NỬA THẾ KỶ PHẠM DUY

Tác giả:

Phạm Duy, Đường Dài Mà Vui


Khách lữ hành lầm lũi đi trong vàng nắng tháng sáu hạ hồng. Trên vai khách không có món hành lý nào ngoài cây đàn. Lá rụng đường chiều lác đác rơi đáp trên mái tóc xanh ngời mà gió muôn phương thổi bồng lên từng lúc. Y trang đã bám đầy bụi đường xa nhưng nét mặt khách vẫn tươi hửng trong nắng, chân vẫn bước nhanh, miệng thì hát nhẩm:
Người đi trên dương gian
Thở hơi gió từ ngàn năm
Gió lung lay Hoành Sơn
Gió dâng cao Biển Đông
. . . . . . .
Người đi trong thanh xuân
Sưởi hương nắng như lửa sống
Máu sôi như sắc trời
Bước nhanh vượt chân đời…

Bỗng thấy một ngôi quán hiện ra trước mặt, bên bờ một dòng suối ngọc reo vui. Chủ quán hiện ra. Bàn tay ngà bứt quả hạnh đào vui vẻ mời khách: ”Chàng hãy cầm lấy rồi lại lên đường, hỡi khách viễn phương! Nhưng chớ có bỏ quên cây đàn và đừng tự hỏi là em yêu anh hay chỉ yêu tiếng đàn anh mà thôi? Em yêu tiếng đàn và yêu cả anh nữa!” Khách cầm trái hạnh hình tim lên tay, miệng định nói cảm ơn thì cô hàng nhí nhảnh cười rúc rích: ”Anh không nhìn ra em sao? Em là con bé rừng mơ đây!”

Khách vừa nhận ra duyên kỳ ngộ năm xưa thì trên gương mặt yêu kiều của cô hái mơ hiện lên những nét nhăn nheo, ngập tràn nước mắt như có một phép lạ vừa xảy ra. Mẹ già khốn khổ đội khăn đen, mặt áo nâu đang đứng trước mặt khách, giọng run run: ”Mẹ là Gio Linh đây con! Tiếng đàn năm ấy của con làm mẹ sống trăm tuổi. Mẹ chúc con đi chân cứng đá mềm”.

Khách bàng hoàng không biết mình đang tỉnh hay mê. Ngó ra ngoài đường nắng chiều ánh lên rực rỡ. Một cành hoa trắng ở ven đường nhoẻn miệng cười như nhắc nhở khách lên đường. Khách chào bà mẹ rồi bương bả bước đi.

Đi chẳng bao xa thì đụng một chiếc cầu. Thì ra đây là chiếc cầu bắc qua hai bờ sông ”bên ni và bên tê”. Chẳng ngờ đây là ”chiếc cầu biên giới”. Cùng với tiếng đàn, ta sinh ra là để vượt mọi ranh giới. Nghĩ vậy rồi, khách nhanh nhẹn bước lên. Chiếc cầu tre lắt lẻo run rẩy, nhưng chàng cương quyết vững bước, trong lúc đó ở tận tầng cao, nghe có tiếng ngọt ngào vọng xuống: ”Mẹ là Nữ Oa, mẹ là Kính Tâm, mẹ là Châu Long, mẹ là Tô Thị, mẹ là Trưng Triệu đây con! Mẹ đà hoá đá ngàn năm xưa nhưng hồn mẹ vẫn nương theo tường vân để đỡ lấy chân con, biến chông gai ra cỏ non đồi biếc, chia xẻ bớt nhọc nhằn với con!”

Khách vụt tỉnh: Vậy ra con đường thênh thang ta đang vượt qua trăm núi nghìn sông mà ta không mỏi là do hồn Mẹ đưa chân? Rồi bỗng nhiên chàng nghe chân chàng như mọc cánh, bước nhanh như gió. Không gian vụt thu nhỏ lại khiến chàng trông thấy rõ những chặng vừa qua và những đoạn trước mắt. Này là đường Lạng Sơn cây xanh, là Tháp Rùa rêu phủ, là Sông Hương thấp thoáng mái chèo đưa, nọ là bác nông phu bên bờ Cửu Long và kia là bà mẹ ở đất Phù Sa đang sống cô đơn dưới mái tranh nghèo.

