Nhớ Ngày Xưa

Tác giả:

Khi lá thu rơi trơ lại thân buồn khúc khuỷu là những khi tôi nhớ nhung nhiều lắm. Nhớ nhà xưa quê cũ, nhớ thuở bé bỏng ngây thơ. Tóc theo ngày tháng phai màu, nỗi nhớ niềm thương ngày mỗi lắng. Phải ghi lại kẻo không quên mất. Ngày nơi đây, nơi xứ lạ quê người, qua nhanh, nhanh quá, bánh xe đời vội cuốn tới không lùi. 

Không hiểu sao tôi nhung nhớ nhiều thế, những bụi cây nhánh cỏ đã từng cạnh tôi thời ấu thơ xa tít tắp. 

Cây Ngô Đồng người ta bảo “không trồng mà mọc” còn gọi là cây Bã Đậu, tôi gặp ngày gia đình ở trong khuôn viên trại Nguyễn Tri Phương – trung tâm 3 nhập ngũ, những hàng cây Bã Đậu buồn hiu thẳng tắp chạy dài hai bên đường, buổi chiều nắng rọi soi bóng hắt hiu, lúc ấy tôi hay thơ thẩn nhặt những mảnh trái khô dấu đầy túi dù chẳng biết để làm gì ? Có lần thấy chú lính ngồi dưới gốc cây, dùng cái dũa móng tay khắc hình lên mảnh vỏ khô ấy thành con cá xinh xinh tôi thích quá xin ngay, biết đâu rằng trong lúc tỉ mỉ vẽ hoa văn là lúc chú nhớ nhà ghê gớm. 

Còn những giàn hoa Bìm Bìm (ngày còn bé tôi cứ gọi nó là hoa bìm bịp – lớn lên mới biết bìm bịp để gọi một giống chim) màu tim tím nhàn nhạt như hoa rau muống, phủ đầy lên vòng kẽm gai, phủ đầy lên hàng rào của trại, loài hoa được tôi hái không tiếc tay vì nhiều quá để chơi đồ hàng. 
Hoa móng tay lá mỏng như lá hẹ, hoa hồng tươi có năm cánh, tôi hái rất ít vì nó thơm và dễ thương quá, chỉ khi nào làm công chúa hay cô dâu tôi mới hái hai hoa, đủ để dán lên mười ngón tay làm đẹp. 
Hoa dâm bụt tôi hay hái gài lên tóc, có khi quên mất nó héo xèo xụi lơ như rác trên đầu, mấy thằng con trai thì hái đọt lá gắn dưới cằm làm râu. 
Còn giàn dưa tây có hoa màu xanh thiên lý (màu xanh lá cây có pha nhiều màu vàng) hay bị ong bầu đến hút nhụy cũng là kỷ niệm của tôi. Tôi biết hoa nào hoa cái, hoa nào hoa đực, để bắt chước người lớn bắc ghế hái hoa đực chấm vào nhụy cho hoa cái đơm trái. Trái dưa tây khi chín thơm kỳ lạ, cho đường vào ăn ngon không tả được. 

Tôi cũng không quên vị chan chát, ngòn ngọt và màu tím của trái Trâm. Trái trâm thuôn thuôn nho nhỏ như đầu ngón trỏ của tôi, cây hay mọc từng bụi, sau khi ăn màu tím dính trên lưỡi lâu lắm mới hết. Có lần ba tôi sợ hết hồn khi thấy lưỡi tôi tím lịm như thế, may tôi còn vài trái trong túi áo đưa ông xem. Cái áo đó màu tím loang một khoảnh nhỏ ngay góc túi không sao giặt sạch đi được. 

