Người Mang Máu Ðen

Tác giả:

Nếu không kể hai cái răng cửa gẫy thì hắn được xếp loại trung bình về hình dáng. Ðúng ra vào thời sinh viên hắn cũng đẹp trai và có nhiều người yêu. Nhưng sau chín năm sống đọa đầy, vì tình trạng thiếu dinh dưỡng nên thân thể còm cõi và mặt mũi cũng thay đổi theo. Dĩ nhiên là thua xa hồi đó. Còn hai cái răng là một kỷ niệm không bao giờ quên. Nói theo giọng văn chương lãng mạn thì đó là vết tích thương đau. Nói theo giọng công an, cảnh sát thì đó là tang chứng của một cú đấm. Dù sao với hắn thì hai cái răng cửa cũng không còn nữa.
– Chúng bỏ tao đi một cách không thương tiếc. Mỗi lần ăn cơm, nhai không cẩn thận cơm tràn ra theo lỗ hổng làm bực mình không ít. Trông bẩn và dị hợm. Ban đầu tao hơi xấu hổ, sau quen dần và bây giờ thì coi như pha. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nhớ lại tao vẫn còn cay cú. Một thằng như tao mà bị nốc ao thì đau thật. Nhị đẳng Taekwando, sĩ quan Biệt động quân và là bố của hai đứa con gọi “nó” bằng mẹ bị cho ra rìa một cách rất ư là… Chà!
Hắn chặc lưỡi
– Tao không biết dùng chữ gì cho phải để dành cho “nó”.
Hắn không biết dùng chữ gì để gọi người đàn bà đó là phải. Ðã nhiều lần hắn thú nhận:
– Dù sao tao vẫn còn yêu “nó” bây giờ hay về sau, bất cứ trường hợp nào, ở đâu. Tao biết, tao vẫn còn yêu “nó” như những ngày đầu tiên.
Hắn nói lên điều này bằng giọng thật buồn. Mọi người đều công nhận là đúng – ngay cả tôi cũng hiểu – hắn rất thật khi nhắc đến người đàn bà đó. Con người của hắn đầy tình cảm mâu thuẫn. Với oán thù, tạm gọi thế. Với yêu thương, chắc chắn, hòa lẫn nhau biến hắn thành một thứ đàn ông có “quả tim đầy máu đen” như lời hắn nói.
– Bây giờ sang đến đây, tao hiểu phải làm lại từ đầu, và chuẩn bị là điều cần thiết. Nhưng tao đếch cần. Cho qua tuốt. Học Anh văn? Tốt. Học nghề? Lại càng tốt. Nhưng để làm gì? Ð.M. Bố tao không biết sống đến ngày cải tạo về không? Mẹ tao thì đã mất. Hai đứa con chắc chắn chỉ biết bố qua những câu chửi của mẹ chúng nó. Ngay cả tên tao trong khai sinh của hai đứa trẻ cũng bị thay bằng hai chữ “Vô Danh”… Ð.M! Tao chẳng biết làm cho ai cả. Một thân, một mình, như ở dưới đất chui lên. Không cha, không mẹ, không vợ, không con, không anh em… Những chữ “không” dành riêng cho tao. May mà sang đây gặp mày là bạn cũ, chứ không tao cũng thêm một cái không bạn bè nữa. 


Chúng tôi học cùng một lớp tại trường Võ Tánh Nha Trang. Từ năm đệ thất, hắn đã nổi bật trong đám bạn bè. Tất cả những cái hắn có, hắn làm đều trội hơn đám học sinh miền biển. Là con của một ông Tá, đẹp trai, học giỏi và ăn nói khéo léo. Năm đệ nhị hắn đã trở thành cái… đinh của các cô học trò Nữ Trung Học, Thánh Tâm, Vinh Sơn… và niềm hãnh diện có hắn là bạn cùng lớp đến với chúng tôi một cách ngây thơ, tự nhiên. Cả lớp đệ nhất C hồi đó đều mặc nhiên xem hắn là con chim đầu đàn. Và con chim đầu đàn đã hướng dẫn, chúng tôi nhiều mặt: học hành, văn nghệ, thể thao, báo chí và ngay cả tình yêu nữa. Những lời hắn nói ra bọn tôi đều cho là đúng. Làm sao mà sai được khi chung quanh hắn đầy những người con gái đẹp nhưng hắn coi như không có.