Khách chỉ bước một bước ngắn là đứng trên đất lầy mũi Cà Mâu. Cây cột số cuối cùng của con đường khách đã vượt, nằm ở mỏm đất này. Khách khoan thai đi vào một xóm dừa bên ven đường. Một cô gái có đôi môi xinh với hàm răng xít xa mang ra tặng khách một chùm vú sữa nâu. Khách bèn nâng đàn lên dạo khúc tình ca:
Tới đây lạ xứ quen người
Trăm bề nhũn nhặn đừng cười tôi nghe
Ví dầu tình bén duyên thề
Thì xin kết bạn đền nghì trúc mai.

Phút tao ngộ tình đang chớm thì giông bão tới bất ngờ. Nước dâng mênh mông, sóng gió điên cuồng mà khách không có thuyền. May sao có chiếc thùng phuy dạt vào. Khách bám lấy mặc cho sóng dồi không còn phân biệt ngày đêm. Cũng nhờ phép lạ, khách trôi dạt vào bờ. Chiếc đàn chỉ đứt đôi dây còn chủ nó thì bình an vô sự. Khách đứng dậy xốc lại quần áo, lau chùi chiếc đàn.

Ở đâu đời cũng cần có tiếng hát. Lữ khách lại đi, lại hát, lại đàn. Trời lạ đất cũng lạ, người càng xa lạ, khách lấy tiếng đàn để làm mối dây liên cảm ban đầu. Một chiều kia khách đến một bờ biển xanh. Ngước mắt nhìn lên thấy có người đàn bà hóa đá đứng trên núi cao, tưởng là hòn vọng phu xứ mình, nhưng trông kỹ lại thì nét mặt không phải người mình. Khách sực nhớ đây là biểu tượng Tự Do của một quốc gia sinh sau nước mình ngót bốn ngàn năm. Ngoảnh nhìn về xóm dừa quê hương đang quằn quại trong bão tố, khách bèn ôm đàn lên, cất tiếng hát:
Này thần Tự Do ơi!
Muốn hỏi nàng mấy tiếng vu vơ
Có phải Nàng mắt đá ngu ngơ
Khiến Nàng nhìn thế giới không xa
Nên Nàng còn phân biệt màu da…

Tượng đá đứng im. Chỉ có sóng biển vô tình đáp lại. Khách lại vác đàn ra đi. Con đường vạn lý còn nối dài thêm mãi không biết đâu là cột số cuối cùng. Ngoảnh lại những chặng đường qua, khách bỗng giật mình. Mới ngày nào xả thân trong mưa bão để vượt từng tấc đường, nay đường đã vượt xong thì mình trở thành chim Đỗ Quyên lưu vong mang hồn Thục Đế, ngày đêm ra rả kêu gào. Chốc đây mà ngót nửa thế kỷ trôi qua. Người làm nhạc cho tuổi xanh nay tóc đã bạc phơ đang đứng dưới rặng mai già. Nhìn suốt những chặng đường qua và nghe lại tiếng gió. Rừng mơ một chiều năm cũ, khách tưởng mới hôm qua…

