Người Mất Tích

Tác giả:

Thưa ông, 


Trước hết xin ông tha lỗi cho lá thư được viết từ một người không quen biết. Tôi xin tự giới thiệu tên tôi là Hạ hiện ở tiểu bang X. Hôm ấy, tình cờ tôi được một người bạn mang đến một tạp chí, và nói với tôi: Có tên chồng bà được nhắc trong bài thơ này. Hãy đọc đi… Thú thật, từ trước đến nay tôi không hề quan tâm đến thơ văn, cũng ít khi đọc báo chí, nhưng rõ ràng, chiều hôm ấy, mấy câu thơ của ông đã làm tôi phải bàng hoàng. Cả một quá khứ từ lâu ngỡ như bị dấu kín, chôn vùi trong tận đáy lòng bỗng nhiên sống lại, khiến tôi nghĩ là phải gọi ông, để hỏi ông sự thật về bài thơ tựa là Trung đội, trong đó có một đoạn như sau: 

Đồng đội ta những người đã chết 
Những Vọng, Nai, Nga, Bình Lò Heo 
Những Chấn, Hảo, Sơn, Tài Xóc Dĩa 
Bầy diều hâu bỏ núi khóc òa 


Nước mắt tôi chảy ràn rụa. Tôi đã ngồi bất động trong tiệm. Lúc ấy tôi muốn được gọi ông ngay lập tức, để hỏi rõ về những tên tuổi mà ông đã viết trong bài thơ. Có phải những người mà ông nhắc là những người đã chết thật sự, hay chỉ là những tên hư cấu. Có phải anh ấy đã chết thật sự rồi sao? Tôi không tin. Những Chấn, Hảo, Sơn, Tài Xóc Dĩa… Bốn tên người đồng đội mà ông đã nhắc lại trong bài thơ, có hai người tôi biết. Biết rất rõ. Hảo và Tài Xóc Dĩa. Hảo là tên chồng tôi. Và Tài Xóc Dĩa là tên người bạn thân của anh ấy. 

Thưa ông, 

Tôi đã gọi toà báo để nhờ họ cho số điện thoại của ông. Tôi cần gấp câu trả lời của ông. Tôi phải thú thật. Tôi không tin ở câu đầu trong đoạn thơ: Đồng đội ta những người đã chết… Tôi không tin anh Hảo chết. Mãi đến giờ phút này tôi vẫn chưa nhận bất cứ một cái gì để chứng tỏ ảnh chết cả. Cấp trên nói ảnh bị mất tích, phi đoàn cũng bảo với tôi là ảnh bị mất tích, bạn bè cũng nói như vậy. Mà mất tích thì còn hy vọng có ngày về… Nếu không một ngày, thì một tháng. Nếu không một tháng, thì một năm. Nếu không một năm thì một thế kỷ. Chết khác với mất tích. Chết có nghĩa là hết. Còn mất tích là còn niềm tin, dù niềm tin ấy le lói đi nữa. Có thể anh bị bắt khi tàu anh bị bắn và anh nhảy dù xuống vùng địch. Có thể anh lạc lõng trong rừng già như trong câu chuyện những người lính Đồng Minh lạc trong rừng già Á châu vào thời kỳ đệ nhị thế chiến. Có thể anh đang có mặt tại xứ Mỹ này. Vâng, một người bạn tôi đã cho tôi biết là có một người tên Hảo cũng ở trong binh chủng Không quân hiện có mặt tại California… Tôi tin anh còn sống. Thưa ông tác giả bài thơ Trung Đội, ông hãy cho tôi biết anh Hảo còn sống hay đã chết. Và ông có quen biết với nhà tôi và anh Tài Xóc Dĩa không. Cho tôi biết càng sớm càng tốt để tôi yên tâm. Nếu quả thực, anh không bao giờ về nữa thì tôi cũng đành coi là số phận của bất cứ người đàn bà Việt Nam nào trong thời chiến. Và tôi sẽ coi cái ngày anh ấy mất tích là ngày giỗ để tôi còn th¡p nhang cầu nguyện, để linh hồn của ảnh được siêu thoát… 

