Những cuộc phiêu lưu của cái túi dết

Tác giả:

Những cuộc phiêu lưu của cái túi dết

Heinrich Böll
Nguyễn Khánh Long dịch
 
Tháng 9 năm 1914, một tân binh tên Joseph Stobski, trên giấy tờ là công dân Đức mặc dù anh nói khó khăn ngôn ngữ tổ quốc chính thức của mình, được dẫn vào một doanh trại xây bằng gạch đỏ tại thành phố Bromberg. Tuy đã hai mươi hai tuổi, anh thợ đồng hồ Stobski trước đó chưa làm nghĩa vụ quân sự, lý do “thể chất yếu”. Quê qúan ở Niestronno, một thôn làng Ba Lan lặng lờ, ngày ngày anh ngồi trong gian sau căn nhà tranh của ông bố, cặm cụi khắc những hoa văn, những hoa văn nhỏ li ti, trên những chiếc vòng mạ vàng và chữa đồng hồ cho dân làng, lại vừa cho lợn ăn và vắt sữa con bò cái; còn buổi chiều, khi bóng tối phủ trùm Niestronno, thì anh chẳng đi khiêu vũ cũng chẳng ra qúan rượu : ngẫm nghĩ một phát minh, bằng mấy ngón tay dính đầy dầu mỡ anh mân mó vô số những bánh xe con con và quấn những điếu thuốc lá mà thường thì anh để tàn lụi bên mép bàn, trong khi bà mẹ đếm từng quả trứng và kêu ca nhà dùng qúa nhiều dầu lửa. 

Và nay thì, tay ôm cái thùng giấy, anh bước vào doanh trại xây bằng gạch đỏ ở Bromberg, học tiếng Đức đủ để hiểu các lệ luật, mệnh lệnh và các bộ phận khẩu súng của mình, tập quen với nghề lính. Lúc học tập, anh nóibáng thay vì bánh, séng thay vì súng, anh chửi thề bằng tiếng Ba Lan, cầu kinh bằng tiếng Ba Lan, và, khi chiều xuống, buồn bã ngắm, trong cái tủ màu nâu sậm, cái gói con con bọc mấy cái bánh xe dính đầy dầu mỡ, rồi ra phố mượn rượu giải nỗi sầu chính đáng của mình.
 
Anh nuốt chửng cát vùng truông Tuchel, viết bưu thiếp trả lời mẹ vẫn gửi thịt mỡ cho anh, ngày chủ nhật trốn dự lễ trong trại để lén đến một nhà thờ Ba Lan, ở đây anh có thể cầu kinh và nằm lăn ra đất mà khóc, dẫu rằng ai cũng kinh ngạc vì một gã mặc áo lính Phổ mà thành tín đến thế.