Rồi cây Điệp Tây trái đen, đến mùa nào tôi không nhớ, có rất nhiều con sâu đo màu xanh lè nhỏ xíu hay thòng sợi tơ tòng teng rơi xuống khi cơn gió thổi mạnh. Lúc ấy tôi tin rằng con sâu đo trên người mình bao nhiêu cái là chỉ sống có bấy nhiêu tuổi thôi, nên hơi sờ sợ. Mà khổ nỗi cây điệp này hoa xinh lắm, tròn xoe tơ là tơ màu hồng nhạt tim tím, cành lại rất cứng, tàng to, không cao lắm, tôi tha hồ leo lên chạc ba nằm ngửng cổ ngắm mây, đủ lấn đi nỗi sợ sâu đo. Trái điệp mỏng, dài hơn gang tay, bề ngang khoảng mười cm, khi chín cong queo, mở bên trong có chất nhựa màu nâu, ngọt nhưng lại hơi cay cay mùi rượu, hột màu đen có vân màu vàng nhỏ như trứng gián, nhưng rang lên ăn ngon ơi là ngon, chỉ cần kê ba cục gạch, cái lon sữa bò, lá khô, hai cành khô làm đũa là tuổi thơ của tôi đã rang xong mớ hột điệp để nhấm nháp, vị hột điệp này bùi ngon lạ lắm, ngon hơn hạt dưa ngày Tết nhiều. 

Vườn Chuối, khu Vườn Chuối tôi không biết trước đây có thật người ta trồng chuối không? Nhưng hồi gia đình tôi dọn đến ở, thuở tôi vừa đủ lớn để thu gom vào ký ức thì không còn thấy cây chuối nào nữa cả, chỉ thấy những chiếc xe tải từ đâu chở đến không biết cơ man nào là chuối. Khu vườn chuối vuông vức lắm, bốn cạnh là những con đường Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, và Vườn Chuối. Trong hình vuông này, những khu xóm liên lạc với nhau bằng bao nhiêu con hẻm nhỏ, trong hẻm, những căn nhà liền lạc chung vách với nhau. Nhà lầu có lan can, hàng xóm có thể leo sang nhà nhau nếu muốn, những ngày trời nóng, nhà lầu có thể leo lên mái nhà trệt bên cạnh nằm ngắm trăng, không ai phiền hà gì cả. Phía trước nhà luôn là một hàng ba, nếu không xây bằng xi-măng thì cũng có hàng rào sắt, cái hàng ba này không lớn lắm, chỉ khoảng ba hay bốn mét, từ cửa chính nhà đo ra ngoài hẻm, nhưng cũng đủ chỗ để dựng tạm xe đạp, xe gắn máy khi có khách, hay là chỗ cho lũ con nít tụ họp chơi đồ hàng, đánh đũa, giải gianh (ô quan). 

Khu xóm của tôi con hẻm được tráng nhựa, nên mùa mưa không lầy lội như những hẻm khác. Đặc biệt của khu này, con hẻm nào cũng đi vào chợ Vườn chuối. Con đường rầy xe lửa nằm dọc sau lưng chợ, cũng có bao nhiêu chuyện để kể. Có lần một bà giận chồng đánh bạc thua hết tiền nằm vắt ngang trên đường ray làm mọi người hoảng sợ xúm xít lôi bà ta ra, tôi cũng ráng chen vào xem cho bằng được, những chuyện đặc biệt như vậy là niềm vui cho lũ con nít từ mười đến một tuổi (bị anh hay chị na theo) nhiều lắm. Con nít thời ấy không có tivi, không có video game nên niềm vui thật đơn sơ êm ả, một đứa hô lên là cả bọn xúm xít đi theo, nhiều khi đi chả biết đi đâu mỏi chân mò về lục cơm nguội. Những lúc đi vô định như vậy là lúc tìm được trò chơi – nhà đó có cái hồ cá, nhà nọ có cây mận – để hẹn hò nhau ngày mai mang lon sữa bò, mang ná thung đi theo. 
Tôi nhớ mãi cái nhà có hồ cá đối diện ngã ba đường Vườn Chuôi, nằm trên đường Phan Thanh Giản kế bên trường Văn Học, nhà này có cổng sắt hẳn hoi, vào bên trong được là do cái lỗ chó chui từ trường Văn Học sang. Trong hồ họ thả cá Hoàng Kim, con đực có cái đuôi dài phất phới, con mái đuôi tròn. Để chuẩn bị vớt cá, chỉ cần một miếng vải mùng cũ khâu dính vào dây kẽm (dùng để giăng phơi quần áo), được xoắn thành hình tròn làm vợt. Chuyện làm vợt bắt cá cũng đủ điều xảy ra, đứa về tháo sợi dây phơi quần áo ở nhà, đứa lục ở đâu ra không biết một phần cái mùng tuyn, rồi con trai hì hục xoắn, con gái lấy kim chỉ khâu. Ngày hôm sau mỗi đứa một cái vợt đường kính bằng cái tô ăn cháo và cái lon sữa bò, tung tăng chui vào nhà người ta hớt cá. Dĩ nhiên từng đứa chui qua lỗ chó, xong, chui ra cho đứa khác vào. Tôi còn nhớ mình vớt được hai con trống màu cam đậm đẹp lắm, về nhà cho tụi nó vào cái bình thuỷ tinh, nuôi như cô Tấm nuôi cá bống trong chuyện tấm Cám, mỗi ngày mỗi cho ăn cơm, không thay nước. Chỉ ít lâu, buổi sáng ngủ dậy. cả hai phơi bụng chết. Khóc thôi là khóc. Chuyện đi vớt cá này kết quả có hai đứa bị đòn quắn đít, tụi tôi hùn nhau mua cho mỗi đứa một cây cà rem đậu đỏ. 
Người ở khu xóm Vườn Chuối, chắc không quên nhà ông bầu đại nhạc hội Duy Ngọc, căn nhà đúc hai tầng quết vôi hồng, nhờ việc này mà cả xóm của tôi tha hồ gặp những đại văn nghệ sĩ, như Kim Cương Thẩm Thuý Hằng, Thành Được, Phượng Liên. Phi Thoàn, Khả Năng đến chơi với xóm tôi hình như hằng bữa, cứ thấy đoàn con nít rồng rắn đi theo sau một bà hay một ông chắc chắn người ấy phải là nghệ sĩ. 