– Tao không để ý đứa nào hết.Một nghệ sĩ được rất nhiều người yêu thích có quyền trả lễ tất cả. Nhưng con tim chỉ yêu một người thôi. Người thiếu nữ được nghệ sĩ yêu sẽ trở thành một động lực, một nguồn sáng tạo trong đời. Thành công từ đó. Người họa sĩ yêu sẽ trở thành hình tượng bất diệt trong hội họa. Người thi sĩ yêu sẽ trở thành nàng thơ của thi ca. Người văn sĩ yêu sẽ… Hắn lôi ra gần chục thứ sĩ với hình tượng nghệ thuật và kết luận bằng câu nói. Tao phải chọn lựa để thành công, không thể yêu bừa bãi được. Tụi mày hiểu chưa? 
Dĩ nhiên là chúng tôi hiểu. Và sự cảm phục tăng thêm. Nhìn thần tượng để ước ao. Song song với việc học hỏi nơi hắn, cảm phục hắn, chúng tôi chờ xem hình ảnh người con gái được hắn chọn lựa. Mãi đến lúc xong tú tài tôi mới gặp. 
Biệt thự là tên con đường nhỏ dẫn từ biển vào phi trường. Yên tĩnh và đẹp với những ngôi nhà sang trọng nằm rải rác hai bên. Cà phê Mộng là một trong những ngôi nhà đó, tự cái tên cũng đủ hấp dẫn đám thanh niên vừa lớn. Lại nữa, con gái của ông chủ quán là Ðoan Trang. Trần thị Ðoan Trang. Người con gái xinh nhất trường Nữ Trung Học. Ðã nhiều cây si trồng tại ca phê Mộng, nhưng chưa ai được để ý. Bởi vậy quán càng đông và trở thành một điạ chỉ phải nhớ của Nha Trang năm 1968.
Hắn hẹn tôi tại đó vào một buổi tối. Ngồi với nhau ở một bàn nhỏ trong khoảng vườn trước sân. Trái với lệ thường, hắn không nói cười ầm ĩ, hoặc đùa giỡn. Ngồi im, nhìn ly cà phê đang nhỏ từng giọt. Dù thấy hắn thật lạ lùng nhưng tôi vẫn không hỏi. Cứ thế hai chúng tôi im lặng nghe nhạc. Mãi cho đến lúc lọc xong ly ca phê, rất thong thả hắn khuấy đường, đưa lên môi. Uống một ngụm.
– Có bao giờ mày nghĩ tao đã có người yêu không?
– Mày?
– Phải.
– Hẳn là một cô gái tuyệt lắm?
Hắn ngần ngừ trước câu hỏi của tôi, nét mặt hiện rõ vẻ bối rối. Tôi nhận thấy hôm nay thằng bạn mình có vẻ khiêm nhường hơn.
– Không tuyệt lắm đâu.!!!
– Một người con gái bình thường… có lẽ mày đã gặp.
– Ðã gặp? Ở đâu?
– Ngay tại đây.
Hắn nói nhanh. Trong trí tôi hiện lên hình ảnh con gái ông chủ quán cà phê Mộng. Phải thế. Ðoan Trang và hắn thật xứng với nhau. Tôi thấy mình thông minh hơn, và nói vội.
– Trang. Ðoan Trang ở đây phải không?
– Không phải Trang.
Hắn phủ nhận. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng lại đùa.
– Chứ còn ai đây? Khônglý má Trang hay mấy con nhỏ bồi bàn.
– Tao nói mày đừng cười nghe…
Hắn trả lời yếu xìu. Tôi thấy hắn thật lạ. Thằng này yêu ai? Yêu ai mà phải nói giọng phi thần tượng thế này? Tôi vỗ nhẹ lên vai hắn, nói bằng tất cả thân tình. 
– Tao hứa sẽ không cười. Luôn luôn tao tôn trọng mày.
Hắn cười thật hiền. Chậm rãi đưa tay chỉ về phía sau nhà, nơi toán người hầu bàn ngồi ở dẫy ghế dài. Họ gồm hai người đàn bà đứng tuổi và một cô gái tóc dài.
– Nàng đó.