Tháng 11 năm 1914, người ta cho rằng anh được huấn luyện như thế đã đủ và khiến anh băng qua cả nước Đức sang vùng Vlaanderen. Ném lựu đạn ở các bãi cát truông Tuchel, anh ném đã nhiều rồi, bắn bia anh đã bắn nhiều rồi – thế là Stobski gửi về mẹ cái gói con con bọc mấy cái bánh xe dính đầy dầu mỡ, kèm theo một bưu thiếp, và, trèo lên một toa xe lửa chở gia súc, anh khởi sự cuộc hành trình băng qua tổ quốc chính thức của mình, tổ quốc mà anh mới học tiếng nói đủ để hiểu các mệnh lệnh. Anh được những cô gái Đức xinh như mộng mời uống cà-phê, cài hoa vào súng, người ta phát cho anh thuốc lá, có hôm anh còn được một bà trọng tuổi ôm hôn, và một ông, kính trên mũi, tay tì trên rào chắn ngã đường sắt, hét với anh bằng một giọng lảnh lót mấy tiếng La-tinh mà anh nghe ra có một từ – từtandem. Anh cầu cứu cấp trên trực tiếp của mình, hạ sĩ Habke, anh này lầm bầm một câu gì đó về xe đạp[1] rồi không chịu giải thích thêm gì nữa. Và cứ thế, hết ôm hôn lại được ôm hôn, túi trĩu những hoa, thuốc lá và sô-cô-la, Stobski vượt qua mà chẳng hay ba con sông Odra, Elbe và Rhein, trước khi được thả xuống sân một nhà ga tối tăm nhớp nhúa nước Bỉ, sau mười ngày đường trường. Đại đội anh tập hợp trong sân một trang trại và giữa màn đêm viên đại úy hô vài mệnh lệnh mà Stobski chẳng hiểu gì. Sau đó là món gu-lát [2] với mì mà ai nấy vội vã vục thìa múc ngay trong xe bếp lưu động, giữa kho thóc đèn chiếu lù mù. Viên hạ sĩ quan Pillig lại đảo một vòng, điểm danh ngắn ngủi, và, mười phút sau, đại đội di hành trong bóng tối về hướng tây. Chính từ hướng trời này vọng lại cái tiếng rền ghê gớm, tựa tiếng dông bão, đôi khi lại có như tiếng chó sủa mà đỏ lòe. Trời đổ mưa, và vì đại đội đã rời con lộ, khoảng ba trăm bàn chân nặng nề bì bõm trên các nẻo đường bùn lầy. Dông bão chẳng phải do trời đất càng lúc càng gần và giọng mấy viên sĩ quan và hạ sĩ quan thành khàn đục, nghe rất khó thương. Stobski đau nhức hai chân, đau nhức vô cùng, anh cũng nhọc mệt nữa, nhọc mệt vô cùng, nhưng anh vẫn lê bước trên những nẻo đường nhớp nhúa, băng qua những thôn làng chìm trong tăm tối. Càng tiến gần dông bão, họ thấy giông bão càng gớm ghiếc và càng chẳng phải do trời đất. Giọng mấy viên sĩ quan và hạ sĩ quan bấy giờ lại bình tĩnh lạ lùng, gần như dịu dàng nữa, và, bên trái cũng như bên phải, dội lên vô số tiếng chân bước vội vã, trên những nẻo đường và những con lộ không mắt nào nhìn ra.

Stobski nhận ra họ đã lọt vào giữa lòng trận giông bão chẳng phải do trời đất, vượt qúa một chút là đằng khác, vì những tiếng sủa đỏ lòe bây giờ lốp đốp cả trước mặt cũng như sau lưng, và, khi có lệnh tản hàng bố trí, anh bỏ con đường, chạy sang phía bên phải và đến bên hạ sĩ Habke; anh nghe tiếng người kêu, tiếng súng nổ và giọng mấy viên sĩ quan và hạ sĩ quan bây giờ trở lại khàn đục. Stobski, vẫn đau nhức hai chân, đau nhức vô cùng, hết còn để ý tới Habke; anh ngồi bệt xuống cỏ ướt ngái mùi phân bò và nảy ra một ý nghĩ, một ý nghĩ, trong tiếng Ba Lan, từa tựa như câu đáp của Götz von Berlichingen[3]. Anh bỏ mũ sắt, đặt súng xuống cỏ bên mình, tháo mấy cái móc cài túi quân trang, thoáng nghĩ đến mấy cái bánh xe con con thương yêu dính đầy dầu mỡ rồi lăn ra ngủ giữa những âm thanh binh đao gầm rú. Anh mơ thấy mẹ, bên Ba Lan, bà làm bánh kẹp trong căn bếp ấm cúng. Lạ lùng là, trong mơ, mấy chiếc bánh cứ hễ sắp chín lại nổ tung trong chảo và chẳng còn gì nữa. Bà mẹ yêu qúy của anh hối hả múc bột đổ vào chảo, những chiếc bánh kẹp con con bắt đầu thành hình, nhưng cứ sắp chín lại nổ tung; thế là bà mẹ yêu qúy của anh đùng đùng nổi giận – Stobski không sao nén được nụ cười trong mơ, vì mẹ anh chưa từng bao giờ thực sự giận dữ cả – và bà đổ ráo cả nồi bột vào chảo. Một cái bánh kẹp to tướng, dày cộm, vàng óng, một cái bánh kẹp to bằng cái chảo, thành hình; nó nở ra, phồng lên, trông rất giòn, và bà mẹ yêu qúy của Stobski, nhếch mép khoái trá, nắm con dao phết thọc xuống dưới cái bánh, đúng lúc – bùm! – vang lên một tiếng nổ rợn người, và Stobski không kịp thức dậy, vì anh chết rồi.
 