Nhà của Tuý Hồng và Lam Phương đâu xa lạ gì, ngay sâu trong hẻm bên cạnh, chà lâu lâu nghe mấy đứa xóm bên ấy méc nhà họ có cãi nhạu Cãi nhau ngày xưa bên VN, nghĩa là có xích mích giữa những người trong nhà với nhau, chỉ cần nóng tính giọng hơi cao hơn một chút là cả xóm cùng hay, chạy ngay sang can gián, một người can không xuể kéo thêm người khác, có bà còn cẩn thận bế giùm con nhỏ của gia đình có vấn đề này đi nơi khác cho người trong cuộc giải quyết cho xong chuyện rắc rối với nhau, nhiều khi tôi còn thấy họ khóc bù lu bù loa chung với bà hàng xóm vừa bị ông chồng tát cho một cái nên thân, lúc ấy tôi thắc mắc : bà bị đánh khóc thì đúng rồi, bà kia mắc chi khóc thẻo ø tôi chỉ giữ trong lòng thế thôi không dám hỏi người lớn sợ bị la là con nít nhiều chuyện. Tình hàng xóm VN ngày xưa sao khăng khít đến lạ lùng. 
Rồi ngày cúng rằm tháng Bảy, xá tội vong nhân, xóm tôi lập đàn giải oan cho cô hồn các đẳng, bao nhiêu là lượt cúng, hết nhà cô Mỹ tiệm vàng, đến nhà ông Tàu thuốc Bắc, rồi bà Tư thớt heo, tiền cắc được ném tám phương, bốn hướng. Tôi không được ra khỏi nhà trong những ngày này, vì sợ oan hồn nhập, không được như những đứa ở xóm khác tới lượm tiền và giật bánh cúng, chỉ được ngồi trên lan can nhìn xuống ấm ức. 