* * * * * * *
Sự nghiệp của Phạm Duy quá mênh mông, mới nhìn qua tưởng của cả chục người gộp lại. Hàng trăm bài sáng tác. Hàng trăm bài nhạc ngoại quốc dịch ra hoặc phóng tác với lời Việt. Hàng trăm bài phổ nhạc thơ của các thi nhân. Nó mênh mông như biển, ta có thể thả hồn bơi miên man thích thú. Nó rực rỡ như một bức tranh toàn cảnh Việt Nam muôn sắc. Nó rộn ràng vang động tiếng cười tiếng khóc của một nhân gian, gồm đủ các loại người già trẻ gái trai, cả thanh lẫn tục, từ nàng công chúa đến cô bán vải chợ Bến Thành. Nó là tấm gương soi rõ chân dung và nội tâm của mỗi người Việt Nam và là con đường cái quan vạch suốt lịch sử Việt Nam. Nếu đem những dòng nhạc của Phạm Duy nối vào với nhau, ta sẽ có một con đường dài trải khắp chiều dài đất nước mà mỗi nốt nhạc là một dấu chân, hơn nữa, là một mảnh tim của nhà nghệ sĩ. Lope de Vega, nhà soạn kịch Tây Ban Nha đã viết 800 vở kịch, nhưng có sách nói rằng đó là con số đã được nâng lên chứ sự thực thì chỉ có 400. Con số 400 cũng đã là con số kinh hồn bạt vía rồi. Nhưng sử sách còn cho biết thêm rằng trong số ấy chỉ có 3 vở được công chúng hoan nghênh. Thế mà ông đã trở thành bất hủ. Ở nước ta, trong giới nhạc, Văn Cao có trước sau độ 20 bài. Đặng Thế Phong để lại độ 5 bài. Lê Thương sáng tác khoảng 20 bài. Lưu Hữu Phước viết trên 30 bài. Còn Phạm Duy, kể tới nay anh đã viết khoảng 1,000 bài. Chưa kể những bài ông đã quên. Và còn đang viết tiếp. Tôi chỉ nêu lên trường hợp của những nhạc sĩ lớn nhất mà tôi đã đếm tất cả bài của các vị ấy sáng tác để chúng ta cùng thấy một Phạm Duy khổng lồ trong một cá nhân bình thường đang sống bên cạnh chúng ta hàng ngày.

Đánh giá văn học nghệ thuật, không ai chỉ dùng số trang, số bài, nhưng ở Phạm Duy số lượng và chất lượng đi đôi. Văn Cao được xem như một trong những thần tượng âm nhạc Việt Nam là vì ông đã cho đời Thiên Thai, Trương Chi, Buồn Tàn Thu và những bài ca hùng tráng bất hủ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp trong đó có Trường Ca Sông Lô. Đặng Thế Phong trở thành bất tử với Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu. Lê Thương nổi bật nhất với ba bài Hòn Vọng Phu. Lưu Hữu Phước được hoan nghênh vì những bài ca yêu nước nhắc lại lịch sử anh hùng của dân tộc như Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Hội Nghị Diên Hồng, Tiếng Gọi Sinh Viên trước năm 1945.
Còn Phạm Duy? Số bài hay được công chúng nồng nhiệt đón nhận kể ra không hết. Người ta có thể thu bài hát của Văn Cao hay Lưu Hữu Phước vào một băng cassette, nhưng những bài hay của Phạm Duy mà toàn dân đã hát, thì không một ca sĩ nào hát nổi hết, đừng nói chỉ thu gọn trong một vài cuộn băng. Các lứa tuổi đều tìm thấy bài hát rất tủ của mình ở ngăn kéo Phạm Duy. Chưa có nghệ sĩ nào được yêu mến bằng Phạm Duy. Tiếng thần tượng, thiên tài chưa đủ để đánh giá Phạm Duy.
Hãy nói đến những ngón son của phím đàn Phạm Duy. Trong văn học nghệ thuật, có nhiều nghệ sĩ chỉ sở trường một môn. Chỉ ở môn đó thì tài năng của nhà nghệ sĩ mới được biểu lộ đầy đủ nhất, ở địa hạt khác thì điều đó không thấy rõ. Ví dụ như Guy de Maupassant là bậc thầy của truyện ngắn. Ông có viết truyện dài và kịch nhưng không thành công bằng truyện ngắn. Lấy ví dụ ngay trong lãnh vực âm nhạc và trong nước, ta công nhận Văn Cao là nhạc sĩ thiên tài trong nhạc hùng ca, nhạc trữ tình và trường ca. Tôi thấy Lê Thương, Lưu Hữu Phước có những bản nhạc có thể được coi như trường ca là Hòn Vọng Phu, Hội Nghị Diên Hồng. Riêng ở Đặng Thế Phong thì không thấy có hùng ca hay trường ca. Phạm Duy thì có đủ, lại có nhiều hơn: nhạc hùng ca, nhạc trữ tình, thơ phổ nhạc, trường ca, chương khúc… (chưa kể những bài nhạc ngoại quốc với lời Việt của Phạm Duy, dù không quan trọng nhưng cũng nêu ra để thấy tài và sức của người nghệ sĩ). Ở các loại kể trên Phạm Duy đều vượt lên trên tất cả.