 
Tám ngày sau, trong một chiến hào quân Anh, khoảng bốn trăm thước cách chỗ viên đạn trái phá trúng ngay Stobski và giết anh chết tức khắc, đồng đội anh tìm ra cái túi dết của anh cùng một mẩu đai lưng vỡ nát – dấu tích duy nhất của anh trên cõi đời này. Cái túi dết của Stobski tìm thấy dưới chiến hào ấy – bên trong vẫn còn một khúc xúc-xích thổ sản, khẩu phần dự trữ của anh và một cuốn kinh tiếng Ba Lan – thế là người ta kết luận rằng hôm xung kích anh đã nổi máu anh hùng khó ai bằng, mau lẹ tiến sâu vào chiến tuyến quân Anh và bỏ mình tại đấy. Và thế là bà mẹ yêu qúy người Ba Lan, ở Niestronno, nhận được thư đại úy Hummel tuyên dương công trạng của binh nhì Stobski. Sau khi nhờ cha xứ dịch bức thư, bà mẹ yêu qúy khóc lóc, rồi xếp thư lại, bỏ vào giữa hai tấm dạ và xin ba lễ cầu hồn cho con trai mình.

Nhưng quân Anh bất ngờ chiếm lại được chiến hào và cái túi dết vào tay người lính Anh Wilkins Grayhead. Anh này ăn khúc xúc-xích, cầm cuốn kinh tiếng Ba Lan lắc đầu liệng xuống bùn lầy xứ Vlaanderen, cuộn tròn cái túi dết nhét thêm vào túi quân trang của mình. Hai ngày sau, Grayhead mất chân trái và được chở về London; giã từ Quân đội Hoàng gia chín tháng sau đó, anh được lãnh một số tiền trợ cấp nhỏ, và, không thể trở lại cái nghề danh giá lái tầu điện, đành nhận gác cổng cho một ngân hàng ở London.

Thế nhưng một người gác cổng nào phải có lợi tức kếch sù gì, mà Wilkins thì hai thứ nghiện ngập, rượu và thuốc lá, hai tật anh vướng mắc khi còn là chiến binh. Tiền không đủ, anh bèn đem bán những gì anh cho là dư thừa, và hầu như cái gì anh cũng thấy dư thừa cả. Anh bán đồ đạc, tiền đem uống rượu, bán hết quần áo ngoại trừ một bộ đồ lớn cũ kĩ đã sờn, và, khi chẳng còn gì để bán nữa, anh nhớ ra cái túi quân trang bẩn thỉu bỏ dưới hầm nhà thuở giã từ Quân đội Hoàng gia. Thế là anh đem bán khẩu súng lục gỉ sét khi trước anh lấy làm của riêng, một tấm vải lều, một đôi giày và cái túi dết của Stobski. (Thêm vài chi tiết, thật ngắn, về Wilkins Grayhead : số phận anh chẳng ra gì. Không sao dứt được rượu, anh mất cả danh dự lẫn việc làm, thành tội phạm và cuối cùng vào tù mặc dù đã bỏ mất chân trái trên đất Vlaanderen. Hư hỏng đến xương tủy, anh kéo lê kiếp sống lao dịch trong tù cho đến ngày từ giã cõi đời.)
 