Rằm tháng Tám tết Trung Thu, tuyệt vời. Khu chợ Vườn Chuối sáng rực rỡ đèn chong. Đoạn từ đường rày đến tiệm vàng Vạn Xuân giăng những tấm quảng cáo bánh nướng, bánh dẻo thật to trước tiệm, những tấm quảng cáo này to lắm nguyên một khổ vải ngang 8 tấc dài đến 2 thước là ít, được vẽ rồng phượng, cô tiên, hàng chữ tên bánh màu đỏ như Đông Hưng Viên, Bảo Hiên, Phú Yên, Đồng Khánh v.v.. theo gió Thu lập lờ thật đẹp, chung với bao nhiêu là đèn xếp đèn giấy kiếng. 
Đặc biệt hơn nữa có tiệm bày bàn làm bánh dẻo ngay trước tiệm, trẻ con xúm xít đứng chung quanh xem, đứa nào may mắn được ông thợ bánh dích cho một cục bột dư hí hửng cười toẹ Trước Tết Trung Thu cả hai tuần con nít đã bắt đầu hưởng Tết, mỗi ngày sau khi cơm chiều xong là tụm năm tụm ba lo xếp lồng đèn, những cái lồng đèn đơn sơ làm bằng báo, đứa nào có anh chị lớn được anh chị lấy những tờ giấy láng có hình ảnh đẹp xếp đèn cho, có đứa còn được cái lồng đèn lon sữa bò mới bảnh. Lon sữa bò được đục lỗ, cắt dọc vòng vòng ép xuống một nửa thành giống như trái bí đo, mấy cọng kẽm làm quai, cây đũa bếp làm cán, đẹp phải biết. Cầu kỳ sáng tạo hơn, dùng lõi chỉ gỗ làm bánh xe, đóng lon sữa bò lên trên, dùng cây dài làm đòn đẩy đi kêu lắc cắc. Dân thành phố thiếu cái thú ngâm tre, chẻ nan, phơi giấy dán đèn nhưng bù lại tụi nhỏ tự xoay sở lấy trò chơi, có sự giúp đỡ của người lớn. 
Mùa Trung Thu hay có trò chơi rồng rắn, cần một người làm Thầy, những đứa khác xếp hàng một ôm eo nhau đi vòng vòng, hát: “Rồng rắn lên mây có cây xúc xích (lúc lắc) có ông Thầy về chưa” hễ ông thầy trả lời: “rồi” thì hỏi tiếp “xin cái gì?” nếu ông Thầy bảo xin khúc đầu, khúc đuôi, hay khúc giữa là lũ nhỏ ở khúc đó lo mà ôm nhau cho chặt, ông sẽ rình đứa nào sơ hở để kéo ra ngoài, không được rồng rắn nữa. Lúc bị ông Thầy đuổi để giựt ra khỏi hàng là lúc vui nhất, la hét om cả lên. Thêm nữa là trò nghịch nến, đốt để coi chơi, để ngửi cái mùi thơm thơm, để làm bánh bèo bằng nến, dễ lắm, một lon nước, nghiêng cây nến đang cháy, nhỏ (nhiễu) lệ nến vào, đứa nào khéo cái bánh bèo tròn có lúm một lỗ ở giữa, đứa nào vụng bánh bèo méo xẹo, những cây nến này là nến ăn cắp trên bàn thờ Phật, bàn thờ thần tài không phải nến đặc biệt dùng cho đốt đèn Trung Thu. Ngay hôm rằm, người lớn bầy bàn trước hàng ba cúng Trăng, nhà nào không cúng cũng bắc ghế đẩu ra hè ngồi chơi ngắm trăng, hàng xóm cùng quây quần cỗ bánh, con nít tha hồ nghịch nến, tha hồ rước đèn. Những cây nến (đèn cầy) ốm tong teo sao dễ thương lạ kỳ, ngày ấy nến chỉ có một màu đỏ đậm, được mẹ phát năm cây nến là vui như đi hội thử giầy. Trời thẫm tối, túm nhau thắp nến vào lồng đèn, theo nhau đi từ đầu xóm xuống cuối xóm, vừa đi vừa hát: “Ánh trăng trắng ngà có cây đa cao, có thằng cuội già xin một bó mơ.” 
có một câu thôi hát tới hát lui không chán. Có lần cả xóm tôi rước đèn thật rầm rộ, vì bác trưởng xóm (tôi không biết kêu như vậy đúng không, nhưng bác là người đi thu tiền phúng điếu nếu có ai trong xóm qua đời) có cái đèn con cá chép bự cỡ một thước ngang chứ không ít dẫn đi đầu. Con các chép này đi đến đâu những chiếc đèn nhỏ nhỏ đi theo đến đó, càng đi cái đuôi đèn càng dài, tất cả tụi nhỏ xóm tôi (dĩ nhiên có tôi), cả những đứa ở bên xóm khác vui nhiều lắm, dù khi về đến nhà chân tóc đẫm ướt mồ hôi. Đêm đó trăng rực rỡ vô cùng. Nhà người Hoa họ cúng Trung Thu lớn lắm, có mấy cái bánh chiên tròn bằng quả cam chung quanh toàn là mè, bánh in bọc trong giấy kiếng vàng đỏ, bánh dẻo bánh nướng, trà, trái cây. Người Việt mình chỉ có bánh trung thu là xong, nhà nghèo không mua được bánh thì cúng trà, bánh in và vài loại trái cây mộc mạc cũng xong. Tàn hương (nhang) hàng xóm thân thiết cắt bánh mời nhau, con nít thường được phát bánh in, hiếm khi được ăn bánh nướng, bánh dẻo. Đứa nào được mẹ cho bánh nướng hay bánh dẻo đêm ấy thế nào cũng rộng rãi với đứa bạn thân cho cắn một miếng, với câu dặn “cắn ít thôi”. Tuổi thơ dễ yêu làm sao, miếng bánh tuổi thơ ngọt ngào làm sao? Đến lúc này là lúc cãi nhau xem chị Hằng ở đâu trên cái ông trăng tròn vo ấy, rõ ràng chỉ thấy cây đa thật to và chú Cuội ngồi xệp ngay dưới gốc, chị Hằng đâu mà chị Hằng? Mẹ bảo chị Hằng phải giữa đêm mới đến, con nít nào ngoan mới thấy. Có lần tôi định thức đến giữa đêm xem thử mình ngoan hay không, nhưng chưa bao giờ tôi thức nổi. 

