Những Ký Họa Dang Dở

Tác giả:

Ðàn ông và đàn bà. Âu và á và Phi… Ðồ đạc đơn 

giản và lỉnh kỉnh. Một cái ghế gấp để ngồi và một cái đặt trước mặt. 
Cho khách. Cạnh đó là một tấm biển nhỏ ghi giá tiền. Một tấm bảng 
ghim sẵn giấy. Những ống màu và chì. Ba lô bẹp quăng dưới chân. 
Gương mặt họ nhàu, vừa thờ ơ vừa căng thẳng. Nhất là lúc có đám 
khách vãng lai nào bước chậm lại trước hàng người. Một cái gì từa tựa 
nụ cười đồng loạt hiện trên mặt họ, nửa mời chào, nửa ngượng nghịu, 
rồi những nụ cười ấy tan từ từ khi đám người tản đi, hoặc giả một ai 
đó quyết định ngồi xuống một cái ghế gấp trước mặt một họa sỹ. Ðấy 
là cảnh chợ vẽ chân dung ở Berlin vào một chiều cuối hè. " Ðông thêm 
một tý thì giống chợ người Giảng Võ." ý nghĩ quét nhanh qua đầu. Tôi 
gặp lại Hồ Diểu chính ở đó. 


***

Chúng tôi đã để qua đi cái phút phải chào nhau. Và vì thế mà Hồ Diểu 
và tôi giữ nguyên vẻ lạnh lùng trước nhau như đã từng thế gần hai 
mươi năm về trước. Bây giờ tôi ba sáu tuổi. Vậy thì Hồ Diểu phải sắp 
năm mươi. Mái tóc bồng bềnh năm xưa giờ để dài hơn, buộc thành một 
túm sau gáy. Ðúng mốt nhưng trông thảm thảm thế nào. Có lẽ vì bạc 
cả. Gương mặt ngày xưa thanh tú giờ vạc xuống từng nét khắc khổ. 
Và đôi mắt… Mất đâu rồi cái tia nhìn ăm ắp ngưỡng mộ hồi nào đã làm 
tôi sững sờ? Hồi ấy Hồ Diểu đã là họa sỹ, một họa sỹ trưởng thành từ 
phong trào công nhân. Cái lúc Hồ Diểu còn giữ nguyên chữ " văn" ở 
giữa tên và họ thì tôi còn rất nhỏ và hầu như không thèm quan tâm gì 
tới thế giới rắc rối của người lớn. Nhưng khi tôi đã lớn, cái tên Hồ Diểu 
và cái danh họa sỹ Hồ Diểu đã là một cái gì rất bất thường đối với tôi 
và nói chung là đối với bọn con gái mới lớn như tôi.


Ðúng là thế. Chúng tôi sống ở khu tập thể, nhìn quanh bố mẹ ấy bố mẹ 
tớ anh mày chị tao toàn là công nhân, và tương lai cả đám cũng là cố 
sao hết cấp ba rồi theo chân bố mẹ anh chị bước qua cổng nhà máy. 
Gia cảnh giống nhau nên nếp sinh hoạt của các nhà cũng giống nhau. 
Bảnh mắt là nhà nào cũng nhốn nháo. Xô tôn chậu nhôm va choeng 
choeng ở máy nước công cộng. " Mấy con bà cô này tí tởn cả ngày làm 
gì mà mở mắt đã ra trấn máy nước?" – Một bà vừa cười vừa hét. " ừ 
đúng rồi! Giờ này phải nhường cho người ta. Ai cũng đi làm sớm. Con 
cái cơm nước quắn cả đít." – Bà khác. Một ông rõ ràng là độc thân 
chẳng đôi hồi thò tay bê phắt cái chậu đựng đầy quần áo đang giặt dở 
đặt ra xa, đẩy luôn cái xô to vật của mình vào dưới vòi nước. Mấy con 
bà cô chúng tôi tức tối đứng nhìn, tức tối nghĩ tới cái lúc mẹ rền rĩ:" 
Con gái con đứa! Chúng mày làm gì mà quần áo chất đống đấy cả 
ngày? Sao không giặt từ chiều hả giời?" Làm gì? Thưa mẹ chúng con 
học ạ. Thưa mẹ chúng conđi xếp hàng ạ. Hôm nay mua gạo ngày mai 
mua dầu ngày kia nước mắm mới về. Thưa mẹ chiều nào cũng mất 
nước ạ. Xếp hàng chồn chân mới vo gạo rửa rau tắm táp được và mới 
xáchđược hai xô nước lên nhà đấy ạ. Một câu nói ngoan ngoãn như 
thế vậy mà chẳng đứa nào dám nói. Biết nói là mẹ sẽ lồng lên a mày 
cãi giả, tao khổ sở nuôi mày ăn học để hôm nay mày câu trước câu 
sau với tao thế đấy phải không? Bố khéo lại nổi khùng cho cái bạt tai 
trước lúc xách xe đi làm. Cái lẽ phải của người lớn… Rút cục là mẹ cứ 
việc cấm cảu than vãn con cứ làu bàu biện bạch…