Thưa ông, 

Tôi đang viết thư này mà nước mắt tôi chảy dầm dề cả trang giấy. Mong ông tha lỗi nếu ông không đọc được những lời tôi viết. Tôi cứ thấy lại hình ảnh của Hảo trong buổi cuối cùng trước khi Hảo từ giã tôi lên Pleiku. Hảo đã nói với tôi những điều như thể báo trước một điềm gỡ. " Anh hiểu em yêu anh. Nhưng anh không thể bắt em phải sống với một người chồng như anh trong khi em vẫn còn son trẻ." Hảo đã nói với tôi bao lần như thế. Tôi giận và khóc với Hảo: " Bộ anh xem em là một người đàn bà hư thân mất nết hay sao." " Không, anh không bao giờ nghĩ như thế. Nhưng anh không can đảm nhìn em phải hy sinh đời em vì anh." 

Tôi hiểu Hảo cũng vì thương tôi. Nhưng tôi giận Hảo bởi vì Hảo đã không hiểu tình yêu của tôi cho anh là to lớn như thế nào. Thưa ông, đến giờ phút này tôi phải thú thật, Hảo đã không còn là một người đàn ông theo đúng nghĩa của hai chữ đàn ông nữa. Hảo đã mất khả năng tình dục trong một một phi vụ. Tàu anh bị bắn. Và miểng thép oan nghiệt đã làm teo bộ phận sinh dục của ảnh. Biến cố này xảy ra trong thời gian chúng tôi tôi yêu nhau, trước ngày tôi chính thức làm vợ của Hảo. Hảo cũng thổ lộ điều này trước khi Hảo ngỏ ý muốn kết hôn. Lúc ấy tôi mới hai mươi tuổi. Tôi yêu Hảo, lại càng yêu Hảo vô cùng tận khi hiểu rằng Hảo đã bị mất mát một phần quan trọng nhất của con người. Không phải lỗi của Hảo. Hảo vô tội. Hảo đáng được an ủi hơn ai hết, nâng đỡ hơn ai hết. Không thể để một người đang ở trong tuổi thanh niên phải sống trong nỗi đau thương của một con mãnh hổ tật nguyền. Phải cứu Hảo. Phải mang lại niềm tin cho Hảo. Tôi đã nói trăm ngàn lần, anh Hảo ơi, em vẫn bên anh, em sẽ theo anh bất cứ chân trời góc biển nào. Sẽ nấu cơm cho anh, sẽ chong đèn thức đợi anh về, sẽ canh anh ngủ, hát cho anh nghe, kể bao nhiêu giấc mơ thật đẹp cho anh khỏi buồn. Tình yêu đâu cần đóng khung trong hai chữ xác thịt. Hảo hiểu không. Như tình yêu của Chúa và Phật đối với loài người. Như tình yêu của những người đã hy sinh đời mình cho nhân loại trong các trại cùi, hay cô nhi viện. Như tình yêu của một người mẹ hiền. Em sẽ vì tình yêu để đến bên anh, bất chấp tất cả. 

Vâng. Tôi đã bất chấp gia đình ngăn cản, bất chấp ba tôi từ tôi, bất chấp mẹ tôi vì thương tôi phải nhuốm bệnh. Và bất chấp những lời khuyên lơn của bạn bè. Họ đều đúng. Tôi hiểu vậy. Bởi vì tôi là đàn bà, có nghĩa là tôi phải được quyền làm mẹ. Tôi không thể nhìn đời tôi khô rụi không sản sinh. Nhưng tôi không thể bỏ Hảo. Bỏ thì quá tàn nhẫn. Chúng tôi đã yêu nhau, đã từng thề nguyền mãi mãi sống bên nhau mà. Bởi vậy, tôi chỉ còn một cách là bỏ nhà ra đi. Tôi đành cam tâm làm một đứa con gái hư thân mất nết. 

