã cứu mình. Và, có thể, vết thương mưng mủ cũng đã được bà ta tận tình chữa khỏi. Rõ ràng, bà ta biết mình đã tỉnh. Tại sao không đứng lại, tìm hiểu xem, ít ra, kẻ mình cứu thuộc loại đối tượng nào. Hay có điều gì làm bà ta khó xử. Thây kệ. Tới đâu hay đó. Anh ăn hết phần cơm một cách từ tốn, ngon lành. Lâu lắm, được một bữa cơm canh,không phải vội vàng trợn mắt, đối với anh lúc nầy, thật không cao lương mỹ vị nào sánh bằng. Còn ngồi đây yên ổn là tương đối đã thoát nạn rồi. Chuyện may rủi thôi thì phú mặc cho trời đất. Anh khơi lớn ngọn đèn, nhìn quanh quất. Ngoài chiếc tủ thờ và cái chõng tre, cũng như gian trong, đồ đạc chẳng có gì. Căn nhà hình như ít khi có người lui tới. Bây giờ anh mới cảm nhận được sự vắng vẻ của nó. Nhìn bóng lờ mờ chiếu lung linh trên vách, anh thót giật mình, vội thổi tắt ngọn đèn. Thật nguy hiểm nếu có người nào tình cờ nhìn lén qua khe. Trong bóng tối phủ ập , anh nghe tiếng cành lá đập lào xào trên mái tranh. Rồi chợt im ắng, như tiếng bước chân ai rón rén bên thềm. Hé cửa nhìn ra ngoài, trong tầm mắt, từng hàng bạch đàn đùa theo gió, lướt thướt nhánh lá mềm ve vuốt đưa đẩy đùa giỡn với bóng tối. Xa xa. Vài ánh đèn dầu tù mù leo lét. Phía bên kia mờ cuối đường chân trời, chạy dài dãy núi cong mềm mại như đường vẽ. Căn nhà nầy có lẽ nằm ngoài rìa xóm. Ðâu đó, tiếng chó giật mình sủa ăng ẳng…


***
***


Ngọn nắng len liếp tre, chiếu thẳng mùng, đập vào mắt anh là ánh sáng đầu tiên anh nhìn thấy sau một đêm ngon giấc. Vươn vai đứng dậy, anh đi mấy đường quyền theo thói quen, cảm thấy toàn thân khá dễ chịu. Vết thương tuy còn sưng đỏ nhưng lúc nầy, anh nghĩ. Nếu phải chạy trốn thêm mấy cây số nữa, chắc cũng chẳng hề hấn gì. Có lẽ nhờ mấy viên thuốc trụ sinh của người chủ nhà kia. Hy vọng sáng nay sẽ gặp bà ta nói vài câu cám ơn, anh cảm thấy nhẹ nhõm. Dù rằng, sự giúp đỡ của bà ta đối với anh trong lúc nầy, thật tình, anh không biết sẽ đền ơn bằng cách nào. Hoàn cảnh của anh bây giờ, thân còn lo chưa xong, nói chi đến chuyện ơn nghĩa. Nếu bà ta biết, đã cứu nhầm một tên tù vượt ngục, phản ứng sẽ như thế nào ? Anh không muốn che dấu sự thật, càng không muốn vô tình làm liên lụy đến kẻ đã cưu mang mình. Ðầu tiên gặp chủ nhà, anh sẽ hỏi đường ra đi sớm.


Gian nhà vắng vẻ. Cửa đóng kín mít. Móc khóa cài bên ngoài. Anh ghé mắt nhìn qua khe cửa. Ngoài sân, tiếng chim hót líu lo, nhảy tí tách trên chuồi táo đuổI theo từng vạt nắng sớm đung đưa cọng lá. Hàng bạch đàn đêm qua vươn mình níu những cánh tay mạnh mẽ đan vào nhau, đùa giỡn từng đợt gió. Anh không dám mở cửa sổ, mặc dù không khí ban mai ngọt ngào len lén lùa vào buồng phổi, làm anh thèm quá hơi thở thiên nhiên của tự đất trời.Trên bàn, lại một phần cơm như hôm qua. Sờ tay còn ấm. Người đàn bà kia chắc cũng chỉ vừa rời khỏi vài phút trước đây. Mấy dòng chữ nguệch ngoạc trong tờ giấy: 

" Ông. Thức ăn của ông. Bốn tiếng uống một viên trụ sinh và một viên an thần vào buổi tối. Có gói thuốc lá và xấp báo. Không mở cửa." 