Còn về cái túi dết của Stobski, đúng mười năm, nghĩa là đến tận năm 1926, nó nằm yên trong căn hầm hình vòm tối tăm của một người buôn đồ cũ ởSoho. Muà hè năm ấy, người buôn đồ cũ Luigi Banollo bắt gặp lời rao của một hãng mang tên Handsuppers Ltd. và xoa tay khoái trá: họ sẵn sàng mua những vật dụng chiến tranh và họ nói rất rõ là bất cứ loại vật dụng gì. Cùng con trai lục lạo hết kho hàng của mình, ông tìm ra hai mươi bảy khẩu súng lục hợp chuẩn, năm mươi tám cái ga-men, hơn một trăm tấm vải lều, ba mươi lăm túi đeo lưng, mười tám túi dết và hai mươi tám đôi giày – gốc gác đủ hết mọi quân đội châu Âu. Banollo nhận được một ngân phiếu 810 đồng bảng, trả tại một trong những ngân hàng lớn nhất London, và thế là kiếm được món lời khoảng 500%. Phần gã trẻ Banollo, gã sướng khoái không bút nào tả xiết khi thấy những đôi giày kia không còn nữa, từ trước một phần việc của gã là làm mềm, đánh bóng những giày ấy, tóm lại là chăm sóc chúng – nhiệm vụ mà bất cứ ai từng một lần phải chăm sóc ít ra một đôi giày tất hiểu rõ nó lớn lao dường nào.

Còn hãng Handsuppers Ltd., họ bán lại mớ đồ mua của Banollo (và được lời 850% – một lãi suất bình thường cho họ) cho một nước Nam Mỹ, nước này ba tuần trước đó ý thức được nước láng giềng là một đe doạ cho mình cho nên đã quyết định tăng cường trang bị quân sự. Cái túi dết của binh nhì Stobski, sau thử thách vượt biển trong lòng một con tầu tồi tàn (hãng Handsuppers chỉ sử dụng những con tầu tồi tàn mà thôi), vào tay một người Đức mang tên Reinhold von Adams, anh này, vì món tiền thưởng đầu quân 45 đồng pesetas, đã đi theo tiếng gọi của nước Nam Mỹ nói trên. Von Adams đã uống rượu hết 12 trong số 45 đồng pesetas khi người ta yêu cầu anh giữ lời hứa và đi, dưới quyền chỉ huy của tướng Lalango, tấn công biên thùy nước láng giềng, trong tiếng thét: “Chiến thắng và chiến lợi phẩm!”. Nhưng Adams bị trúng một viên đạn ngay đầu, và một người Đức mang tên Wilhelm Habke, đã đi theo tiếng gọi của nước Nam Mỹ láng giềng tuy món tiền thưởng chỉ là 35 đồng pesetas, chiếm được túi dết của Stobski. Lục cái túi dết, Habke không những vớ được 33 đồng pesetas còn lại, mà còn tìm thấy một mẩu bánh mì và nửa củ hành, cái mùi hành sực nức mấy tờ giấy bạc.

Tuy nhiên Habke chẳng mấy trăn trở với những chuyện đạo đức và thẩm mỹ; anh nhập món tiền thưởng của mình với số tiền tìm thấy và lại được ứng trước 30 đồng pesetas sau khi thăng hạ sĩ trong đoàn quân chiến thắng. Lật nắp cái túi dết và nhìn ra con dấu VII/2/II in bằng mực Tàu đen, anh chợt nhớ đến ông chú Joachim Habke ngày xưa phục vụ trong trung đoàn này trước khi tử trận và anh đâm ra nhớ nhà da diết. Anh xin giải ngũ, được tặng làm quà bức chân dung tướng Gublanez, và trở về Berlin bằng những con đường ngoắt ngoéo. Thế là, ngồi trong tầu điện đưa anh từ ga sở thú về Spandau, anh đi qua – mà chẳng hay – cục hậu cần, nơi, năm 1914, cái túi dết của Stobski đã lưu lại tám ngày trước khi được gửi đi Bromberg.