Hắn chỉ người con gái. Gọi một cái tên. Cô hầu bàn ngước lên, cười ngại ngùng. Dù ánh đèn rất mờ, tôi vẫn thấy cô ta thật tầm thường, như sợ tôi không tin vào những điều mình vừa thấy, hắn gọi cô ta đến và quay sang tôi:
– Ðây là người yêu của tôi.
Câu nói thật âu yếm và trang trọng với tiếng “tôi” do hắn xưng cho tôi hiểu đó là sự thật. 


– Như mày biết tao yêu “nó” thật tình. “Nó” đâu đẹp, tầm thường nữa là khác. Gia đình lại nghèo, bố “nó” mất tích, mẹ bán mía ghim, học hành lem nhem. Thế mà tao yêu. Và bây giờ tao vẫn còn yêu “nó” … ÐM! Kỳ thật.
Sau khi vượt qua những cản ngăn của gia đình, tụi tao lấy nhau. Không đám hỏi. Không đám cưới. Ðưa nhau về Sàigòn bọn tao sống chật vật vì ông bà cụ tao đăng báo từ con. Hồi đó mày ở Ðàlạt nên đâu biết. Tụi tao rất cực. Tao cố học, “nó” nối nghiệp mẹ, đi bán mía ghim để nuôi tao ăn học. Nhưng cuối cùng vì xấu hổ, vì nỗi cơ cực tao bỏ ngang. Nhảy vào Thủ Ðức, ra trường về Biệt động quân và cuộc sống tuy có khá hơn nhưng lại xa cách. Mày phải biết cả năm trời mới được mươi ngày phép, chưa thỏa nỗi nhớ lại phải xách balô hát bài “Trấn thủ lưu đồn”tiếp. Nghĩ cũng tội. “Nó” thương tao hết mình. Nhịn ăn nhịn mặc lo cho tao, cho hai thằng nhóc… vậy mà đứt phim. Tao đi cải tạo, mọi sự thay đổi. Thay đổi tất cả, từ xã hội, từ con người đàn bà đó, từ tình yêu…
Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê nằm sát con đường chính của đảo. Ánh đèn mờ nhạt hắt vào gương mặt hắn những vệt tối, như đang đứng sau một dãy song sắt. Tiếng hát Thái Thanh từ chiếc loa đối diện lắng trong nỗi buồn hòa lẫn vào giọng nói của hắn.
– Tao trở về xóm cũ sau thời gian cải tạo. Má nó! Phải gọi là sau thời gian đi tù mới đúng. Căn nhà cũ nằm ởmiệt Bà quẹo đã đổi chủ. Ðiều này tao đã chuẩn bị sẵn trong đầu khi còn ở tù. Nhưng mày ơi, dù chuẩn bị sẵn nhưng lúc đứng trước căn nhà mình đã ở như một người khách lạ làm sao không đau lòng cho được. Cộng thêm nỗi hoang mang là vợ con biết đâu mà tìm làm tao muốn chết tại chỗ. Sau hỏi thăm hàng xóm, tao được biết “nó” đã đem hai thằng nhóc lên đường Công lý, khúc gần dinh Ðộc lập ở. Tao xách gói đến thẳng nơi đó. Ð.M. Mày dư biết đường Công lý khúc đó toàn dân nhà giàu, có địa vị ở. Bởi vậy trên đường đi tao rất hoang mang. Tại sao “nó” có đủ khả năng dọn lên đó? Xuống xe lam tao đi dọc theo hàng nhà số lẻ. Dù địa chỉ là một căn nhà mang số chẵn. Nửa lo, nửa cảm động, ý nghĩ quấn lấy chân làm tao run mày ạ. Cuối cùng tao tìm thấy số nhà.
Ðó là một biệt thự nằm sâu trong khoảng vườn đầy hoa, cánh cửa cổng khép kín. Tao đứng tần ngần nhìn sang bên kia đường rất lâu. Không biết có đúng không? mặc cảm của một con người sống lại từ đáy cùng cực, đọa đầy làm tao ngại ngùng không dám sang đường để gọi cửa. Nhìn tấm bảng vẽ hình cái đầu chó le lưỡi. Nhìn con đường trải sỏi dẫn sâu vào dẫy lan can cấu trúc cầu kỳ. Nhìn những khóm hoa quý được trồng tỉa kỹ lưỡng hai bên. Ðột nhiên tao cảm thấy mình lầm. Không thể nào vợ con mình có thể ở đây được. Giữa thế kỷ này làm gì có bà tiên hạnh phúc? 