Mùa Thu là mùa mưa, những cơn mưa xầm xập không báo trước, mây kéo vù tới, chùng thấp rồi mưa. Dòng nước mưa cuộn chảy xuống cống, đối với con nít là giòng sông đẹp nhất. Mưa vừa tạnh những con thuyền xếp bằng giấy được nhẹ nhàng thả xuống, đứa nào dùng giấy láng, thuyền không bị thấm nước, theo dòng trôi thật đẹp. Đứa nào dùng giấy bản nước thấm nhanh thuyền chìm, hậm hực muốn khóc. Mùa mưa có những trò chơi mùa mưa. Con trai thích tắm mưa dưới máng xối, đá banh ngoài mưa, nhiều đứa sợ Mẹ biết cởi hết áo quần dấu trong mái hiên, nhờ lũ con gái giữ hộ. Con gái phần đông chơi đồ hàng trong sân vì Mẹ cấm không cho nghịch mưa sợ ốm, vài đứa phá lệ cứ ra mưa cho ướt hết cả người. Tôi không dám, có lẽ đó là lý do tại sao khi lên trung học tôi mê dầm mưa đến thế. 
Đồ hàng là những cái nồi cái chén, cái chảo đủ mọi đồ lề cho người nội trợ thật trong tương lai, những tiếng xưng hô mày tao chi tớ cũng được đổi như người lớn “bà với tui, chị với tui”. Những chiếc lá, những đoá hoa hái vội trong chậu kiểng thành rau, thành cơm, con búp bế được truyền nhau nâng niu, con con má má. Những loại cây kiểng hồi ấy thường là cây ngâu, cây mai chiếu thuỷ, cây bông giấy, cây bông nhài (lài). Tôi còn nhớ cây ngâu với những chùm hoa li ti màu vàng thơm dìu dịu, trái nhỏ bằng đầu ngón tay út, khi chín có màu cam đỏ rất đẹp, ăn ngòn ngọt. Cây mai chiếu thuỷ từng chùm hoa màu trắng cúi gục đầu xuống, không sao ngửng lên được, mùi thơm thật nhẹ, tôi cứ dí mũi sát vào hít lấy hít để, không như hoa nhài chỉ vừa đến gần đã thơm thật thơm. Cây bông giấy không thơm nhưng tha hồ hái lá làm rau, nhặt hoa làm bánh, ngâm nước cho ra màu sơn móng tay, không hề bị người lớn la như khi đụng vào những cây kia. 
Khi mưa vừa tạnh, lũ con trai vừa thay áo quần xong lại rủ nhau đi, đi vòng vòng sang xóm khác tìm xem những nhà có trồng cây mận, cây ổi, cây táo, cây khế, cây tầm ruột có trái nào vì mưa rụng xuống hay không? Con nít sống ở thành phố buồn hơn con nít dưới quê, không có vườn cây, nên không được leo trèo, thấy được một cây ăn quả mừng rỡ như bắt được vàng, cây ổi ruột đỏ trước tiệm giặt ủi Hồng Nhạn ngay con hẻm số ba mươi, sau tiệm phở gì tôi quên mất tên, cây ổi này hình như chưa bao giờ có trái chín vì chị Nhạn hiền quá chẳng la ai bao giờ. 