Bên cạnh các điểm kể trên, Phạm Duy còn có một điểm đặc biệt: vừa là người sáng tác, vừa là người biểu diễn, hát bài của mình và bài của người khác nữa. Chính Phạm Duy đã mang bài Buồn Tàn Thu của Văn Cao đi từ Bắc tới Nam trên sân khấu Đức Huy từ năm 1943.

Lại còn một điểm khác cũng nên kể ra: Phạm Duy đã đào tạo đàn con của mình thành những nghệ sĩ phụng sự đồng bào bằng âm nhạc. Một số đã trở thành nghệ sĩ thượng thặng. (Người viết bài này được biết Văn Cao và Nguyễn Xuân Khoát rất đau khổ vì lũ con không chịu học nhạc). Ngoài ra, Phạm Duy còn giúp đỡ các nhạc sĩ trẻ rất nhiều.

Hãy kể một trường hợp khác để thấy chất lượng của tác phẩm Phạm Duy. Rouget de Lisle sáng tác bản La Marseillaise (Bài Ca Của Người Marseilles) năm 1872, lúc ông 32 tuổi. 40 năm sau, bản hát này được công nhận là quốc ca của nước Pháp. Để tưởng nhớ công lao của nhà nghệ sĩ vĩ đại, nhân dân Pháp đã dựng tượng ông ở Choisy-le-Roy. Người ta được biết rằng bản thảo đầu tiên của bản hát có những câu, xin tạm dịch như sau:
Đứng lên, con yêu Tổ Quốc
Ngày vinh hiển đến rồi
Hãy cầm súng đo gươm
Tiến lên, tiến lên!
Máu nhơ kẻ thù sẽ
Tưới ngập luống cày mềm

Tôi chép đến dòng này thì tôi nhớ tới hai bài báo đăng trên hai tờ báo Việt ngữ lớn ở hải ngoại là VĂN NGHỆ TIỀN PHONG (Hoa Kỳ) và QUÊ MẸ (Pháp). Bài đăng ở VNTP có câu: ”Đó là lúc chào cờ Việt Nam. Vẫn lá cờ vàng ba sọc đỏ mà bao thế hệ đã tẩm mồ hôi và máu để bảo vệ nhưng khi quốc ca cất lên thì không phải Này công dân ơi mà là Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời của Phạm Duy”. (Từ Ngọc Lữ, VNTP số 277). Và bài trong báo QUÊ MẸ là của Thi Vũ, Võ Văn Ai nhan đề Phạm Duy, Một Tiếng Quê Hương. Trong lời nói đầu của bài viết, nhà thơ kiêm chủ báo này cho biết hồi năm 1969 khi viết lời giới thiệu tập nhạc kháng chiến của Phạm Duy ở Paris, ông đã ”đề nghị lấy bài Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy làm quốc ca, nhưng tập nhạc không hiểu vì sao không được in ra” (QM số 82-83).

Bây giờ xin trở lại vấn đề Phạm Duy viết bài Xuất Quân, bài hát được phổ biến cực kỳ nhanh chóng lan rộng như lửa bay khắp Nam Bộ năm 1946 như một bản quốc ca, trong đó có những lời như sau:
Ngày bao hùng binh tiến lên
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành
Quân Việt Nam đi, hồn non nước xây thành
Đi là đi chiến đấu!
Đi là đi chiến thắng!
Đi là mang mối sầu thiên thu…

Lúc đó Pham Duy mới 25 tuổi. Hai mươi năm sau, Phạm Duy viết bản Việt Nam Việt Nam:
Việt Nam, Việt Nam, nghe từ vào đời
Việt Nam hai tiếng nói trên vành nôi: Việt Nam, nước tôi!
Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là người
Việt Nam hai tiếng nói sau cùng, khi lìa đời.

Rồi cũng lại 20 năm sau, từ nước ngoài, Phạm Duy hoàn thành một tổ khúc, cho thấy bầy chim bỏ xứ đã có cơ hội trở thành bầy chim hồi xứ rồi:
Bầy chim tỉnh giấc
Vì nghe tiếng thiêng liêng
Từ nơi huyền bí
Nổi lên tiếng chim Tiên.
. . . . . . . . . . .
Những cánh chim kêu gọi đàn con
Những cánh chim trên Bạch Đằng Giang
Những cánh chim vui cảnh Tao Đàn
Lướt gió bay qua miền Chi Lăng
Hót líu lo trên đồi Yên Thế.