Cứ thế tao đứng yên. Sang gọi cửa? Không dám. Bỏ đi? Lại càng không dám. “Gia đình là nơi chốn cuối cùng để trở về.” Tao chẳng biết đọc câu này ở đâu nhưng sao thấy đúng quá… Tao tần ngần mãi cho đến lúc cánh cửa ngôi biệt thự bật mở. Hai thằng nhóc tình cờ chạy ra sân chơi. Dù xa cách sáu năm, ngày đi thằng lớn mới bốn tuổi, thằng bé mới hai tuổi nhưng tao vẫn nhận ra ngay. Ðúng là tình máu mủ mày ạ! Tao muốn khóc lúc đó… Ôm gói đồ tao chạy vụt qua đường. Ðến sát cánh cửa cổng, tao thò tay qua song sắt vẫy hai thằng nhỏ và gọi tên tụi nó rối rít.
Hai thằng nhóc đang chơi khựng lại. Thằng lớn kéo tay em như muốn che chở. Ánh mắt tụi nó đầy vẻ xa lạ. Cúi nhìn bộ quần áo rách rưới, bẩn thỉu đang mặc trên người tao bật khóc. Ð.M! Bấy giờ tao chợt hiểu mình đã mất tất cả. Nhưng trong tao vẫn có sự thôi thúc phải gặp được “nó”. Nói cho cùng bấy giờ tao chỉ cảm thấy chứ chưa biết sự thật. Tao lại gọi tên hai thằng nhóc thêm lần nữa. Lần này tao có xưng bố hẳn hòi và nói vội vàng bảo tụi nó gọi mẹ ra… Nhưng mày ơi! Hai thằng nhóc quay lại, ánh mắt từ xa lạ chuyển sang sợ hãi, rồi chạy ù vào nhà. Tao hét lên, réo tên tụi nó như thằng điên. Sau cùng như mê đi, tao trèo qua cửa cổng.
Bọn bộ đội đi tuần tưởng tao là thằng ăn cắp, nện tao một trận cẩn thận. Tỉnh dậy tao thấy mình nằm trong bệnh viện. Người ê ẩm và hai cái răng cửa đã đồng ca bài nghìn trùng xa cách. Cho đến lúc đó tao vẫn chưa biết tại sao lại được đưa vào bệnh viện.
Buông một tiếng thở dài, hắn đưa điếu thuốc lên môi và bật quẹt. Ánh lửa đỏ từ đầu que diêm loé sáng, những nếp nhăn từ trán trễ xuống gần sát khoảng lông mày rậm hằn lên. Tôi thấy trong mắt hắn những tia máu đỏ rực.
– Mày biết ai nuôi tao lúc bịnh không? Ðó là bà ngoại của bầy trẻ. Qua lời bà kể lại, chồng bà đi tập kết về. Biết được tao đang cải tạo, ông đón cả gia đình về ở chung. Trong khoảng thời gian đầu ông ta không tỏ thái độ gì ngoài những tình cảm dư thừa cho gia đình sau công việc cách mạng. Dần dà ông ta khuyên “nó” nên lấy chồng… Ban đầu “nó” không chịu. Sau ông ta ép uổng và cuối cùng thì… Ð.M. 
Dụi mạnh điếu thuốc đang cháy dở xuống chiếc gạt tàn. Hắn nhìn tôi đăm đăm. Rồi đưa ngón trỏ bàn tay phải chỉ vào ngực trái.
– Bây giờ tim tao chứa đầy máu đen. Mày đừng khuyên tao gì hết. Với tao cuộc sống chỉ là ăn, ngủ, chơi bời… ít nhất phải một thời gian dài mới trở thành người bình thường được. Tao chỉ thích một mình. Mày đừng giận, dù là bạn bè cũ, dù chỉ còn mình mày ở đây nhưng tao muốn sống một mình. Mày để cho tao yên và tụi mình đừng gặp nhau được không? 