Thế cho nên đám con gái dĩ nhiên phải nhấm nháy nhau trước Hồ Diểu. 
Tóc quăn dợn sóng hơi dài. Quần loe chắc phải may trong Sài Gòn. áo 
chim cò bó sát đôi vai nở. Sambô to như một cái thuyền bóng loáng 
dưới chân. Bao giờ cũng thư thả và điềm đạm. Và ria mép. Và kính râm. 
Và xe cuốc Liên xô. Bố tôi khen: " Cậu này thế mà khá! Hồi mới vào nhà 
máy trông cũng xơ xác lắm. Cứ tưởng không theo hết được ngần ấy 
năm Mỹ thuật!" Chú Bình tầng trên sát phòng Hồ Diểu thì rủa: " Cái 
thằng óng ả như đàn bà. Qúy báu gì cái đồ mái hóa ấy. Người ta năm 
giờ sáng đã phải mắt nhắm mắt mở bò dậy cơm nước đi làm, thằng cha 
lại thức suốt đêm nghe nhạc. Toàn ẽo ợt nhìn lại nhìn lại cái gì nữa 
nhỉ… cái gì đời lên rêu… Làm cho thiên hạ không ai ngủ được. Thế nào 
cũng có thằng cáu lên đi báo ban quản trị khu tập thể hay công an 
phường!" Giọng chú Bình cay cú. Cô Thùy vợ chú nhìn chồng đầy vẻ 
khích bác: " Ông ngáy còn to hơn cả Zin ba cầu còn than oán nỗi gì? 
Mà chị này, thằng cha moi đâu ra những bài hát hay qúa thể. Dưới này 
chị có nghe thấy không? Em nhiều đêm nghe hóng. Chỉ muốn khóc. 
Sáng ra mắt cay xè. Có lần suýt thò cả ngón tay vào cho máy cán." 