Trên đường Phan Đình Phùng, từ ngã tư Lê Văn Duyệt đổ xuống là hai hàng cây điệp vàng (còn có tên văn hoa hơn là : cườm thảo vàng), sau cơn mưa hoa đầy gốc, mùi mưa quyện với mùi hoa làm tuổi thơ của tôi ướp đầy mật ngọt. Cầu vồng bảy sắc sau mưa luôn làm tụi nhỏ chúng tôi mộng mơ, huyễn hoặc, đứa thì bảo đó là cầu bắc cho tiên đi, đứa thì khẳng định Chúa đang đứng ngay giữa cầu, đứa thì bảo ông Bụt đang cười với nó, còn tôi khẳng định sẽ tìm được nơi bắt đầu của cầu vồng, sẽ có cầu thang đi lên càng lúc càng cao. Cả lũ tin, theo tôi lang thang đi đến dinh Độc Lập không hay, lần ấy không tìm ra nơi xuất xứ của cầu vồng, tụi tôi khám phá ra bên trong hàng rào cao ngất ấy là những cây nhãn lồng ngọt lịm, vì mưa một nhánh cây gãy, vượt ra khỏi rào làm quà cho lũ con nít đi tìm cầu vồng sau mưa. 

Giáng Sinh, đối với gia đình có đạo là một ngày lễ lớn lắm, trong xóm tôi ở chỉ có khoảng năm gia đình thôi, nhà nào trước cửa cũng treo một ông sao thật lớn. Con nít tụi tôi không chia rẽ tôn giáo, hễ có rằm có ngày Đản Sinh đức Phật thế tôn người lớn làm lễ cúng tụi tôi cũng cúng, đến Giáng Sinh người lớn làm ngôi sao, hang đá tụi tôi cũng làm ngôi sao hang đá. Một lần tụi tôi may mắn lấy được một cục đất sét khi người ta đào giếng gần mùa Giáng Sinh, thế là tha hồ nắn tượng, theo tôi những nhà điêu khắc tí hon luôn có những ý tưởng thật độc đáo, từng hình người đơn giản được dựng lên, có đầu mình tay chân hẳn hoi, mấy hình giống con vật có bốn chân cho đúng với chuyện tôi được nghe từ các dì phước dậy giáo lý, những đứa ngoại đạo cứ há hốc mồm nghe tôi kể và tin tôi răm rắp. Có đứa còn khóc vì thương em bé Giesu bị lạnh nữa, tôi kể về những con cừu phà hơi cho em bé Giêsu ấm, tụi nó hỏi con cừu (trừu) giống con gì, tôi trả lời giống con chó, nghĩ lại buồn cười quá. 
Cái hang đá được hình thành với bao công trình tim óc, rơm lấy từ bà bán trứng ngoài chợ, vỏ bao xi măng rình mò mãi mới lấy được một cái ở trường Bàn Cờ đang xây thêm phòng học, chỉ có thế mà những bức tượng sau khi phơi nắng có chỗ trưng bầy. 
Đi lễ tối Giáng Sinh mới thích làm sao, được mặc áo đẹp mới may, đi giầy có gót, mấy đứa bạn tôi xin đi theo, nhưng Ba tôi sợ lạc không dám dắt theo. Giáng Sinh chỉ có ý nghĩa đúng một đêm thôi, nhưng thời gian sửa soạn đợi chờ là tuyệt vời nhất. 

Lớn hơn tí nữa khoảng năm học lớp nhất (lớp năm sau này) trò chơi phức tạp hơn nhiều, bắt đầu có phe nhóm, con gái biết ganh tị giận hờn, con trai biết chọn lựa chơi hay không chơi với con nhỏ nào. Thường thì mấy con nhỏ hay mít ướt tụi con trai không thích, nhỏ nào ngỗ ngược lì lợm đi đâu tụi con trai cũng rủ đi theo. Đi theo lũ con trai có nhiều khi chó rượt, có nhiều khi rách quần rách áo, có khi lạc đường cảnh sát phải dẫn về nhà. Bị đòn sau đó là đương nhiên. 