Sau lần ngồi với nhau ở quán cà phê Nhớ, tôi vào khóa Mỹ. Ba tháng trôi nhanh, tôi dọn vào Galang hai, khoảng cách giữa hai trại làm tôi ngại về Galang một. Việc không gặp hắn tự nhiên tôi làm đúng theo yêu cầu của hắn. Dù đôi lần có nhớ đến thằng bạn tài hoa của những năm trung học, quả tình tôi cũng muốn ra thăm. Nhưng cuối cùng đành thôi.



Tôi đi định cư vào một sáng thứ hai. Chiều chủ nhật cuối cùng ở Galang, tình cờ đọc thấy trong ban biên tập của tờ bán nguyệt san tại đảo có tên hắn. Ngạc nhiên tôi tìm bài hắn viết. Ðó là một bài thơ. A! Thằng này vẫn tài hoa. Với lối diễn đạt thật tự nhiên, hắn đã thành công khi nhằc đến một mẫu người tỵ nạn. Bài thơ gọn, sắc nét đã phác họa được cái đẹp của những thanh niên đang làm công tác thiện nguyện. Ðọc xong bài thơ tôi ngồi thừ người ra. Gần một năm ở đảo, tôi đã không làm gì cả. Với trình độ đại học, tôi có thể đi dạy, đi làm ở một phòng ban nào đó của trại một cách thoải mái. Tôi chợt thấy mình đã bỏ quên một điều hiển nhiên: mình là một thành viên của cộng đồng. 
Vừa đến đảo, tôi từ chối lời mời của vài người bạn đang làm công tác thiện nguyện bằng lý do gượng gạo: sau cuộc hành trình tôi cần phải nghỉ ngơi. Rồi nỗi nhớ gia đình, cảnh sống tại trại làm tôi né tránh mọi việc. Những người bạn thỉnh thoảng vẫn nhắc, tôi ậm ừ cho xong. Khi được phái đoàn Mỹ nhận tôi lại có lý do mạnh hơn: tôi sắp sửa vào khóa học và đang chuẩn bị. Rồi nhập khóa. Tôi học lớp D. Ðúng như dự tính của tôi. Ngày hai buổi chỉ cần cắp sách đi học những điều mình đã học cách đây mười mấy năm. Thoải mái sống và thoải mái dưỡng sức. Tội vạ gì phải lấy điểm cao trong kỳ thi để phải làm thông dịch. Chỉ vượt qua khóa học 4 tháng rưỡi là lớp A và B là đủ. Lớp C hay D cũng thế, cũng ba tháng rong chơi chờ ngày qua Mỹ sẽ tính. C.O hay teacher có giá trị gì khi sang Mỹ? Tháng ngày ở đảo là tháng ngày tạm bợ. Danh giá gì mà đeo đá vào thân? “Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn” mà lỵ! Cứ tà tà ba tháng rồi cũng đi… và ngày mai tôi đi, tất cả đúng như dự tính. Nhưng hôm nay với bài thơ của hắn tôi cảm thấy khó chịu.
Tôi ngồi yên, tờ báo để trước mặt. Màu mực đen từ hàng chữ tên hắn, nằm riêng trong khoảng trống phía dưới bài thơ như lòng đen của một con mắt đang nhìn tôi chế riễu.
Tòa soạn tờ báo nằm bên cạnh phòng thính thị của một trung tâm sinh ngữ tại đảo. Trong phòng họp, một dãy bàn trơ trọi, kéo dài từ đầu phòng. Cuối bàn, phía sau là một tấm bảng đen với hàng chữ viết vội “Anh em biên tập hãy cố gắng chạy đua với thời gian để hoàn tất số báo 105 đúng thời hạn, đồng bào đang chờ”. Cả toà soạn chỉ có một người thư ký đang ngồi đánh máy. Tất cả cho ta ý nghĩa thật mỉa mai. Sự cô đơn, nghèo nàn đến tội nghiệp của cơ quan đại diện cho tiếng nói của những người tỵ nạn. Khung cảnh, dãy bàn, hàng chữ, người thư ký.
Tôi bước vào, đằng hắng một tiếng, người thư ký đang ngồi đánh máy giật mình nhìn lên.
– Chào ông. Ông cần gì? 
Tôi nói tên hắn trong một câu hỏi thăm. Người thư ký gật đầu.
– A! Ông ta buổi sáng dạy học thêm ở khối văn hóa, phổ thông.