Hồi hương trong niềm vui của song thân, Habke trở lại với nghề đi giao hàng, nhưng chẳng bao lâu rõ ràng anh cứ hay mắc những lầm lẫn chính trị. Năm 1929, sau khi gia nhập hàng ngũ cái đảng với bộ đồng phục màu bùn gớm ghiếc, anh gỡ xuống cái túi dết vẫn treo trên đầu giường bên cạnh bức chân dung tướng Gublanez, khoác lên người cùng bộ đồng phục màu bùn những ngày chủ nhật đi thao dượt ngoài truông. Ai cũng nể anh vì anh hiểu biết nhiều về quân sự; anh cũng khoe khoang chút ít và, tuyên bố mình từng là tiểu đoàn trưởng thời cuộc chiến ấy ở Nam Mỹ, anh giải thích cặn kẽ ở địa điểm nào, trong những điều kiện nào và vì lý do nào anh đã cho lệnh bắn trọng pháo, quên phứt hồi đó anh đã chỉ bắn có một phát đạn trúng ngay đầu anh chàng von Adams tội nghiệp, lấy cắp mớ pesetas và chiếm cái túi dết của anh chàng này.

Habke lập gia đình năm 1929 và, năm 1930, vợ anh sinh cho anh một đứa con đặt tên là Wal-ter. Chú bé lớn như thổi, dẫu rằng hai năm đầu đời sao bản mệnh là tiền trợ cấp thất nghiệp; nhưng, ngay từ năm lên bốn, sáng nào chú cũng được ăn bánh nho, sữa đặc và cam, và, năm chú lên bảy, cha chú giao lại cho chú cái túi dết bạc phếch mà bảo : “Con phải trân trọng giữ cái này, nó là của ông con, Joachim Habke, bị bọn phiến loạn cộng sản đem bắn năm 1918 sau khi từ lính trơn lên đến cấp đại úy và tham dự mười tám trận mạc. Chính cha cũng đã đeo nó thuở cha chinh chiến bên Nam Mỹ, cha mới là trung tá thôi, nếu tổ quốc không cần đến cha thì cha đã lên tướng rồi.”

Wal-ter giữ cái túi dết hết sức trân trọng. Chú mang nó cùng bộ đồng phục màu bùn của mình từ năm 1936 đến năm 1944, luôn tưởng nhớ đến ông anh hùng, cha anh hùng của mình và thận trọng kê nó dưới đầu những khi qua đêm trong một vựa lúa. Chú cất giữ trong túi dết bánh mì, phô-mai, bơ và cuốn sách ghi những bài hát; chú chải, chú giặt túi dết, hân hoan thấy màu vàng lợt ngả sang màu trắng dịu. Chú chẳng hề ngờ người ông anh hùng và huyền thoại là một hạ sĩ chết trong bùn lầy một cánh đồng vùng Vlaanderen, không xa nơi một phát đạn trái phá trúng ngay và giết chết tức khắc binh nhì Stobski.

Wal-ter Habke đến tuổi mười lăm. Nếu như ở trường trung học Spandau chú học rất khó nhọc tiếng Anh, toán và tiếng La-tinh, chú vẫn tôn kính cái túi dết của mình và vẫn tin tưởng các bậc anh hùng cho đến ngày chính chú cũng bị buộc phải làm anh hùng. Đã lâu rồi cha chú đi tái lập trật tự, có Trời biết nơi nào và bằng cách nào, ở đâu đó bên Ba Lan, và ít bữa sau khi ông trở về, giận dữ, đi tới đi lui trong phòng khách chật hẹp ở Spandau, hút thuốc hết điếu này đến điếu khác, miệng lầm bầm “phản bội… phản bội…” – vậy thì ít bữa sau đó, Wal-ter Habke bị buộc phải làm anh hùng.