Tôi đã đặt cho tôi một cái ngưỡng để vượt qua: Không vào làm ở nhà 
máy của bố mẹ. Phải vào được đại học. Ðại học gì chưa biết. Nhưng 
phải vào. Chẳng phải là có khát vọng sống để đời gì. Cũng chẳng phải 
là có nghị lực như các thầy cô hay phê vào học bạ mỗi kỳ bế giảng. 
Ðơn giản vì tôi là người ốm chuyên nghiệp và tôi biết rằng chẳng dễ gì 
mà làm thợ. Cả nhà máy biết con ông Hộ Khoèo hen rụt đầu rụt cổ. 
Thở còn không nổi thì biết vào đó làm gì? Thế nghĩa là phải học. Nhưng 
cái đầu tôi thật bất trị. Lẽ ra phải dọn chỗ cho công thức hình đại 
lượng hay một cái gì tương tự thì trong đó toàn âm vang những giai 
điệu mà chú Bình kêu là ẽo ợt. Rất nhiều đêm không nằm được vì khó 
thở, tôi đã ngồi nhìn sao và nghe. Từ trên cao rớt xuống giọng ràn rạn 
không ai bắt chước nổi của Khánh Ly: " Mưa vẫn mưa bay trên tầng 
tháp cổ…" " … từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…ôi 
những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa…" Ngực đau âm 
âm. Hai tai ù ù. Cổ như cứng lại vì khí quản không co giãn nổi. Mồ hôi 
vã đầm đìa ngay giữa đêm đông. Khánh Ly than van: " Cho trăm năm 
vào chết một ngày…" Có một đêm như thế. Thành phố mất điện. Trời 
đầm đìa trăng. Vào khuya, ánh trăng càng huyền hoặc, làm những vì 
sao mờ đi. Không khí quánh đặc mùi hoa sữa. Mùi hoa tuyệt diệu báo 
hiệu một mùa khủng khiếp với người bị hen như tôi. Cả nhà đã ngủ. Cả 
khu tập thể đã ngủ. Ngoài kia, phố chắc cũng đã ngủ. Ngủ rồi. Những 
đứa bạn vẫn thường mắt tròn mắt dẹt về những chuyện khá là thô bỉ 
của các bà các chị lớn tuổi bên máy nước công cộng. Những đứa trẻ 
con rắn mặt vẫn hay mắt trước mắt sau tháo trộm van xe đạp các nhà 
dựng trước cửa ban ngày. Những người lớn bần tiện, chăm chỉ, tội 
nghiệp. Chỉ còn tôi, thức, với cơn hen riêng mình. Và Trịnh Công 
Sơn. " Nhìn những mùa thu đi em nghe sầu lên trong nắng… Gió heo 
may đã về… chiều tím loang vỉa hè… Rồi mùa thu bay đi… Trong nắng 
vàng chiều nay." ừ! Chiều nay nắng vàng, hanh hao, làm đỏ má những 
cô gái đang đi qua mùa thu. Nên đêm nay trăng xanh. Bóng những con 
vật gì đen thù lù di động chậm chạp dưới sân. Mèo? ở đâu ra lắm mèo? 
Chuột cống! Trời ơi đúng rồi chuột cống! Những con chuột cống ngang 
nhiên gặm ánh trăng. Giọng Khánh Ly đau đớn đến lãnh đạm và vô cảm 
vẫn rớt xuống… rớt xuống…" nhìn lại mình đời đã xanh rêu." Cái đẹp 
chao đảo giữa những thanh âm, giữa không gian rời rợi trăng và không 
thể nắm bắt. Những con chuột lì lợm hưởng trăng như người. Cảnh đó 
kì dị đến nỗi tôi không thể nào nhắm được mắt lại, nhìn như bị thôi 
miên. Giống như cái ta tưởng là ảo ảnh và làm ta khiếp sợ khi hiểu rằng 
không phải là một giấc mơ dữ. Là thực. Năm ấy tôi mười sáu tuổi. Ðang 
chờ kết qủa thi đại học. Ðang bồn chồn, khao khát, thấp thỏm. Tôi đã 
nghe Trịnh Công Sơn như thế,đã nghe trong nỗi tuyệt vọng không thể 
nào hiểu nổi. Và khóc. Tiếng khóc ậm ực không thoát ra nổi lồng ngực 
con gái không lớn được của tôi. Cả nhà hốt hoảng. " Ephedrin không ăn 
thua gì nữa rồi. Hay là con uống viên Prednisolon này. Chịu khó đi con. 
ốm thì phải uống thuốc chứ." Mẹ gắt, rồi mếu: " Thôi anh cho con đi 
cấp cứu đi!" Bố cuống cuồng mặc áo: " Gắng một tý thôi con. Ba giờ 
sáng rồi. Vào viện họ tiêm cho một mũi là đỡ ngay, là ngủ được thôi." 
Tôi không còn sức để trả lời, chỉ gắng ngoẹo đầu lau mặt vào vai áo. 
Nước mắt ở đâu ra lắm thế không biết. Trong đầu âm u giọng hát 
Khánh Ly, âm u hình ảnh bầy chuột cống ngang nhiên bò trong trăng, 
âm u hơi thở của chính mình. Và ý nghĩ: Chết mất thôi. Chết mất thôi. 
Thôi cũngđược. " Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…" 


Thiếu cái cassette của Hồ Diểu, thiếu Trịnh Công Sơn, thiếu Khánh Ly, 
tôi không biết tôi sẽ qua những đêm dài tuổi lớn ấy như thế nào. Ðêm 
từng đêm quađời, tôi không biết Hồ Diểu làm gì. Chỉ nghe. Hay còn vẽ. 
Trên báo Lao động tranh Hồ Diểu xuất hiện khá thường. Toàn tranh đả 
kích. Không gây ấn tượng gì với tôi. Nhưng làm tôi ngỡ ngàng. Có thể 
có những xúc cảm ấy chăng khi xung quanh giăng mắc Trịnh Công 
Sơn. " Màu nắng hay là màu mắt em. Mùa thu mưa bay cho tay mềm. 
Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm… Em qua công viên bước 
chân âm thầm. Ngoài kia nắng thủy tinh vàng…" Ðêm đêm, từ cửa sổ 
phòng Hồ Diểu, những thanh âm ấy rớt vào tôi, trĩu nặng, hoang vắng, 
xa xót… Bọn con gái trong khu tập thể cũng mê Trịnh Công Sơn của 
hiếm sau ngày thống nhất. Những đứa táo tợn nhất đã gõ cửa phòng 
Hồ Diểu buổi trưa khu tập thể vắng người, và khi cửa mở thì hùng dũng 
ẫn một bọn lốc nhốc vào đứa " xin chú" đứa xưng xưng gọi anh mở Trịnh 
Công Sơn. Không bao giờ có tôi trong đó. Không bao giờ tôi có một 
quyển sổ chép bài hát và thơ như lũ con gái cùng tuổi. Nhưng không 
hiểu sao tôi cứ nghĩ là tôi gần Hồ Diểu hơn tất cả bọn chúng nó gộp 
lại. Nhưng không hiểu sao tôi không bao giờ chào Hồ Diểu. Gặp nhau ở 
máy nước công cộng, chúng tôi tự động bỏ xô chậu của mình ra, người 
kia cũng tự động đặt xô chậu của mình vào, hứng đầy thì nhấc 
ra, " cảm ơn" , lơ lửng. Còn nếu giáp mặt ở cầu thang hẹp, chúng tôi 
lặng lẽ đi qua nhau, tránh hết sức để khỏi đụng phải nhau. Một chiều 
cuối hè chúng tôi đã gặp nhau như thế. Khu tập thể giờ ấy vắng ngắt. 
Người lớnđi làm chưa về. Trẻ con đứa đi học đứa lôi nhau lông rông 
ngoài phố. Bọn con gái vừa tốt nghiệp phổ thông chưa kiếm được việc 
làm tụ bạ đâu đó đan móc và chuyện gẫu. Tôi đạp xe từ nhà bạn về. 
Nắng hoa mắt. Hồ Diểu đi xuống đúng lúc tôi nghiêng người tính bê xe 
lên gác. Hồ Diểu đứng sững, cái xe " cuốc" nguềnh ngoàng còn nguyên 
trên tay. " Ðẹp quá!" Mắt Hồ Diểu ăm ắp một vẻ ngưỡng mộ sững sờ. 
Như nói với riêng mình. Chân tôi run bắn.