Câu trả lời của người thư ký làm tôi thật sự ngạc nhiên. Thằng bạn tôi đã thay đổi đến mức đó sao? Từ một con người chán chường cuộc sống, nay biến thành một người đầy nhiệt tâm với cộng đồng. Ðộng lực nào? Có phải tình yêu không? Típ người như thằng này chỉ có tình yêu mới dạy nó nên người được.
– Cám ơn và chào ông.
– Vâng! chào ông.
Người thư ký lại cúi xuống chiếc máy chữ. Tôi bước ra, không gian bên ngòai thoáng mát, nắng rực trong những hạt sương trên cỏ làm lóa mắt. Sự cách biệt của hai không gian vừa nhận được trái ngược với nhau. Cái gò bó của “những người đang làm việc” và cái thoải mái của “những người như tôi” trong cùng hoàn cảnh thật kỳ cục. Trong tôi, chợt có điều gì bất ổn dấy lên.
Theo con đường đất vắt ngang ngọn đồi. Tôi đến khu C.V.C. là trung tâm văn hóa của đảo. Những dãy barrack được dựng lên hai bên đường để làm trường học. Ðủ loại nghề, đủ loại trình độ. Tôi vòng qua từng lớp vẫn không thấy hắn. Lại hỏi thăm và sau cùng đến dãy dạy Việt ngữ nằm lưng chừng con dốc hướng về chợ. Lèo tèo dăm barrack nằm đối mặt nhau nhưng khung cảnh vui hơn vì tiếng ồn ào của đám học sinh nhỏ.
Lớp học là một barrack được ngăn đôi. Cửa hướng về phía văn phòng cảnh sát Nam Dương. Từ xa tôi đã nghe thấy tiếng hắn vang lên. Hắn đang dạy đám học trò nhỏ một bài Việt sử. Tôi vừa đến cửa lớp hắn đã thấy, giơ tay chào, ngừng giảng bài và bước ra:
– Mày đi tìm tao hả? 
– Ðến để xem con người mày và từ giã.
– Ði định cư? Mau quá nhỉ? 
– Thế nào? Ðộng lực nào đã làm mày thay được giòng máu đang đen thành đỏ? 
– Một lá thư từ Việt Nam, Cao ủy, Cảnh sát Nam Dương, Cộng đồng.
– Một lá thư từ Việt Nam? 
– Phải? Sự thật không như tao hằng nghĩ. Người chủ tàu đã nói cho tao biết: Ông ta được mẹ của vợ tao – hai tiếng vợ tao được hắn nói đến rất âu yếm, hệt như lần giới thiệu về người đàn bà này cách đây trên mười năm tại cà phê Mộng – trả tiền phần tao đi, chứ không phải mướn tao đổ dầu trong chuyến đi. Một việc làm vô lý mà tao vẫn tưởng người chủ tàu ngu khi bỏ ra hai cây để mướn tao làm.
– Thế thì có dính dấp gì đến một lá thư tại Việt Nam? Mày đâu còn ai để liên lạc?
– Từ từ đã. Như mày và tao vẫn tưởng bở là thằng chủ tàu ngu và có lòng tốt muốn giúp tao lúc hoạn nạn. Nhưng sự thật là mình ngu, bà mẹ của vợ tao đã dàn xếp với hắn để tao khỏi tự ái. Và số tiền bà ta trả cho gia đình hắn tại Việt Nam chính là của vợ tao. Mày nghe rõ chưa? Ðó là tiền của vợ tao.
Ðiều hắn nói thật bất ngờ, khiến tôi là người ngoại cuộc cũng phải bàng hoàng. Thì ra người đàn bà đó vẫn yêu hắn và giúp hắn đi là điều giải quyết tốt nhất. Quay về chung sống với nhau? Không thể được. Giữa hoàn cảnh đau xót đó, trên cương vị mỗi người trong xã hội không thể làm được. Nhìn hắn sống lây lất, đớn hèn tận đáy xã hội? Lại càng không được. Phải để hắn đi… cầm bằng như đã chết.
– Trong lá thư viết cho người chủ tàu, mẹ của vợ tao đã cho biết tất cả sự thật. Kèm theo là một đoạn ngắn của vợ tao, được viết trên mảnh giấy nhỏ. Dĩ nhiên là những lời xin lỗi, dù rất ngắn nhưng tao vẫn thấy vết lem nhem của một giọt nước mắt trên lá thư… nàng vẫn còn yêu tao mày ạ! 