Vì thế tôi bằng lòng làm vợ Hảo. Lòng tôi hân hoan như ngập tràn những giọt nắng hạnh phúc, đến nỗi tôi phải khóc. Môi Hảo nhấp lấy giọt nước mắt của tôi. Những ngón tay của Hảo chùi lấy giòng lệ lăn trên má tôi. 

" Tại sao em lại khóc?" Tôi cười, dấu nỗi yếu mềm. " Em hạnh phúc lắm, Hảo à." 

Thưa ông, 

Tôi đã cố giữ Hảo. Tôi ngỡ tình yêu của tôi sẽ giúp Hảo quên đi quá khứ. Nhưng rõ ràng tôi đã bất lực. Đàn ông thanh niên có những điều thật lạ kỳ. Họ chẳng bao giờ bằng lòng với hiện tại. Họ cũng chẳng bao giờ muốn bình an. Họ cứ bị những điều gì đó thúc dục, quyến rũ. Với Hảo, đó là tiếng gọi của con tàu xưa, của gió lồng lộng, của mây trời, của tiếng ì ầm của động cơ phản lực, của cánh quạt, của tiếng nổ, của trái phá… Hảo cứ nhắc hoài những lần bay, dưới thấp là rừng xanh, và xung quanh là một không gian vô tận. Hảo cũng kể lại những trái hoả ti­n tầm nhiệt bắn lên từ dưới đất, và con tàu đã nhiều lần trúng đạn lỗ chỗ đầy cả thân trong mỗi phi vụ. Và Hảo cũng nhắc những người bạn của anh, trong đó có anh Tài, mà anh em phi đoàn đặt biệt danh là Tài Sóc Diã bởi vì anh ta là một danh tài cờ bạc. Chính vì cứu người bạn thân này, mà tàu Hảo đã bị đạn phòng không, và một miểng đạn đã bắn ngay vào chỗ bộ phận sinh dục. Hảo cứ nhắc đến Tài, cả người bị xẽo thịt phơi nắng giữa bãi rừng lau. Tôi bảo Hảo đừng kể nữa. Tôi không muốn nghe mà cũng chẳng bận tâm. Tôi nói với Hảo là anh đã hy sinh rồi. Ngay cả cái vật quí báu nhất để truyền giống anh cũng đã hy sinh, thì giờ đây, anh phải được quyền ngồi lại đằng sau. Anh đã yêu nước quá đủ. Tôi la, tôi khóc. Tôi đấm vào người anh, khi anh ngồi yên lặng như pho tượng, hay đứng bất động bên khung cửa sổ trong trại gia binh để nhìn những con tàu đáp xuống hay cất cánh. Trời ơi phải chi chúng tôi có một đứa con. Ít ra đứa con mới làm mềm lòng anh xuống, chùn bước chân anh lại, kiềm chế con tim và tiếng dục lên đường đến một cõi nào mà ai cũng phải hãi sợ. 

Tôi nói trong giận dữ: Anh ích kỷ lắm. Anh chỉ biết riêng cho bản thân anh. Anh không cần biết những người ở lại. Như cha mẹ anh, và như vợ anh. Anh đâu có hiểu nỗi lo âu đau khổ của họ. Anh cứ viện dẫn mấy chữ tổ quốc, đồng đội, bảo vệ quê hương để lao vào cõi chết. Nếu kể đến hai chữ hy sinh, thì chính tôi là người hy sinh hơn ai hết. Tôi hy sinh cả một thời thanh xuân. Tôi hy sinh cả vai trò được làm mẹ. Tôi đã bị cha mẹ, gia đình từ bỏ. Như vậy ai hy sinh hơn ai hết. Cũng vì anh. Để cuối cùng tôi nhận được gì? 

Tôi nói hết, như trút hết tất cả nỗi lòng của tôi. 

Nhưng Hảo trả lời như anh đã quyết định từ lâu lắm: 

" Chính vì thế mà anh muốn em đừng hy sinh vì anh nữa. Em cần phải có con. Em cần phải được làm mẹ. Em cần phải hưởng cái hạnh phúc mà bất cứ một người phụ nữ nào đều nhận từ Thượng Đế. Anh hiểu em yêu anh, và chưa bao giờ anh lại yêu em như lúc này. Nhưng anh không thể nhìn em vì anh…" 

Tôi hét lên: 

" Nếu anh muốn thế, tôi cũng sẵn sàng chìu lòng anh." 