Ngày đó roi mây được bán trong tiệm tạp hoá từng bó, những cây mây màu vàng bóng khoảng chừng ngón tay trỏ dài chưa tới một thước. Có nhà cây roi mây tét te tua vì cậu nhỏ nghịch quá, nhà tôi có một kho roi mây, cái kho ấy là là cái khe hở giữa bộ ván và bức tường đủ để tôi len lén dấu cây roi mây vào đó. Mất roi tôi được khất “roi” cho đến khi me tôi mua cây roi mây mới, dĩ nhiên cây mới lại bị biến mất. Chỉ đến cuối năm khi dọn dẹp trong ngoài ba tôi mới thấy cái kho này. 

Nhắc đến bộ ván bà ngoại cho Me tôi ngày đi lấy chồng, tôi nhớ hình vân gỗ nổi bóng lưỡng mát rười rượi khi ngả lưng giữa trưa, Me tôi nằm giữa các con chung quanh, con nít không sao ngủ trưa được, chỉ nằm loay hoay mở sách truyện bằng hình đọc. Giữa trưa có lần tôi đọc Ma Cà Rồng sợ quá hét lên, Me tôi giật mình, Ba tôi biết thế là đổ bể chuyện đọc sách cấm. Hồi đó buổi trưa Ba tôi được về nhà ngủ trưa, tôi nhớ ba tôi hẹn lấy sẵn roi mây ra buổi chiều khi ba về kể tội. 
Lạ kỳ sao, với con nít điều gì bị cấm là điều tuyệt diệu cần tìm kiếm. Những sách được mua cho đọc không thích bằng những sách bị cấm không cho đọc. Sách Ba tôi mua rất đẹp, bìa dầy giấy bóng, hình ảnh tô màu rõ ràng, chữ in dễ đọc. Sách bị cấm được bán trước cổng trường, người bán trải tấm nylong trên mặt đất và xếp những quyển truyện tranh in bằng giấy bản nhem nhuốc, có hình đen trắng, nội dung thường là ma quỷ, dễ sợ, tôi nhớ có Thiên Linh Cái là truyện tụi tôi truyền tay nhau đọc, truyện này nhiều tập lắm, đặc biệt khổ của quyển truyện vừa đúng với quyển vở học nên bỏ vào cặp táp Ba tôi không biết. 

Buổi chiều khi ba tôi về, cơm nước xong, tôi nem nép hiền lành chờ đợi bị đòn. 
“Bị đòn” là một nghi lễ trong gia đình tôi. Kẻ có lỗi phải nằm xấp, má úp vào hai bàn tay khoanh lại, Ba tôi cầm roi mây nhịp nhịp lên mông, vừa nhịp ông vừa kể tội, kể xong ông hỏi: “đa'ng bị mấy roi?” Nửa roi chắc chắn không có nên câu trả lời luôn là một roi. Bộ ván ấy tôi từng nằm sấp chịu đòn khi cao chưa bằng chiều ngang của bộ ván, đến lần cuối cùng còn bị đòn, chân tôi thò ra ngoài hai tấc. Nước mắt của tôi làm bộ ván đã bóng, lại càng bóng hơn.

Mỗi năm chiều 30 Tết tất cả chị em tôi “được” bị đòn. Tấm phản vừa xinh cho tất cả chúng tôi nằm một dọc 5 đứa, từng đứa được Ba tôi luận tội đâu ra đấy, kết luận sang năm mới phải sửa đổi như thế nào, và quất cho một roi tượng trưng xả xui để sang năm mới không bị đòn nữa. 