Hắn nói câu cuối cùng thật nhỏ, giọng dịu lại.
– Từ đó mày thay đổi nếp sống? 
– Chưa. Tao chuyển sang trạng thái ân hận vì đã lầm. Lại mất một khoảng thời gian ngồi chết dí ở quán cà phê, ôm nỗi buồn.
– !!!
– Ðầu tiên là tao thấy tao xa lạ với cuộc sống chung quanh. Rồi một chủ nhật đang ngồi ở quán ca phê Nhớ, tao thấy thiên hạ ùn ùn kéo nhau về phía Ban Ðại Diện. Hỏi ra thì họ đang đi cho máu một đồng bào đang trong tình trạng cấp cứu. Tao cười và dửng dưng.
– Kể rõ ràng, tao chưa hiểu.
– Ðộ hơn tiếng sau tao vẫn còn ngồi đó, một toán người kéo vào uống nước. Qua câu chuyện của họ tao biết bệnh nhân mang một loại máu hiếm. Chẳng ai có được, sau cùng một phụ nữ có thai tình nguyện cho. Chị ta là người duy nhất tại đó có cùng loại máu đó. Duy nhất trừ tao. Cho máu xong chị ngất xỉu. Ðám thanh niên còn nói nhiều về chị ta, nhưng tao không còn nghe rõ nữa. Lúc đó tao cảm thấy mình thật xa lạ với chính mình. Tao thấy tao thật xa lạ với chính tao mày hiểu chưa? Bất giác tao nhìn chung quanh. Những người ngoại quốc họ có ăn nhậu gì với đám tỵ nạn này đâu mà họ vẫn đến đây. Dù bằng danh nghĩa nào, hình thức nào cũng thế. Họ là những con người. Những con người mang dòng máu đỏ trong tim… Tao trở về trong sự hổ thẹn. Mình đã quên, đã cố tình quên mình để tự lừa dối, tự bào chữa cho tính ưa nhàn rỗi, hưởng thụ. Ðã che đậy bằng cái vỏ buồn đau, cái mặt nạ nhớ thương và tự an ủi rằng không có mình thì khối người làm.
Tôi cảm thấy nóng bừng mặt. Hắn đã nhắc đến điều làm tôi khó chịu từ lúc đọc được bài thơ của hắn.
– Ðiều tao nói với mày chỉ đúng một nửa. Tao mang dòng máu đen trong tim. Ðúng. Nhưng không phải vì chuỗi ngày đau khổ tại Việt Nam mà chính vì tao từ chối cuộc sống. Nói rõ hơn là tự tao bi thảm hóa cuộc đời. Cuộc đời vẫn không bỏ tao. Tao đi làm báo, dạy học, trong khả năng để được góp phần vào cuộc sống. Trong đó có cả tao… thế đấy, dòng máu trong tim của mình đỏ hay đen không phải vì quá khứ mà vì hiện tại.
– Như bài thơ mày đã viết? 
– Ðúng. Nhưng không phải tao viết cho tao. Tao chỉ ghi lại ý nghĩ của cộng đồng, con người của cộng đồng với tư cách một người chứng.
– Trong đó có mày, có tao? 
– Có tất cả. Cái mốc của hai màu đen đỏ trong tim chúng ta là ở đó. Giữa cái của ta và cái của chúng ta. Thôi mày đi, có lẽ cuối tháng này tao nhập khóa. Chúc khoẻ và bình yên. Sẽ gặp nhau tại Mỹ.
Ngang qua quán cà phê Thu trước mặt Play Ground, tiếng nhạc từ trong vọng ra. Một bản tình ca quen thuộc của thời cũ. Hình ảnh những người thanh niên Việt Nam đi không hẹn ngày về thoáng hiện. Tôi dừng lại, đặt chiếc xách tay xuống vệ đường. Vô tình nhìn xuống bàn tay phải. Dưới ánh nắng của buổi sáng Nam Dương, tôi nhìn thấy những sợi gân máu trên mu bàn tay mình đột nhiên khô queo và màu đen hiện rõ lên trên, trông kinh tởm. Như hình một xương quạt nan rách nát.
Tôi đã mang dòng máu đen trong tim hơn chín tháng nay. 


Thảo luận cho bài: "Người Mang Máu Ðen"