Nói xong, tôi thu dọn đồ đạc trở về quê. Tôi đã trả tự do lại cho ảnh. 

Phải, tôi đã bất lực. Anh lại thêm một lần tình nguyện trở lại phi đội ở cao nguyên. Cái tật nguyền mất mát dường như càng làm anh táo bạo, hung dữ hơn. Anh lăn xả trên các chiến trường dữ dội nhất. Anh lái thế cho bạn bè mỗi khi họ cần. Những phi vụ hiểm nguy nhất anh đều tình nguyện. Thưa ông, tôi không phải là một chuyên gia về tâm lý học, nhưng tôi biết một điều là tất cả bắt nguồn từ một hậu quả. Đó là cái hậu quả của chiến tranh. Nó bắt anh phải lao tới, điên rồ lao tới để tìm nỗi quên. Và cũng để trả thù. Cho người bạn đã bị xẽo từng lát thịt, phơi thây dưới đất. 


*** 
***


Không ngờ lần gặp gỡ ấy là lần gặp gỡ cuối cùng. Con tàu của Hảo được ghi nhận là mất tích sau một phi vụ yểm trợ một lực lượng bộ binh bị vây khổn tại vùng Kontum vào khoảng đầu năm 1975. Phi đoàn cho tin và dành cho tôi phương tiện để bay lên Pleiku vào ngày hôm sau. Tôi đã khóc hết nước mắt. Tôi giận Hảo hay thương Hảo. Cả thương và giận. Ngày trước mỗi lần lên thăm anh ở căn cứ, tôi vẫn mang chiếc áo dài màu tím hoa cà, màu áo mà Hảo rất thích. Và bây giờ cũng vậy. Tôi mang lại chiếc áo xưa, mà cõi lòng đứt đoạn. Tôi không thể mang chiếc áo đen như một người thiếu phụ đi nhận xác chồng. Ngồi trong lòng phi cơ, tôi nghĩ là mình đang đi đến một cõi chết. Rõ ràng tôi đã thật sự mất Hảo. Từ đây. 

Ngày cuối cùng, tôi ngồi trong lòng xe quân đội, thay vì người tài xế là Hảo, hôm ấy, là một người bạn của Hảo. Tôi cắn đến độ bầm cả môi, để cố nén nỗi tủi thân, và đau khổ tột cùng. Nắng trải vàng thắm trên phi đạo, trên những hangar, những hàng rào dây kẽm. Rồi tôi khóc. Người bạn của Hảo nói như an ủi tôi: " Phi đoàn vẫn tiếp tục tìm kiếm anh ấy. Xác tàu được tìm ra, nhưng không thấy phi hành đoàn." " Như vậy…?" " Vâng, vẫn còn hy vọng là ảnh vẫn còn sống. Và có lẽ ảnh bị bắt làm tù binh…" 

Tiếng máy bay quân đội tiếp tục gào xé như thể bừng vỡ cả một thinh không. Chiến tranh vẫn tiếp tục. Và tiếp tục những con người như Hảo lao vào cõi hung bạo. Một con tàu vừa vút bay lên không, tiếng máy dội ầm, và đường khói trắng in đậm trên nền mây xanh. Đàn ông thanh niên thật kỳ lạ. Tôi lại có ý nghĩ này thêm một lần nữa khi tôi đứng trong căn phòng của Hảo. Những áo quần bay bề bộn. Vài cuốn sách. Vài tạp chí bơ vơ. Ở đâu tôi cũng đều thấy Hảo, nghe hơi hướm của Hảo. Một cơn gió bỗng thốc vào khiến tôi phải bật run. Tự nhiên cổ tôi nghẹn lại. Tôi ôm lấy mặt mà nức nở. Không biết tôi khóc cho Hảo hay khóc cho tôi. Từ câu lạc bộ sĩ quan vọng về lời ca của Lệ Thu nức nở qua bài hát: Hôm nay đi nhận xác chồng… Tôi đâu có đi nhận xác chồng sao mà tôi lại đau đớn. Hảo ơi. Hảo ơi. Lần đầu tiên tôi mới cảm nhận được nỗi mất mát to lớn như thế nào. Mất rồi những lần anh trở về, tôi dọn cho anh một bữa ăn nóng sốt. Mất rồi những buổi anh đèo Honda chở tôi từ Sài Gòn về quê, đợi phà qua bắc, tôi đã nép vào người anh để tránh gió. Cũng mất rồi những lần anh đau đớn như con hổ sa cơ, khi nhớ lại định mệnh oan nghiệt của mình. 

