Những nẻo đường Hà Nội

Tác giả:

Ngôi nhà Thạch Lam 


Tôi có quen ông Vũ Xuân Tạo ở 22 làng Yên Phụ, một người 60 tuổi mới bắt đầu nghĩ đến chuyện làm thơ, và không hề có ý định gửi thơ đi đăng báo. Muốn đến được nhà ông, phải đi qua đường Thanh Niên, vượt dốc, từng có nhà thuyền Tiểu Đồ Sơn và nhà thuyền Hùng Nhân kinh doanh cho thuê thuyền trên Hồ Tây khá quen thuộc ở Hà Nội thanh lịch một thời. Đi một đoạn khoảng cây số nữa men theo con đê phía trong, sẽ gặp cái cổng làng Yên Phụ, di tích từ trước Cách mạng sót lại. Cái cổng hình như mỏng, nó không có khối vuông mà bẹt, cứ như sẽ đổ nếu giông bão nổi lên. May mà không phải thế. Nóc cổng không mái, chỉ là một vòm cong như mảnh trăng, rất chênh vênh. Dốc thẳng, đường hẹp, nhà nhà sát ngay ra mặt bê tông, không vỉa hè, cong rồi lượn rồi lại lượn và cong, men theo Ao Vả, vượt qua cửa đình làng, sẽ đến nhà ông bạn già của tôi. Nói là già nhưng ông rất trẻ tính, vui tính, vợ đẹp, 7 con trai khôn lớn, hòa thuận.

Nhưng ông bỏ quá cho tôi, tôi định nói về cái khúc đường cạnh đình làng. Ngôi đình làng Yên Phụ có lẽ do thế đất ven hồ hẹp, một bên đã là bờ Hồ Tây trông sang chùa Trấn Quốc, còn một bên là cái ao rất dài, hẹp, từng là một nhánh của hồ, có cái đảo con mọc lên cây vả cổ thụ nên nó được mang tên Ao Vả, khi tôi viết bài này thì cây vả không còn nữa, nó cũng đã thành một cổ nhân Hà Nội mất rồi. Đình Yên Phụ có lẽ là một trong một vài ngôi đình thờ theo chiều dọc, giống như bên Lào, khác hẳn mọi ngôi đình Việt Nam toàn thờ theo chiều ngang, hình chuôi vồ, hậu cung là cái chuôi ấy. Đầu hồi đình trông ra đường, trên nó có đôi chim phượng, chim hoàng đang múa, cũng khác các ngôi đình khác, chỉ có rồng chầu mặt nhật hoặc mặt nguyệt. Chim phượng cũng nằm trong bộ tứ linh, nhưng nó còn tượng trưng cho tình yêu cổ xưa, khúc hát Phượng Cầu Hoàng của Tư Mã Tương Như và nàng Trác Văn Quân chi đó… Cây thị già, chắc năm nào cũng ra hoa, đậu quả, những quả thị quen thuộc với tất cả người Việt Nam bằng hương thơm và bằng cổ tích, cây thị này nếu có trí nhớ, hẳn nó đã ghi vào lõi gỗ hình dáng một con người, thân xác ra đi nhưng hồn còn ở lại Thạch Lam. Qua cửa đình trăm thước thôi, có một ngôi nhà ngói nhỏ nép mình dưới gốc thị, đã mờ rêu năm tháng, có vẻ quạnh hiu giữa hai bờ sông nước.

Chiếc cổng thấp bé, hai cánh cổng từng là những thân tre ghép nguyên cả cây, đã được thay bằng ván gỗ, vẫn còn một chiếc mắt bò nhỏ bằng miệng bát để trong nhìn ra khi có khách hỏi trước khi mở cổng. Không hiểu chủ nhà này là ai, nhưng ngôi nhà này từng có một người vừa sang, vừa nghèo cư ngụ, vừa thượng lưu, vừa trung lưu nhưng chết trong nghèo túng, Thạch Lam ơi… ạng sinh ra ở Cẩm Giàng, nơi mẹ ông có cái trang trại thuộc loại sang và đẹp nhất ở đấy, nhưng ông lại sống và chết cho Hà Nội, vào tuổi 32, có lẽ hồn ông không tan, tài ông không mất, Hà Nội vẫn luôn nhớ đến ông như một mảnh đời mình, một nét tài hoa, thanh lịch trong cuốn sổ biên niên đời mình, Nguyễn Tường Vĩnh, Nguyễn Tường Lân cũng là Thạch Lam ấy. ạng đã thuê ngôi nhà này những năm đầu 40, ở đây cùng vợ con. Khi bé Giang ra đời, cũng là lúc ông giã từ cuộc thế và rời làng Yên Phụ ra đi vĩnh viễn vì bệnh lao phổi, trong tay người em trai, trong cái chăn bông không đủ tiền mua vải làm vỏ. Hà Nội những năm ấy chưa phải đã đông đúc ồn ào lắm, cũng chỉ là băm sáu phố phường chật chội. Mấy anh em đều có học, có địa vị xã hội, vậy mà Thạch Lam không chịu ở biệt thự trong phố lại ra đây thuê nhà ở, không đi xe tay nhà mà hàng ngày đi bộ từ đây xuống 90 Quán Thánh và từ đấy đi bộ về, với nghề viết báo, viết văn cùng anh mình là Nhất Linh. Ngôi nhà được hưởng gió hồ, ông còn trồng thêm cây liễu để thêm mềm mại mắt nhìn sóng nước, cho mênh mang tiếng cá đớp trăng cùng chuông chùa Trấn Quốc vọng sang. Đời Thạch Lam ngắn ngủi. ạng viết ngắn. Nhưng có lẽ cái ông để lại thì dài cùng với Hà Nội cũng dài bất tận. Sau khi ông lịm đi trong tay người em trai, gia đình ông gồm người vợ trẻ, cô con gái mới khoảng 10 tuổi, một bé trai nữa và một hài nhi vừa ra đời…