Trong một lần sống trên dương gian, Phạm Duy đã khóc cười theo mệnh nước nổi trôi và đã ba lần làm Rouget de Lisle tái sinh. Chỉ với ba bản hát kể trên, Phạm Duy đã hiện diện trong mỗi chúng ta trong bốn thập niên qua. Nhưng ai ai cũng biết Phạm Duy còn cho ta hơn thế nhiều, cho cả người bên ni lẫn kẻ bên tê. Đối với nhân gian, tiếng đàn của Phạm Duy luôn luôn mang đến một điều gì tốt lành và đẹp đẽ.

Với kẻ đau, tiếng đàn xoa dịu. Với cánh bay, nó làm gió nâng lên. Phạm Duy như bàn chân đi nhẹ vào đời ta, ru ta ngủ khi ta cần giấc ngủ và Phạm Duy cũng sẽ đánh thức ta trở dậy ”để nhìn mặt trời lên”. Với ai thất vọng, Phạm Duy khuyên: ”Hãy cố nuôi mộng dài”. Với những kẻ đang ”tranh nhau một đám bụi đen”, Phạm Duy khẽ vỗ vai:”Anh mang được gì về cõi chết?” Với các vị anh hùng rơm, Phạm Duy nhỏ nhẹ hỏi: ”Bây giờ các ngài ở đâu?” Đối với kẻ hùng hục chém giết, anh khuyên hãy nhìn bà mẹ Phù Sa và anh nói: ”Ngọn cờ thắng bại cũng chỉ là một giải khăn sô!”

Phạm Duy vượt cao hơn nỗi đớn niềm đau của chính bản thân và cũng là của thời đại chúng ta đang sống. Và Phạm Duy đã diễn đạt nỗi niềm đau đớn đó. Với bài 1954 Cha Bỏ Quê – 1975 Con Bỏ Nước, ta thấy hai thế hệ cha và con đều gánh chịu những thảm kịch tái diễn trên một bối cảnh Việt Nam. Hồi tưởng lại những năm đầu thất thểu lưu vong, ta còn rởn tóc gáy. Biển chắn trước mặt, súng chĩa sau lưng. Lấy chết làm sống. Lấy xứ người làm xứ mình. Lấy ly tán làm hạnh phúc. Vừa ra đến đất tự do, cuộc sống còn nhờ vả mênh mông lạ hoắc lạ huơ, nước mắt chưa khô, chân bước còn loạng quạng, đầu óc còn say sóng, thế mà Phạm Duy đã cầm đàn gọi ta, trước nhất với những tị nạn ca khẳng định sự ra đi là đối chống chứ không phải trốn chạy.
Ta trốn Cộng hay ta chống Cộng
Đây là điều ta phải hỏi ta
Ta trốn Cộng hay ta chống Cộng
Đây là điều ta phải hỏi ta, nhắc ta!

Mặc dù những bài tị nạn ca của Phạm Duy vang động cả trong lòng người Việt hải ngoại lẫn đồng bào trong nước, nhưng Phạm Duy tự nhận mình chỉ là con dế hát rong. Oai hùng thay con dế hát rong!

Ngót năm mươi năm sáng tạo và suy nghĩ không ngừng. Ngót năm mươi năm lấy đàn làm súng, tiếng hát làm đạn tên, năm mươi năm yêu và được yêu, sống cay đắng ngọt bùi với số phận làm người – và người Việt Nam – Phạm Duy đã sống một ngàn cuộc đời trong một cuộc đời, mang một ngàn trái tim trong một trái tim, Phạm Duy sống trọn vẹn một đời nghệ sĩ, và một thân phận làm người trong cõi nhân gian. Phạm Duy đi vào cầm ca bằng nghề đàn và hát trên sân khấu. Sau đó thay đàn và hát chưa đủ, Phạm Duy làm bài hát để diễn đạt lòng mình.