Một đêm tháng 3 năm 1945, chú nằm sau khẩu đại liên của mình bên ngoài một thôn làng vùng Pommern và chú lắng nghe một tiếng rền, như tiếng dông bão, y hệt như ở rạp chiếu bóng. Bóp cò súng, chú bắn tưới vào đêm đen và cảm thấy muốn khóc. Chú nghe thấy tiếng người trong đêm, những tiếng lạ lẫm, chú lại bắn, lắp thêm một băng đạn, và khi bắn hết băng đạn thứ hai, chú bàng hoàng nhận thấy chung quanh hoàn toàn yên lặng : chú chỉ có một mình. Chú đứng lên, chỉnh lại đai lưng, yên tâm vẫn còn cái túi dết của mình, và lần mò trong đêm đi về hướng tây. Chú bắt đầu làm một việc hết sức tai hại cho chủ nghĩa anh hùng : chú bắt đầu suy nghĩ – chú nghĩ tới cái phòng khách chật hẹp, nhưng rất thảnh thơi, chẳng ngờ rằng chú nghĩ tới cái không còn nữa. Gã trẻ Banollo, kẻ đã có lần cầm trong tay túi dết của Wal-ter, bấy giờ đã bốn mươi tuổi, và, lượn nhiều vòng trên bầu trời Spandau, ngồi trong chiếc oanh tạc cơ của mình, gã đã mở nắp hầm bom và phá tan cái phòng khách rất thảnh thơi cho dẫu chật hẹp; nay thì cha của Wal-ter đi tới đi lui trong căn hầm nhà láng giềng, hút thuốc hết điếu này đến điếu khác, miệng lầm bầm “phản bội… phản bội…”, lòng tràn ngập những tình cảm hỗn độn mỗi khi nghĩ tới trật tự mình đã tái lập ở Ba Lan.

Wal-ter cứ lần mò đi trong đêm, đầu óc suy nghĩ miên man, về hướng tây, cuối cùng tới một vựa lúa bỏ hoang, ngồi bệt xuống, kéo túi dết ra trước bụng, mở ra, nhá bánh mì khô, mác-ga-rin và mấy cái kẹo; và cái kẻ lính Nga bắt được nơi ấy là một thằng bé mười lăm tuổi, thiêm thiếp ngủ, mặt mũi nhòe nhẹt nước mắt, mấy băng đạn đại liên trống không đeo trên cổ, hơi thở chua lòm. Đám lính Nga xô nó vào với một đoàn người và Wal-ter Habke lên đường đi về hướng đông. Nó chẳng bao giờ còn thấy lại Spandau. Trong thời gian ấy, Niestronno, khi trước là đất Đức, trở thành đất Ba Lan, trở lại thành đất Đức rồi lại thành đất Ba Lan, và bà mẹ Stobski nay đã bảy mươi lăm tuổi. Lá thư của đại úy Hummel vẫn còn trong tủ dù từ lâu chẳng còn tấm dạ nào. Bà mẹ Stobski cất khoai trong tủ, và giấu phía sau khoai là một khúc giăm-bông lớn, mấy quả trứng trên một cái đĩa sứ và, vùi sâu trong tối, một bình dầu. Củi chồng chất dưới gầm giường và, trên tường, lập lòe một ngọn đèn dầu trước hình Đức Mẹ Đồng Trinh Czestochowa. Một con lợn còm nhòm lừ đừ phía sau, trong chuồng chẳng còn một con bò cái, và, trong nhà, ồn ào như cái chợ bảy đứa con gia đình Wolniak – nhà cửa gia đình này ở Warszawa đã tan nát hết. Bên ngoài, trên con lộ, lũ lượt những lính tráng sức tàn lực kiệt, chân rướm máu và mặt đờ đẫn. Hầu như ngày nào cũng có. Mới đầu, Wolniak ra đứng bên lề đường và lăng mạ họ, đôi khi còn nhặt đá ném, nhưng bây giờ ông không ra nữa mà ngồi yên trong phòng, căn phòng nơi xưa kia Stobski chữa đồng hồ, khắc vòng và, khi chiều xuống, mân mó mấy cái bánh xe con con dính đầy dầu mỡ.