Năm lên chín tôi đã biết háo hức đợi chờ Tết, xé lịch một lúc hơn chục tờ cho mau đến Tết. Ngày 23 tháng chạp lịch của nhà tôi đã đến ngày mồng một Tết Âm Lịch. Ba tôi phì cười không cho ăn đòn vì biết con mong Tết.. (Chuyện xé lịch xảy ra hoài hoài vì khi tôi không làm, em kế tôi sẽ làm, và cứ thế cho đến khi không còn lịch để bóc nữa).
Khoảng thời gian này vui lắm, chợ họp suốt đêm tràn ra ngoài hẻm ngay trước cửa nhà tội Những chiếc xe ngựa chở cơ man nào là hoa vạn thọ, hoa đồng tiền lên bán, hương hoa thơm lừng. Tụi tôi có cả rổ hoa rụng để chơi đồ hàng, hay xé hoa ra làm confetti ném nhau cho vụi Buổi tối mấy bà hàng đốt đèn măng xông, đèn dầu, làm đống quít càng thêm vàng rực. Núi dưa hấu cao nghệu trái nào trái nấy bóng lưỡng đen xanh, có trái màu xanh ngọc sọc trắng nhưng chắc giống lạ nên có ít lắm. Tôi chỉ thương đám gà thật dễ thương bị cột chân lại đặt nằm xếp lớp dưới đất, người mua xách cái chân nó lên, bóp bóp ngay cái lườn, lật qua lật lại bỏ xuống cái ịch, tôi ngồi xem mà thương con gà quá sức. Nhìn bao nhiêu cái mỏ há ra để thở hào hển, cái mồng quẹo qua một bên mà đứt cả ruột, tôi mang thau nước ra cho tụi nó uống, bà bán hàng cho tôi một nắm hột dưa ngồi cắn cho vụi Mỗi năm bà mang gà, hoa, trái cây từ dưới quê lên bán Tết, năm nào bà cũng đến ngay trước hàng hiên nhà tôi bày hàng. Trưa 30 dọn dẹp xong bà biếu Me tôi cặp gà ăn tết trước khi về, Me tôi nhận, nhưng luôn cho lại bà trà, kẹo, mứt. 

Ở thành phố không có chỗ để gói bánh chưng, Me tôi làm mứt, mùi đường thơm ngan ngát những ngày áp Tết, rồi Me gói giò thủ, những cây giò gói bằng lá chuối được nẹp trong hai cái đũa cả, dựng trong cái tô hứng mỡ, bánh chưng cô chú đem đến biếu, những hộp mứt giấy xanh giấy đỏ tuyệt đẹp để trên tủ kính. Me tôi dặn bà bán hàng mang lên những con gà mái dầu chân lùn vẩy vàng, đôi mắt tròn xoe như hạt đậu đen, nhốt trong cái bội (lồng to bằng nan) để Tết đãi khách. Rồi dưa hấu nữa vừa đem biếu vừa để ăn cũng phải hơn hai chục trái, Me dậy tôi lựa thế nào cho ngon, ngọt, mua thế nào để mồng một bổ ra trái dưa đỏ tươi, đầy đặn không bị bọng bên trong. Vui nhất là theo Ba tôi đi biếu Tết. Bác Cả thế nào cũng có con gà trống thiến, cặp dưa, hộp mức, cân trà. Mấy con gà được treo hai bên hông xe trên đường đi thò đầu ra khỏi giỏ kêu quang quác vui lắm. rồi khách đến nhà biếu Tết nữa ngày nào cũng như hội, tôi phải lo bưng trà, rót nước không ngơi tay mà chả bao giờ phàn nàn với Mẹ, cứ nghĩ đến áo đầm mới, đôi giày mới treo trên lầu làm sao mà cằn nhằn than thở được. Thức đợi năm mới với Ba, Me đã thành thói quen mỗi năm, các em tôi lớn dần cũng thức theo 
Tết trước năm 1968 chợ không họp đúng ba ngày, trong ba ngày này những sập hàng để trống, chỉ có bầu cua cá cọp, hay những hàng bán đồ chơi dụ tiền lì xì của nít là nhiều. Sau 1975 hình như không còn điều này nữa. 
Bây giờ sau bao nhiêu năm, nhất là sống xa quê nửa vòng trái đất, giao thừa tôi không biết đợi chờ thế nào? Giờ nào đúng giao thừa? Đông Tây có gặp gỡ được nhau ngay điểm giao thừa đó không? Đành một mình thắp vài nén hương trầm nhung nhớ, chung quanh thiên hạ có ai nhớ Tết như tôi? 

Nỗi nhớ của tôi còn nhiều lắm, nhiều lắm. Nhớ nhung có người cho là đau khổ, với tôi là một hạnh phúc. Tôi có thể vui cả ngày khi gặp lại bụi hoa dâm bụt ngày cũ, tôi có thể vui cả tháng khi gặp lại được nhánh tơ hồng, tôi như con nít khi tìm ra nhánh cây cườm thảo nhỏ nhoi trong vườn bách thảo. Tôi biết tôi hạnh phúc khi bên tôi có người ngồi nghe tôi kể : Nỗi nhớ ngày xưa. 

Em sẽ kể nữa cho anh nghe…

Thảo luận cho bài: "Nhớ Ngày Xưa"