***

Tôi không bao giờ nghĩ rằng câu nói ấy có thể làm thay đổi cuộc đời 
em. Căn phòng nhỏ của tôi ở ngay trên phòng nhà em. Em không thể 
biết rằng nhiều đêm tôi nghe tiếng em rên rỉ trong giấc ngủ nhọc nhằn, 
tôi đã mường tượng được cả dáng em ngồi rướn lên mệt lả giữa những 
trận ốm dài như mùa đông – những mùa đông của tôi, thằng đàn ông 
khổ sở không phải vì độc thân mà vì đã có gia đình. Em không thể biết 
rằng tôi đã thức,đã nhìn bóng em hắt xuống sân và bò dài trên mái dãy 
nhà một tầng đối diện,đã mở Trịnh Công Sơn thâu đêm để cùng em 
nghe. Tôi muốn thức theo em. Em không biết. Em cũng không biết rằng 
không có một cậu con trai nào có thể thiết tha đến nhường ấy khi họ 
còn quá trẻ, hoặc giả chưa biết hoài nghi mình là thế nào.

Tôi đã vẽ một bức tranh. Vẽ rất nhanh. Sau đó ngồi thở rốc. Như một 
người vừa gò lưng đạp xe lên được đỉnh dốc và lại thấy ngay trước mắt 
mình một cái dốc khác dựng ngược. Bức tranh ấy không bao giờ em 
thấy. Trăng sa tanh. Trăng âm thanh. Như nhạc. óng ánh. Dào dạt. 
Những con chuột cống to như những con mèo bò trong trăng. Tôi đã 
rất mạnh tay đắp những mảng màuđen xám khi vẽ chúng. Rồi run. Có 
cảm giác chúng phình to ra, không bao giờ ra khỏi bóng trăng. Nỗi đọa 
đày của con người trong một đời sống tủn mủn, thảm hại, cũng đầy 
những đọa đày. Mấy cô bé đến phòng tôi tò mò: " Chú vẽ cái gì thế 
này?" – " Chuột đấy! Chuột cống đàng hoàng!" Các cô bé rú lên: " Eo 
kinh quá! Sao chú lại vẽ đồ của nợ ấy. Sao chú không vẽ như trên báo 
ấy?" Thủ trưởng của tôi cũng bảo tôi thế: " Cậuđi lên từ phong trào 
công nhân.