Lạ lùng. Thật là người đàn bà khó hiểu. Anh lắc đầu, mỉm cười một mình. Giở phần cơm và nhìn thức ăn được chuẩn bị chu đáo, anh chống cằm nghĩ ngợi. Mình đã đào thoát bao nhiêu ngày rồi. Thằng bạn mình bây giờ thế nào. Tại sao người đàn bà lại tránh mặt mình. Có điều gì khó xử. Hay còn lý do nào khác… Lẽ nào.Thây kệ…Mình đã từng nếm mùi tù CS, đâu còn khổ ải kinh khủng nào hơn chốn địa ngục đó. Cùng lắm là chết. Thế thôi. Châm rãi lật tờ báo,một bản tin ngắn đập vào mắt anh. " Hai tên tù cực kỳ nguy hiểm đã vượt ngục. Chúng đánh bị thương công an áp tải, cướp súng, tháo chạy về phía…Hiện công an địa phương đang ráo riết truy lùng bọn tội phạm.." Anh thở phào, cảm thấy như trút được gánh nặng canh cánh trong lòng từ mấy ngày nay.Vậy là bạn anh cũng đã thoát. Nhưng cùng lúc, gáy anh như có lưỡi thép lạnh cứa ngọt lịm ngứa ngáy cổ. Chắc chắn, người đàn bà đã biết lai lịch kẻ mình đã cứu. Vậy thì…Có khi nào bà ta sẽ báo công an để bắt mình. Không. Nếu như vậy thì giờ nầy, mình đã bị còng rồi.Chỉ còn duy nhất một lý do dễ hiểu. Tuy cứu người, nhưng bà ta tránh mặt vì sợ phải đối diện với một kẻ tội phạm nguy hiểm. 


Như anh. Lắc đầu. Xua tan ý nghĩ vừa nhen nhúm, anh lại nghĩ ngợi tiếp. Bây giờ thì làm gì đây. Thoát bằng cách nào. Ði thì dễ rồi, chờ đến tối là tìm cách trốn thôi. Nhưng trước mắt, chưa nắm rõ địa hình ở đây, cũng phải đợi bà ta hỏi đường đi nước bước, và cũng nói vài lời cảm ơn cho phải đạo. Anh ném tờ báo sang một bên, ăn cơm, mồi điếu thuốc, sảng khoái thả một vòng khói và thích thú nhìn dãi mây nhỏ uốn éo lượn lờ xung quanh.Mở hé cửa sổ, nhìn ra vườn. Căn nhà lọt thỏm trong rừng bạch đàn. Xung quanh, cỏ mọc um tùm.Dọc hàng rào, hàng mít xanh um lưa thưa quả non. Mút mắt, từng hàng táo cắt sát gốc, nhú mầm bé xíu đọt xanh non . Quanh quẩn trong gian nhà, anh không biết làm gì để giết thời giờ, chờ đêm tới mau. Ðứng cạnh chiếc bàn thờ cũ kỹ, chơ chỏng chiếc bát nhang mẻ miệng còn vướng một nhúm gạo, anh chăm chú nhìn con muỗi mắc cạn trong ổ nhện, vẫy vùng tuyệt vọng tìm lối thoát, anh nghĩ đến thân phận kẻ trốn chạy như mình, chẳng khác gì con muỗi kia, không biết sẽ bị bắt vào lúc nào. Tương lai thật mù mịt. Trại tù khổ sai, viên đạn tàn bạo dành cho kẻ chống đối, bản án tử hình ngày đêm lượn lờ, ám ảnh, không lúc nào yên. An dành cho kẻ phản động, thật ghê gớm. Anh chỉ còn duy nhất một con đường. Nhưng bằng cách nào đây ? Cố giữ đầu óc tỉnh táo, anh phùng mang thổi đám bụi bám dầy trên nóc tủ thờ. Một quyển vở học trò được chặn dưới con ốc xa cừ to bằng nắm tay, lấm tấm màu trắng đen gây sự chú ý nơi anh. Anh ngắm nghía con ốc biển. Tiếng u u sóng biển làm anh nhớ hồi còn nhỏ, anh thích áp tai vào vỏ ốc, nghe tiếng gió thổi mát dịu, nhồn nhột chân tóc. Anh cầm quyển vở. Một quyển nhật ký.Thật thú vị. Anh mang nó ra bàn, ngồi ngay ngắn…Và như những kẻ nhàn hạ nhất trên đời, mấy ngón tay anh lật nhẹ tờ bìa…