Không còn lưu lại đây nữa, mà về sống ở cái trại tại ga Cẩm Giàng cho đến ngày toàn quốc kháng chiến. Cây liễu ông trồng cũng không hiểu gục ngã xuống hồ thời gian nào, không ai biết. Từ bấy, hơi hướng con người cao gầy, mảnh khảnh, từng bất chấp dư luận, dám chống lại sức ép của dư luận và gia đình, kết hôn với người phụ nữ từng có một đời chồng và có con trai riêng, dù ông còn là trai tân, đẹp trai, có tài, phong lưu mã thượng. Cũng may, thân mẫu ông sau này có lẽ đã nghĩ lại chăng, nên đã cưu mang đùm bọc vợ con ông chu đáo. Chỉ riêng căn nhà ông thuê kia, đành trong cảnh hiu hắt cô đơn, chia biệt một con người đã ghi lại nhiều Hà Nội cho Hà Nội và nó cũng sẽ chìm vào quên lãng, không ai nghĩ đến chuyện giữ gìn. Rồi đây sẽ ra sao? Ai mà biết được. ạng Vũ Xuân Tạo tôi quen, cũng chỉ biết lơ mơ, lắc lắc cái đầu hói biểu lộ ngậm ngùi…

Làng Yên Phụ ít biến thiên giông tố. Ngôi nhà bé kia như vẫn còn phảng phất một chút hồn thư sinh trong truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh, một chút thơ mộng ngắn ngủi. Nó còn hơn cả cái phố Ngã Tư Sở kia đã đổi thay ghê gớm, không còn một chút nhận diện nào, không tìm ra được số nhà 71 cũ, nơi thi sĩ tửu đồ Tản Đà dã ra đi, có lẽ lên trời để than với trời rằng “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, và số nhà 73 cạnh đấy, nơi “ông Vua phóng sự Bắc Kỳ” Vũ Trọng Phụng cũng theo bước Tản Đà sau đó chỉ mấy tháng, vào cái năm 1939 ấy. Tản Đà còn được kém một đầy năm chục tuổi. Vũ Quân ít hơn nhiều, mới 27 tóc xanh, nhưng ông kịp để lại một Xuân Tóc Đỏ, một Típ phờ nờ, một bà Đoan, một Nghị Hách mà ngày nay vẫn có… Đã hư không. Đã thành cái trôi, cái bay, cái mất… Gần đây, cô (phải gọi là bà, đúng hơn), cái em bé đỏ hỏn, con gái độc nhất của Vũ Quân, cũng ra đi ở tuổi 59 sau khi đã đền ơn cha bằng xây mộ, đưa di hài nhà văn tài ba về đất tổ tiên ngay làng Giáp Nhất, dưới bóng mấy cây xoài cổ thụ đình làng Mọc. Cạnh mộ Vũ Quân là mộ mẹ và vợ ông, cả hai đều góa bụa sớm, sống trong nghèo túng nhưng trong sạch. Bà Vũ Mỵ Hằng ra đi trong một chiều nắng quái trên con đường gập ghềnh rải đá, có mặt cả bạn cũ của Vũ Quân, bạn của bà và nhiều văn nhân Hà Nội khác… Tản Đà đã lênh đênh bộ cốt từ Sơn Tây, Xứ Đoài… rồi mới yên nghỉ gần Chùa Hương Mỹ Đức. ạng Vũ cũng yên nghỉ cạnh nhà lưu niệm do con gái xây cho. Còn Thạch Lam ông đang ở nơi nào, tôi không biết. Chỉ còn dư ảnh một ngôi nhà xưa kia ông từng cư ngụ một thời gian mà trong cơn lốc thị trường, cũng sẽ chưa biết số phận nó sẽ thế nào.

Hà Nội, cứ bước ra đường, hình như ta đều chạm vào những bóng người, những tài năng, những hơi thở, những thăng hoa, những tâm sự và những dặn dò… của bao lớp người Hà Nội đã thiên thu…Xin được ghi lại một làn gió thoảng, còn lại hay bay đi, không biết nữa… 

 

Thảo luận cho bài: "Những nẻo đường Hà Nội"