Cậu cần lặn ngụp trở lại trong môi trường ấy." Ông thật tốt bụng và 
giản dị. Nhưng ông là cán bộ. Ông không khổ cái khổ của những thằng 
đã trót lụy chữ nghĩa, mảng màu, hình khối, giai điệu, tiết tấu như 
chúng tôi. Có lần tôi trèo lên xe buýt. Xe vắng người. Một đám trai gái 
có vẻ sinh viênđứng ở đầu xe. Xe đi qua những ngã ba có chăng khẩu 
hiệu và có dựng những tấm pa-no. Toàn tranh cổ động. Chẳng nhớ 
vào dịp gì. Mấy cô cậu sinh viên chỉ trỏ: " Nhìn kìa! Công nông binh 
trông hớt hơ hớt hải!" Một cô cười khanh khách: " Tinh thần tiến lên 
cao thế mà lại bảo hớt hơ hớt hải. Nhìn lại mà xem! Tất cả đang truy 
kích Bác đấy." Cô đứng ngay trước mặt tôi lườm bạn: " Dại mồm dại 
miệng trước bí thư chi bộ chi đoàn trong nội trú thì mày chết. ừ nhưng 
mà trông cũng thế thật nhỉ. Lúc nào cũng hò tiến lên, tiến lên. Hôm 
vừa rồi mày nghỉ học không biết nhỉ? Thầy Khái đọc trước lớp hẳn 
hoi: " Tiến lên phía trước tiến lên hàng đầu. Hàng đầu rồi biết đi đâu. Ði 
đâu không biết hàng đầu cứđi." Chỉ có mấy ông lính về bôn sền sệt (*) 
là không cười. Thầy ấy có vẻ bất mãn. Nhưng mà khôn kinh,đọc câu ấy 
là để chứng minh luận điểm văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển 
cùng văn học bác học đấy. Nói vậy chứ kể thầy ấy cũng dũng cảm!" 
Tôi nghe và không dám nhìn. Trong đầu hình dung rành rọt bố cục hình 
khối của bức tranh: Người lính cầm ngang khẩu súng giơ cao. Người 
công nhân cầm búa cũng giơ cao. Một chị nông dân cơ bắp cuồn cuộn 
nhưng mặt bầu bĩnh bất thường một tay nâng bó lúa ngang đầu. Tất 
cả trong tư thế lao về phía trước. Và phía trước: Hình Bác hiển hiện. 
Phấp phới cờ. Ðấy không phải là tranh của tôi. Nhưng không phải là tôi 
chưa từng vẽ một cái gì như thế. Bất giác tôi nóng mặt. Bất giác nhớ 
ông thủ trưởng giản dị và tốt bụng. Ông sẽ phản ứng như thế nào khi 
vô tình nghe được những câu trên. Chắc chắn ông không xấu hổ. Ông 
không phải chịu trách nhiệm về những điều ấy. Nhưng biết đâu ông 
cũng hoang mang…


Tôi cứ thèm một lần em thấy tranh tôi. Em sẽ không hỏi rằng tôi vẽ gì 
phải không em? Ðồng cảm không phải là cảm nghĩ giống nhau mà là 
cảm giác người kia hiểu mình. Khi đó người ta sẽ không giấu mình trước 
nhau nữa. Tại sao chúng ta lại không thể bộc bạch cùng nhau như 
thế? Buổi trưa, các cô bé thường gõ cửa phòng tôi đòi nghe nhạc. Nói 
thật là tôi ngại. Ai bảo nhà tôi là tụ điểm nghe nhạc vàng là rách 
việc.Tôi lại là đàn ông,đàn ông có vợ,đàn ông xa vợ. Nhưng mà tôi 
chưa bao giờ từ chối các cô bé. Có cô gọi tôi là anh. Có cô gọi tôi là 
chú nhưng mắt đầy vẻ đe dọa bỡn cợt: " Ðừng hòng!" Họ không biết 
rằng tôi coi họ như mấy đứa cháu con ông anh cả thật. Họ quá vô 
tưđể có thể lôi tôi ra xa trách nhiệm chủ một gia đình. Tôi không yêu 
vợ tôi. Nhưng tôi không thể không thương con tôi. Tôi đã thấy vẻ bàng 
hoàng của em lúc tôi đưa vợ con ra máy nước công cộng giặt giũ. Các 
bạn em cười rúc lên gọi vợ tôi là cô xưng cháu và xin quà quê. Em khi 
ấy mười chín nhỉ? Em khi ấy hết năm thứ hai rồi nhỉ? Em mặc cái áo 
hoa có miếng vá rất nền ở vai. Tự dưng tôi ngại ngùng nhìn vẻ xanh đỏ 
thái quá của vợ tôi. Phụ nữ thị xã thường ưa màu cơ bản và may vá 
vụng, và mau mồm miệng… Hình như em đã nhường vợ tôi lấy nước 
trước. Em đứng xuôi tay trong bóng râm cách máy nước một quãng xa. 
Viền môi trên lấm tấm mồ hôi. Mái tóc rất dày cặp ngược đầy vẻ trễ 
nải. Hình như chúng ta nhìn nhau. Tôi không dám đoán mắt em ẩn 
những ý nghĩ gì. Tôi nhớ lúc ấy tôi thấy chua xót. Tôi biết em từ khi 
em còn bé. Tôi gọi bố mẹ em là anh chị. Tôi mãi mãi là người đi bên đời 
em…