***
***


" Ðôi khi, trở lại ngôi nhà cũ. Buổi tối, ngồi trước thềm nhà, nghe bước gió chạm khẽ mấy thân tàu lá chuối, nghe mùi hương dạ lý quấn quít đẫm từng bụi cỏ, và ngoài kia, trong đám mần trầu rậm rạp, tiếng dế gáy ren rét, tiếng ri ri không ngừng của côn trùng làm không khí ban đêm của miền quê thật đặc biệt, khó tả. Bất cứ lúc nào, cũng nơi chốn nầy, tôi hết sức nhớ mẹ tôi. Nhớ mẹ. Ngày mưa, hối hả thu dọn từng đống lúa khô vào bồ lớn, che từng đám bí, bầu mới nhú đọt non. Ngày nắng, mẹ để dành từng lu đựng nước mưa, kiên nhẫn lọc từng gàu nước giếng cho đám con nhỏ nghịch ngợm, phá phách. Tôi nhớ. Với anh Hai, chúng tôi đã sống với nhau những ngày tháng thật vui vẻ.Tôi theo anh đi đào hang dế, soi đèn bắt ếch. Ðêm mưa, nghe ễnh ương kêu ồm ộp như tiếng bò con ngái ngủ. Mẹ nói. Ban đêm, ma quái nhiều lắm. Có những oan hồn rong chơi vất vưởng thích tìm bắt con nít. Nên, từ 7 giờ tối, chúng tôi không được chạy nhảy ngoài sân, trừ những đêm trăng. Trăng ở đây đẹp lắm. Treo vằng vặc. Tròn như cái nia. Hồi nhỏ, tôi thường đòi anh Hai bắt trăng xuống chơi với tôi. Anh mang một cái thau nước to, để giữa sân nhà, và tôi tha hồ vọc trăng trong nước. Khi tôi lớn lên, anh nói: Ti à. Em đâu cần bắt trăng nữa. Tự tâm hồn em đã có bóng trăng rồi. Tôi thật sự không hiểu. Nhưng lớn hơn một chút, tôi nghiệm một điều. Trăng là nỗi khao khát của tôi. Của một hạnh phúc không có thật. Và tôi. Dù ở đây.Vẫn thở. Vẫn sống. Nhưng chẳng bao giờ thấy mình tồn tại. 


Mùa nắng. Khu vườn thật xơ xác, lá rụng đầy sân. Hai anh em chúng tôi, chiều nào cũng ôm một cái thúng to, theo mẹ hốt lá. Tôi thích ngửi mùi lá đốt, nó nồng nồng, ngai ngái thơm đến lạ. Hầu như tôi mê cái mùi cháy nồng lẫn hun khói đó. Và lớn lên, tôi bị dị ứng với mùi lá cháy, từ trận đốt rừng mà con chó nhà tôi bị nướng đen thui. Ðến tội. Từ hồi mẹ mất, tôi ít khi trở lại ngôi nhà cũ, trừ một đôi khi, phải ở lại tưới táo. Trở lại nó là dẫm lại bước chân thời thơ ấu. Mà nơi đây, tôi đã dấu quá nhiều kỷ niệm. Tôi sợ nhìn lại bậc thềm nhà ngày xưa, những đêm nằm trong lòng mẹ ngắm trăng. Sợ nhìn từng gốc mít, nghe đâu đó, âm thanh dòn tan của tiếng cười nắc nẻ trong trò chơi trốn tìm với anh Hai. Nhiều khi tôi tự hỏi. Có gì quyến luyến tôi nơi đó ? Có phải. Từng mảng tường vôi, vách lá thẫm, từng thân cột mọt, cơn gió mơn man, mảnh trăng mười sáu đã một thời âu yếm cưu mang tôi tuổi nhỏ ? Có phải. Từ những bước chân chập chững theo mẹ với mấy ngón tay xòe như búp hoa. Mẹ suýt xoa, nựng nịu khi con vấp ngã ? Trong tiếng cười và tiếng khóc ngày xưa, bây giờ, trong tôi chỉ duy nhất nỗi đau còn ở lại, nỗi cay đắng câm nín mà dẫu có đi suốt hết cuộc đời , dấu răng vẫn gậm nhấm mãi không ngừng. Và tôi. không biết có ai để cùng chia xẻ. " 



Lật từng trang vở học trò, lòng anh chùng theo từng nét chữ mềm mại, dễ ưa. Trái tim mẫn cảm. Vầng trăng dịu dàng. – mỗi dòng chữ, dường như anh thấy những giọt lệ long lanh, cả những nụ cười dấu nỗi ngậm ngùi của người đàn bà anh chưa biết mặt. Nàng thật dễ thương, dịu dàng biết bao. Anh định bụng khi nàng trở lại, sẽ nói với nàng trăm nghìn lần lời cám ơn, trăm nghìn lần lời thân ái. Vì, nhìn tâm hồn nàng qua những dòng chữ nhỏ, cảm giác thân thiết và gần gũi mà nàng đã mang lại cho anh, như ngọn lửa hồn nhiên sưởi ấm trái tim của kẻ lữ hành cô độc như anh. Và, anh chợt nhận ra, trong suốt những ngày tù đày, trốn chạy, hình như anh chưa hề nghĩ về một người đàn bà nào. Và anh cũng lấy làm ngạc nhiên khi nhận ra cảm giác hấp tấp, dễ dãi của mình.