Vâng, ngày ấy tôi đã không hiểu anh, và bây giờ lại cũng không hiểu anh nữa. Tại sao giữa lúc người ta bỏ tiền bỏ bạc chạy nhau đi xin một chỗ không tác chiến, thì anh lại lao vào cõi hung bạo. Hảo, Hảo, em ghét anh, anh chỉ nghĩ đến bản thân, anh không bao giờ nghĩ đến nỗi đau khổ của người khác. Anh có biết rằng, mấy mươi năm sau, chính những kẻ càng hô hào chiến đấu vì tổ quốc, hy sinh, danh dự, trách nhiệm, là những kẻ bỏ chạy trước hơn ai hết không. Và bây giờ họ đang sống phè phỡn ở xứ này, con cháu họ học hành đỗ đạt thành tài không? Chỉ có anh là dại. Anh biết không? 

***
*** 

Thưa ông, 

Xin ông tha lỗi cho những điều tôi vừa viết. Lâu lắm tôi mới được dịp tâm sự, và được dịp trút hết nỗi lòng. Hảo là người tình đầu tiên, người chồng đầu tiên, và người đã cho tôi được nếm bao nhiêu hạnh phúc lẫn đau khổ. Tôi cố quên hình ảnh của Hảo nhưng làm sao mà quên được. Ở đây, gặp lại một số bạn bè của Hảo, thấy họ đầy đủ gia đình vợ con, tôi lại càng cảm thấy tủi thân. Lúc này hầu như tất cả mọi người đều quên hết chuyện cũ. Chỉ có những người trong cuộc mới không thể nào quên được. 

Nghĩ càng tủi thân, khi ở Mỹ, chánh phủ đã tốn biết bao nhiêu tiền bạc để đi tìm người mất tích. Mỗi xương cốt tìm ra người ta chở máy bay về, có lính gác, có kèn quân, có buổi lễ­ trọng thể, nhưng cũng có một nơi mà: Người mẹ Bắc lên non tìm xác. Người mẹ Nam xuống biển tìm con. Thơ của ông đấy. Non và biển làm sao mà tìm được hả ông? 

Năm vừa rồi, tôi có về Việt Nam. Bạn bè có giới thiệu tôi đến một ông thầy có linh cơ huyền nhiệm chuyên giúp tìm người mất tích. Ông giúp con cháu tìm lại mộ ông bà bị thất tán vì chiến tranh. Ông cũng chỉ dùm những xác cốt bị máy cày máy ủi cày nghiến ở nghĩa trang quân đội cũ. Người ta kể ông là một đạo sĩ. Trước khi Ban Mê Thuột bị mất cả bốn năm tháng ông đã lên thành phố này để đi giữa đường, vừa đi vừa khóc. Người ta đồn thêm, ông ta có thể chỉ rõ, nơi nào chôn gửi nắm xương vô thừa nhận, những người chết trên biển, trên núi… 