… Dù rằng tôi để ý đến em nhiều đến thế. Ðêm. Ngày. Tôi biết em ốm 
yếu. Tôi biết em nhiều bạn trai. Tôi biết em chưa yêu. Có lần tôi làm 
như tiện miệng hỏi bạn em. Cô bé beo béo và cười to ấy. Cô bé cười 
tinh quái: " Ve sầu ngủ đông lớp cháu hồi cấp hai cấp ba đấy chú. Bọn 
con trai ngốc lắm. Cứ sấn vào yêu nó rồi rên rỉ với nhau đã yêu em từ 
chân tới cổ còn cái đầu yêu cố không xong." – " Có mà yêu được nó 
khối – Cô bé người nhẳng nhẳng như con cò ma góp lời – Nó kiêu bỏ 
xừ!" – " Cũng tại nó học được đi!" – " ừ thì học giỏi! Nhưng việc gì… Chú 
không biết thì thôi! Nhà nó hai chị em, sinh viên, cứ thứ bảy là bọn con 
trai xếp hàng vào cửa. Cứ thứ bảy là nó mang áo vá ra diện. Không 
thằng nào biết vì saođâu. Có một cậu học ở tây về nghỉ hè mang quà 
đến vây vo. Nó chối phắt. Ôi diêu cả người!" Những mẩu chuyện chắp 
nhặt đầy hào hứng chen giữa Trịnh Công Sơn ai cũng đòi bật mà chẳng 
ai buồn nghe. Tôi đã biết về em nhiều hơn em tưởng. Tôi đã buột 
miệng " đẹp quá" rất không đúng lúc. Cũng không hợp chỗ. ở cái chiếu 
nghỉ cầu thang tối tăm ấy… … Em đi đâu về. Nắng. Em không mang 
nón. Tôi biết rằng em hay đi đầu trần dưới nắng. Má em hồng rất dịu. 
Sắc hồng bao giờ tôi cũng yêu và bao giờ cũng trở thành thừa thãi ở 
những cô gái quá mạnh khỏe. Lông mày em dài thật dài. Mắt em đen 
thật đen. Mồ hôi lóng lánh ở viền môi trên. Ngực áo em căng ra bởi cái 
xe đạp kè bên hông. Tôi giật mình bởi vẻ mặt em vốn chẳng bao giờ 
vồn vã chợt lạnh hẳn đi khi tôi buột miệng khen em đẹp. Không! Chưa 
bao giờ tôi có ý nghĩ không phải! Lúcđó tôi không nói như một thằng 
đàn ông nói. Lúc đó tôi nói như một họa sỹ phải nói.


***

Chân tôi đã run bắn khi nghe tiếng Hồ Diểu. " Ðẹp quá!" Chưa bao giờ 
tôi nghĩ như thế về mình. Nhà tôi thường rất đông con trai tới chơi, 
nhất là khi cả tôi cũng vào đại học. Nhưng tôi nghĩ thế là vì chị tôi 
đẹp, và bố mẹ tôi rất " chịu chơi" với bạn của con. Tôi cam chịu chung 
sống hòa bình với bệnh tật, cam chịu những thiếu hụt trong đời mình. 
Cái việc đeo một cái kính thật to không mài bớt mắt che gần hết nửa 
khuôn mặt gầy, vòng không nhẫn không dây chuyền không, hay không 
tỉa lông mày mảnh như sợi chỉ như chúng bạn, hay thêu vào ống quần 
hai chữ MALEM cũng là một cách tôi bày tỏ sự cam chịu. Bảo là thách 
thức cũngđược. Chẳng với ai. Ðằng nào cũng chẳng khác được. Vậy 
tại sao lại phải ra vẻ tội nghiệp. Nhưng cũng không hẳn là thế. Bậc các 
anh bạn chị tôi thì tôi không định với vào. Chỉ nhăm nhe anh nào hiền 
hiền xui chị chọn vào chung kết. Còn bọn bạn tôi thì không hiểu sao tôi 
toàn thấy dễ hiểu quá. Vui cũng dễ hiểu. Buồn cũng dễ hiểu. Và còn 
thật điên rồ khi ấp úng bảo rằng muốn ở bên tôi để giúp đỡ tôi trên 
đường đời. Làm như trước khi gặp nhau thì tôi không sống. Không bao 
giờ tôi có thể kể cho bạn bè cả trai lẫn gái của mình rằng mưa phùn và 
nắng hanh, gió bấc và hoa sữa, mùa lá cây cơm nguội xanh và hoa 
xoan tím làm tôi ốm khổ ốm sở nhưng tôi yêu. Không bao giờ tôi có thể 
nói về nỗi tuyệt vọng khi nghe Trịnh Công Sơn giữa một đêm trăng lù lù 
toàn chuột cống. Tôi không thể kể cho ai. Tôi không thể yêu ai.