Giở những trang tiếp theo, anh đọc từng dòng, từng hàng với một vẻ thích thú đặc biệt. Ðôi lúc, anh phải ngưng lại, nhắm mắt để xua đuổi bớt những hình ảnh quá sống động mà nàng vẽ ra trước mắt anh, hoặc ngừng đọc rất lâu để cùng chia xẻ với nàng những tiếng thở dài mà nàng đã cô đọng sau mỗi dòng chữ. Một đoạn gần cuối làm anh chú ý…


" Người đàn ông đã bất tỉnh. Khó khăn lắm tôi mới lôi ông ta vào nhà. Một phần, ông ta hơi nặng. Phần nữa, con chó Lu cứ chạy xoắn chân tôi rên ư ử. Ngoan nào. Lu. Tiếng ủng ẳng của nó làm tôi sợ nhiều hơn tiếng thân người nặng nề kéo theo đám lá khô xềnh xệch.Người ông ta bê bết bùn đất. Và hôi nữa. Khuôn mặt ông ta có vẻ dữ dằn, đáng sợ. Nhưng ông ta đang bị thương, và tôi, không nỡ lòng bỏ ông ta ở đó. Vết thương nơi chân sưng tấy, bốc mùi tanh. Tiếng rên của ông ta làm tôi nhớ tiếng rền rĩ của mẹ tôi, những ngày đau đớn cuối cùng của cơn bệnh vật vã, không phương cứu chữa. Không biết bằng cách nào, tôi đã vực được cái thân hình to lớn, nặng nề đó lên giường và băng bó vết thương cho ông ta.



Ông ta là ai. Một kẻ sát nhân. Một tên tù vượt ngục. Mặc kệ. Dù ông ta nguy hiểm như thế nào, giữa người -và- người, có lẽ lòng thương hại lớn hơn sự sợ hãi. Và ngay cả những hậu quả mà ta phải gánh chịu. Tôi nhớ mẹ thường nói. Cứu người trong cơn nguy khốn, như tích phước xây được bảy ngôi chùa.Kể ra, khi mặt mũi lau sạch sẽ, trông hắn cũng không đến nỗi dễ sợ. Hôm nay đọc báo, tôi biết hắn chính là tên tù vượt ngục. Tin tức về hắn và người bạn làm tôi sợ hãi. Tôi không hiểu. Cứu hắn là đúng hay sai. Nhưng đã qua mấy ngày rồi, dù vô tình hay cố ý, tôi cũng mang tội chứa chấp kẻ phản loạn. Tội nầy cũng dễ sợ không hơn gì tội của hắn. Thật tình, cái đám công an, du kích đó, người dân ai cũng ghét. Chết được đứa nào đỡ đứa đó. Nhưng cho đến bây giờ, điều tôi lo lắng, người đàn ông có đủ sức để trốn chạy tiếp đoạn đường còn lại không. Và, khổ sở cho tôi, làm cách nào để giúp ông ta thoát khỏi sự truy nã của chúng đây ?" 



Anh mỉm cười, gấp quyển vở trả lại chỗ cũ. Những lời thì thầm của nàng, tấm lòng hồn hậu mang lại cho anh cảm giác thật dễ chịu. Anh xé một trang nhật ký ( Không biết để làm gì ) xếp cẩn thận bỏ vào túi áo. Những nét chữ mềm mại rất con gái, vẫn không ngừng nhảy múa trong dòng suy nghĩ mơ hồ, lãng đãng. Áp nhẹ vỏ ốc bên vành tai, anh thầm thì như nói với nàng: Nhỏ. Em thật dễ thương.


Tờ giấy của sáng hôm sau : " Ông. Thức ăn của ông. Hai túi cơm nắm mang đi đường. Tình hình nguy hiểm. Ông PHẢI đi khỏi chỗ nầy nội trong đêm nay. Chập tối, theo con đường phía sau vườn, đi độ một cây số gặp đường đất nhỏ , rẽ tay mặt vào hướng rừng, cặp dọc theo bờ suối, đi thêm hai cây số nữa, quẹo trái, bọc trong vườn nhà dân, tránh trạm gác ngay đầu ngã ba, ông ra quốc lộ, đón chuyến xe đò đầu tiên về thành phố. PHẢI lên xe trước bốn giờ sáng.Thay bộ đồ của anh Hai tôi. Cạo râu. Giữ tiền nầy làm lộ phí. Chúc ông may mắn." 