Tôi đã được ông tiếp vào một buổi chiều. Ông bắt tôi ngồi trước bàn thờ. Căn phòng tối mờ nồng nặc mùi nhang trầm đầy những hình hay những tượng thần và những hình Bát Quái… Sau khi hỏi tôi về ngày sinh tháng đẻ tên họ của Hảo, ngày Hảo mất tích, ông đã ngồi tịnh một hồi, rồi ông bỗng nhiên oà lên khóc. Chắc Thần linh đã nhập vào ông. Ông hét lên: Ta là Sơn thần cao nguyên trấn, ta không tìm ra hồn ma nào như ngươi cầu xin ta giúp đỡ. Ta chỉ thấy những con thú vật kỳ lạ, nửa người nửa vượn miền Tây vực vất vưởng trong mấy mươi năm cứ thỉnh thoảng hú lên những tiếng thật thảm thiết… Tôi thật sự không hiểu ông ta nói gì. Người mất tích nào có liên quan gì đến những con vượn ấy đâu. Tôi chỉ muốn biết Hảo còn sống hay đã chết. Thế thôi. 

***
***


Tôi đã nhận bì thơ dày của chị Hạ được chuyển bởi Toà soạn của một tạp chí mà tôi cộng tác. Cả sáu trang giấy chi chít chữ thỉnh thoảng ố nhòa có lẽ vì chị không cầm được nước mắt và nước mắt đã nhỏ trên trang thơ. Tôi đọc mà lòng oà vỡ xúc động. Cả đời tôi cầm ngòi viết, khi viết, cố g¡ng xử dụng chữ nghĩa, và sự sáng tạo để cho tác phẩm mình được nhiều tình tiết, để cho các nhà phê bình tung hô… nhưng khi đọc thư này, tôi nghĩ là cả công trình của tôi cũng trở thành số không. Từ trước đến nay, tôi chỉ nh¡m vào tôi, vào bạn bè đồng đội mình, tôi đã quên những người ở đằng sau. Nói như chị Hạ: Anh ích kỷ lắm. Anh chỉ biết riêng cho bản thân anh. Anh không cần biết những người ở lại. Như cha mẹ anh, và như vợ anh. Anh đâu có hiểu nỗi lo âu đau khổ của họ. Anh cứ viện dẫn mấy chữ tổ quốc, đồng đội, bảo vệ quê hương để lao vào cõi chết. Nếu kể đến hai chữ hy sinh, thì chính tôi là người hy sinh hơn ai hết. Tôi hy sinh cả một thời thanh xuân. Tôi hy sinh cả vai trò được làm mẹ. Tôi đã bị cha mẹ, gia đình từ bỏ. Như vậy ai hy sinh hơn ai hết. Cũng vì anh. Để cuối cùng tôi nhận được gì? 

Tôi đã gởi thư về chị Hạ để xác nhận về hai người Hảo, Tài Xóc Dĩa đã tử trận vào ngày 9 tháng 5, 1968. Họ thuộc đơn vị thám kích chứ không phải thuộc binh chủng không quân. Có điều tôi phải thắc mắc là những lời của vị đạo sĩ: 

Ta chỉ thấy những con thú vật kỳ lạ, nửa người nửa vượn miền Tây vực vất vưởng trong mấy mươi năm cứ thỉnh thoảng hú lên những tiếng thật thảm thiết… 

Tại sao ông lại xuất thần bằng những lời như thế. Ngôn ngữ thần linh khó mà giải thích trừ phi có người được linh cơ huyền nhiệm hay được cơ hội nhìn được sự thật. Và sự thật này không phải là một cá nhân, nhưng là một chính quyền. Qua một bản tin trên báo vào tháng 11 năm 1998, theo đó, chính quyền Quảng Ngãi vừa bắt được người rừng. Anh ta nguyên là một hạ sĩ quan Biệt Động quân, người gốc Hré, vượt trại cải tạo cùng với hai người bạn vào năm 1979. Khi bị bắt anh chỉ còn mặc chiếc khố bằng vải rằn, hầu như quên tiếng mẹ đẻ, và chỉ thốt lên, hay hú những tiếng hú bi ai… 

Tôi tự hỏi có nên gởi bản tin này về chị Hạ hay không? 

Trần Hoài Thư
NJ 16/12/98 


Trích trong " Mặc Niệm Chiến Tranh" 

 

Thảo luận cho bài: "Người Mất Tích"