Nhưng tôi vẫn mong có một ai đó nói rằng tôi đáng yêu, rằng muốn có 
tôi trong đời. Chỉ đơn giản là vậy. Có thể không là duy nhất. Có thể 
không là đầu tiên. Tôi không chờ nhiều đến thế. Chẳng thấy một anh 
chàng nào biết nói. Họ ngồi ám ở nhà tôi cả chiều cả tối, mặt mũi lúc 
thì hớn hở lúc thì sưng sỉa, và trách móc tôi không chịu hiểu ai. " Có 
yêu thì nói rằng yêu – Không yêu thì nói một điều cho xong." Phải! Tôi 
chỉ mong họ dàn hàng ngang ngỏ lời để tôi lần lượt cảm ơn từ chối cho 
xong quách.

Hồ Diểu bảo " đẹp quá" . Tôi tưởng tim mình ngừng đập. Máu dồn lên 
mặt rút ào xuống chân. Rồi đâm phẫn nộ. Rồi ghê ghê. Cái ý nghĩ một 
người đàn ông đã vợ con không thể nói một điều gì không hàm thêm ý 
quấy rầy tôi suốt tuổi con gái. Tôi bứt dứt suốt tuổi con gái bởi lời tán 
thán ấy. Người ta bảo tôi thông minh. Tôi đẹp vì tôi thông minh hay tôi 
đẹp vì tôi đẹp? ánh mắt ngưỡng mộ của Hồ Diểu hướng về đâu trong 
tôi – Ðứa con gái ốm yếu và liều mạng, nhút nhát và cố chấp? Lần nào 
nghe một lời tỏ tình tôi cũng nhớ tới Hồ Diểu. " Ðẹp quá!" Giọng nói. ánh 
mắt. Người đàn ông đã vợ con ấy. Chàng họa sỹ mê Trịnh Công Sơn 
ấy. Ông hàng xóm lăng nhăng lít nhít ấy. Phải, tôi biết Hồ Diểu và vợ 
chú Bình, và cô Thảnh mẫu giáo, và Hảo béo, và Ngà xì ke… Và mỗi 
lần như thế là một lần tôi làm chính tôi khổ sở, làm người con trai yêu 
tôi giận dữ. Không ai biết rằng tôi đã có lần hốt hoảng hiểu ra rằng nếu 
Hồ Diểu ngỏ lời thì tôi sẽ nhận lời. Không! Tốt hơn hết là nếu có một 
người đàn ông như Hồ Diểu.

***

Người đàn ông ấy ở đây. Chiều Berlin cuối hè vẫn ấm. Nắng trong vắt. 
Người đi lại nườm nượp. Nhà thờ cụt đầu sừng sững một mé quảng 
trường. Kỳ quan thời hiện đại. Tôi tin chắc rằng người ta đến đây chỉ 
cốt chụp nó nguyên hình vẹn trạng như thế: một cái nhà thờ Gotic bị 
bom tiện mất tháp, những mảng kính màu lấp lánh. Tôi tin chắc người 
ta tìm đến đây không phải để hoài công hình dung lại hồn sương nắng 
trên những bức tường đá thâm trầm, hình dung lại cái đầu cụt của nhà 
thờ. Chắc không ai để thì giờ tưởng tượng từng có một ngọn tháp kiêu 
hãnh chọc vào trời xanh, cũng như một tiếng chuông ngân, và những 
oan hồn có lẽ vẫn đang đêm ngày tìm về nơi đây chờ cứu rỗi. Người 
đàn ông ấy ở đây. Chúng tôi đã để qua đi cái phút có thể chào nhau 
như đồng hương nước Việt, như người cùng phố,để có thể " ồ, à, vâng, 
ngày ấy." Tự dưng lòng tôi cuồn cuộn dâng một cơn điên giận. Ông ta 
lấy quyền gì mà nói thế? Ông ta lấy quyền gì mà ám suốt mười mấy 
năm đời tôi? Và tại sao ông ta lại để mình thảm hại thế? Gầy rộc. Già 
rốc. Nhớn nha nhớn nhác. Có bóng cảnh sát hiện ra ở góc phố. Thoắt 
một cái, hàng người ngồi vẽ thuê rời rạc hẳn. Các họa sỹ đứng phắt 
dậy quơ đồ đạc tản đi mất. Chỉ còn lại những khách hàng đang trang 
nghiêm ngồi làm mẫu một cách ngượng nghịu và một đôi họa sỹ. Khách 
hàng bị bỏ rơi ngơ ngơ ngác ngác. Cậu bạn tôi, cũng là một họa sỹ 
trong đám đó kéo luôn cái ghế thừa ông bạn đồng nghiệp không kịp 
quơ theo. – Ngồi đây bà. Ðỡ mỏi. Giữ hộ ông anh luôn. Polizei thu mất 
cũng toi một buổi chiều vẽ không công đấy. – Ông lúc nãy…? – Ðại ca 
của bọn mình đấy. Từ hồi ở Yết Kiêu. Không phải vì loại tranh đả kích 
chuyện phí phạm tám giờ vàng ngọc hay vi phạm quy định giao thông 
đâu. Loại ấy chỉ là để kiếm tiền nộp vợ. Tranh bụi cơ. Vô tư quá không 
thể vẽ như thế. Sang đây loay hoay thế nào lại gặp ông anh. Ông ấy 
cũng tị nạn như mình. Số ruồi chê. Trại nằm trong rừng. Về Berlin vẽ 
lậu nên cứ phải mắt trước mắt sau chân trước chân sau thế. Mà này, 
bà sang một mình à? Thằng cu Tây của bà đâu? Tôi không muốn trả lời 
câu hỏi đó. Tôi đã có chồng. Chồng tôi người Ðức. Kém tôi năm tuổi. 
Lấy tôi, chồng tôi mê lập tức món ăn Việt Nam, cả nước mắm lẫn tỏi 
sống, chê lập tức món khoai tây nghiền nhão nhoét dân Ðức chuộng. 
Nhưng không mê người Việt Nam, và nếu tránh được là tránh những lần 
tụ bạ trong giới đồng hương của vợ. Cả tôi cũng không thích đi cùng 
chồng tôi tới nơi đó. Tôi có cảm giác mọi người nhìn quan hệ vợ chồng 
tôi như nhìn một quan hệ theo hợp đồng. Tôi có cảm giác mọi người 
nhìn chồng tôi cầm đũa và cơm, thú vị lạ lẫm khi anh ăn nước mắm như 
nhìn một con khỉ ăn chuối. Tôi cũng không thích chồng tôi nhìn đồng 
hương của tôi như nhìn một bầy kiến lăng xăng, lo kiếm tiền như lên 
cơn đồng và có dịp là tụ bạ để ăn uống, nói xấu nhau và nói phét.