Ði nội trong đêm nay ? Ái chà, tôi không hề nghĩ đến điều nầy, nếu chưa gặp em. Anh tần ngần nhìn những vật dụng nàng chuẩn bị cho anh trên đường chạy trốn. Nếu mình ở thêm một đêm nữa, tìm cách gặp nàng, đâu có gì nguy hiểm. Tình hình nầy, theo như tin tức báo chí, cũng không có gì đámg sợ lắm. Nếu không gặp nàng hôm nay, biết chừng nào mới có cơ hội, lần nữa ? Thoát được, chắc chắn anh phải tìm đường bỏ xứ, và, dĩ nhiên, khi được tự do, thâm tâm anh tự hứa, sẽ bù đắp cho nàng những gì mà nàng đã làm cho anh ngày hôm nay. Tiếng người lao xao ngoài đầu cổng làm anh giật mình. Vội vàng vơ đám đồ đạc trên bàn, anh nhảy vào nhà trong, nhẹ nhàng áp sát tai vào cửa sổ, nghe ngóng. Qua khe liếp, anh thấy khoảng chừng bốn năm thằng du kích, súng ống đầy đủ, đứng chỉ trỏ, hạch hỏi vây quanh nàng. Anh nhận ra nàng dễ dàng qua bộ đồ bà ba rộng thùng thình của ngày hôm trước. Tình hình nầy quả thật nguy hiểm. Nếu chúng vào khám nhà, anh chẳng biết phải trốn vào đâu. Chỉ còn cách chạy ra phía sau vườn. Anh nhìn quanh, suy nghĩ dò xét tình hình. Và, một lần nữa, cặp mắt chăm chú dồn về phía nàng. Giữa đám người lố nhố, nàng đang hoa tay múa chân chỉ trỏ gì đó hướng sau vườn. Có lúc, nàng đứng sát vào một tên du kích, ra vẻ tình tứ. Nó cười hô hố, vòng tay ôm qua vai nàng. Anh tha thiết, cầu mong nàng quay mặt lại. Quay mặt lại dùm anh. Nhỏ ơi. Và, Anh muốn khóc, sau khi khua tay chỉ hướng nọ một lần nữa, nàng vạch đám du kích, bỏ đi thẳng một mạch về phía con đường lớn. Thật ngoài sức tưởng tượng. Thay vì vào cổng, bọn chúng rẽ qua ngõ hẽm khác, cách nhà nàng một dãy hàng rào dâm bụt, vừa đi vừa chưởi thề inh ỏi. 


Giọng một thằng du kích:

– Mẹ nó. Tìm từ đầu trên xóm dưới mấy ngày, vẫn không tóm được nó. Thằng khốn nạn đó chỉ quanh quẩn đâu đây thôi..

– Nó không chạy xa được đâu. Nó bị thương mà…

Một thằng khác:

– Tao bắt được, là đục chết mẹ nó.

– Bắn bỏ mẹ mấy thằng phản động.


Anh biết rằng. Ít ra, lúc nầy mình cũng đã thoát khỏi sự nguy hiểm một cách tình cờ, hết sức may mắn. Nội trong đêm nay, anh phải rời khỏi chỗ ẩn trốn tạm thời nầy. 


Lòng anh chỉ buồn vì sắp ra đi mà đến gương mặt nàng, anh cũng không hình dung được.

Tiếng nói chuyện vẫn tiếp tục kéo dài trên đường đi:

– Con đó chỉ rẫy thằng Năm ở chỗ nào ?.

Rồi giọng cười khục khặc:

– Coi bộ con nhỏ khoái mày dữ đa. Hôm nay được dịp ôm người đẹp hả. Bảnh tỏn hén.

– Ngó nó cũng đẹp dữ thần hén.

Bất ngờ im lặng. Rồi. Tiếng thằng kia chửi thề :

– Mẹ bà nó. Ðẹp thì cũng đẹp thiệt. Nhưng mặt mũi tao mà cặp bồ với cái thứ vừa câm vừa điếc đó à ? 



Nhật Nguyễn
[email protected] 

nguồn: Tạp Chí Văn Học Văn Nghệ Ngàn Phương, bộ 3, số 39, 06/03/99.

Thảo luận cho bài: "Người Ðàn Bà Lạ Mặt"