Năm 1939, tù binh Ba Lan lũ lượt trên con lộ này, dưới mắt dân làng, đi về hướng đông, rồi những tù binh Ba Lan khác đi về hướng tây; sau đó đến lượt tù binh Nga đi về hướng tây, và bây giờ, từ lâu rồi, là tù binh Đức đi về hướng đông. Dẫu đêm còn rét mướt, tối đen, và dân làng Niestronno thường thì ngủ rất say, họ vẫn choàng tỉnh mỗi khi, đêm khuya, tiếng những bước chân ấy âm u dội vào đường phố.

Sáng sáng, ở Niestronno, bà Stobski là một trong những người thức dậy sớm nhất. Choàng áo khoác ra ngoài áo ngủ màu lục lợt, bà đốt lò, tra thêm dầu vào ngọn đèn nhỏ trước hình mẹ Chúa Trời, đi đổ tro vào đống phân bón, cho con lợn còm nhòm ăn, rồi, trở về phòng, thay đồ đi nhà thờ dự lễ. Và thế là, một sáng tháng 4 năm 1945, bà khám phá trên ngưỡng cửa một gã thiếu niên tóc vàng hai tay ôm chặt cái túi dết bạc phếch. Bà Stobski chẳng hề kêu một tiếng. Bà đặt xuống gờ cửa sổ cái túi len đen đựng một cuốn kinh tiếng Ba Lan, một cái khăn tay và vài ngọn lá thơm, cúi nhìn gã trẻ và thấy ngay là hắn chết rồi. Lúc ấy bà cũng chẳng hề kêu một tiếng. Trời vẫn còn tối, ánh sáng duy nhất là ánh vàng vọt chập chờn sau cửa sổ nhà thờ. Bà Stobski thận trọng gỡ cái túi dết khỏi tay người chết, cái túi dết ngày xưa đựng cuốn kinh của con trai bà với một khúc xúc-xích do chính tay bà làm, bà kéo gã thiếu niên vào nhà, và đi về phòng mình, tình cờ cầm theo cái túi dết . Bà ném nó lên bàn, rồi lục lạo mớ giấy bạc zlotys bẩn thỉu và có thể nói chẳng còn giá trị gì, trước khi cất bước đi đánh thức người đào huyệt trong làng.

Về sau, khi gã trẻ được chôn cất rồi, bà mới lại thấy cái túi dết trên bàn, cầm lên, ngần ngừ một lúc rồi đi lấy búa đóng hai cái đinh lên tường; bà treo túi dết lên và định sẽ dùng để cất hành củ.

Phải chi bà mở rộng cái túi dết thêm một chút, nhắc hẳn cái nắp lên, bà sẽ thấy con dấu in mực Tàu đen mang cùng con số như trên đầu lá thư của đại úy Hummel.

Thế nhưng chẳng bao giờ bà mở rộng cái túi dết cả.


(Dịch theo bản tiếng Pháp của Pierre Galissairien)

 



 

Chú thích của người dịch:
[1] Tandem, tiếng La-tinh, có nghĩa “lâu dài”, “dần dà”, trở thành tiếng Anh, rồi tiếng Pháp, Đức… với nghĩa “đôi, cặp” và “xe đạp hai người đạp”. 
[2] Món ăn của người Hung: thịt hầm với hành, cà chua và ớt bột. 
[3] Hiệp sĩ Götz von Berlichingen, nhân vật trong vở kịch mang cùng tên của văn hào Goethe, bị vây hãm, đã văng tục để trả lời sứ giả địch đòi ông phải đầu hàng.

 

 

Thảo luận cho bài: "Những cuộc phiêu lưu của cái túi dết"