***

Buổi tối tôi theo cậu bạn về nhà. Ngày xưa cậu ta đeo đuổi tôi lâu thế 
mà giờ chẳng còn lấy một giọt đam mê nào trong mắt. Cậu ta sống với 
một cô bé đi xuất khẩu lao động trước và nay đã được ở lại Ðức, rất 
trẻ, rất khoẻ, hùng hục chạy " sô" từ chỗ putzen (*) này sang chỗ 
putzen khác, và buổi tối thì lái đĩa bay trong quán Tàu (**). Tôi nhìn 
theo ánh mắt cậu bạn hướng về cô vợ. Cũng chẳng có lấy một chút 
đam mê. Trong toalet tối tăm và sâu hun hút rất thường thấy ở những 
chung cư thời Ðông Ðức cũ tôi thấy một đống tranh úp sấp vào tường. 
Hỏi, cậu bạn cười: – Bà muốn xem à? Chờ tôi lau bớt bụi đã. Của ông 
anh hồi chiều bỏ của chạy lấy người đấy. Ông ấy dạt hết vòm này 
sang vòm khác, của quý thì gửi đây. Vợ mình kêu nhà chật tống vào 
đó. Tự dưng cậu bạn nói như đầy lưỡi: – Ðược đồng nào là ông ấy trích 
ra gửi cho con. Còn thì mua toan với màu với rượu. Có cô bồ mê ông 
ấy lắm. Nhưng bám vào nhau mấy năm thì cô ấy chạy. Cũng lấy Tây ở 
lại như bà ấy. Phải tôi tôi cũng chạy. Tôi lật từng tấm tranh ra ánh 
sáng. Và tôi ngồi rất lâu. Trong ánh chiều đuối, một bàn tay ngón rất 
dài, khô khỏng như một nhánh xương rồng xòe ngửa trên mặt bàn, cô 
độc, bồn chồn, bất định. Cạnh đó là cái gạt tàn lạnh ngắt, rất nhiều 
đầu mẩu, nhưng không còn lấy một chút khói. Có cảm giác như bóng 
tối đang lấn dần. Có cảm giác như bàn tay trong tranh duỗi dài thêm 
ra, xòe rộng thêm ra, úp lấy khuôn mặt tôi, bóp chặt. Âm vang nào 
dâng lên. " …Chẳng biết nơi đâu là chốn đi về…" Ngạt thở.

Ngoài kia, Berlin không có bóng tối.

7/8 – 1997

Chú thích: 
*: Bôn sền sệt: từ lóng chỉ đảng viên (bôn sê vích) 
**: Putzen: lau chùi, quyét dọn 
***: Lái đĩa bay: rửa bát

 

Thảo luận cho bài: "Những Ký Họa Dang Dở"