Bắt đầu Phạm Duy làm từng ca khúc. Rồi làm bộ ba, bộ tư. Rồi làm hàng chục bài nói lên một chủ đề với nhiều khía cạnh. Rồi làm trường ca. Rồi làm hàng loạt, hàng chùm sinh lực trào tuôn từ tim óc nghệ sĩ như phép lạ thiên thần. Có bài chỉ viết trong năm, mười phút mà trở thành bất hủ. Từ một cội Phạm Duy mà người đời hái được biết bao nhiêu. Nào hoa nào lá để cài tóc cài áo, nào cành khô để sưởi, nào trái nụ để nuôi, trái chính để lấy hạt ươm, nào hương nhụy để ấp ôm, để tẩm thư tình.

Bây giờ xin thử đặt một câu hỏi nhỏ: Tại sao ta có tuyệt đỉnh Phạm Duy? Sở dĩ Phạm Duy đạt tới đỉnh chót vót đó là vì tài năng của anh được tưới bồi bằng những nguồn lớn – có lẽ quan trọng ngang nhau – như sau:

1. Huyết thống văn học nghệ thuật của gia đình. Thân sinh là nhà văn Thọ An Phạm Duy Tốn, nhà văn đầu tiên soạn bộ Truyện Tiếu Lâm An Nam mà nhạc sĩ đã đọc từ bản thảo viết tay và sau này nhạc sĩ trích ra để làm mấy bản Tục Ca. Anh cả là thạc sĩ kiêm văn sĩ Phạm Duy Khiêm. Hai người chị đều chơi đàn tranh và một người anh khác là Phạm Duy Nhượng cũng là nhạc sĩ. Từ một gia đình như vậy, cậu Phạm Duy được sinh ra và lớn lên.

2. Thiên tài là của trời cho nhưng nó cũng còn là kết quả của sự trau dồi luyện tập (nhưng cũng có những người trau dồi luyện tập mãi mà không thành tài). Phạm Duy là con người luôn luôn nghiên cứu và học hỏi âm nhạc ngay từ lúc còn đi hát cho gánh hát Đức Huy (1942) mà anh đóng vai trò quản lý kiêm ca sĩ. Đến lúc đã nổi tiếng là bậc thầy, là đàn anh rồi, vẫn còn khăn gói sang Pháp làm học trò để học lấy cái kỹ thuật tân tiến của người.

3. Hồn dân tộc luôn luôn ngự trị trong Phạm Duy. Không một nhà nghệ sĩ nào, kể cả ở các bộ môn khác, mô tả dân tộc ta bằng nhiều khía cạnh vừa đậm đà vừa sâu sắc rung động bằng nhạc sĩ Phạm Duy. Nói tới quê hương, dân tộc, không thể không nghĩ tới Phạm Duy, mà nghĩ đến trước tiên. Nói đến Phạm Duy cũng có nghĩa là nói đến dân tộc và quê hương Việt Nam. Phạm Duy đã sưu tầm, chỉnh lý và nâng cao dân ca Trung Nam Bắc, nhạc miền suôi và cả nhạc miền núi. Công lao này được ghi nhận là vô cùng to lớn.

4. Bắt tay với nhạc tân kỳ hiện đại, Phạm Duy là bậc thầy của dân ca Việt Nam nhưng bao giờ cũng nhìn ra cái thế giới điện khí hóa ngập trời, phản lực xé mây xanh. Đàn tranh, đàn kìm, đàn cò, đàn bầu, âm nhạc dân tộc nói chung, làm cái nền để Phạm Duy đứng và vói tới trăng sao. Cho nên dù đi xa, lên cao mà Phạm Duy vẫn không lạc nguồn. Tâm hồn nghệ sĩ vẫn là tâm hồn Việt Nam.

5. Phạm Duy xem cầm ca là nghiệp chính của mình, nói rõ ra là suốt đời anh chỉ sinh sống và nuôi gia đình con cái bằng nghề đàn hát. Ở nước ta, cả Nam lẫn Bắc, tôi chưa thấy ai hoặc biết ai như thế.

6. Bỏ ngay nơi chốn có khí hậu không thích hợp cho công việc tự do sáng tác của mình, mặc dù ở đó người ta dành cho anh rất nhiều đặc ân. Một người dám cho nhau tất cả, không tiếc gì với nhau, chỉ trừ tự do, thì không thể ở mãi một nơi mình không được tự do sáng tạo. Rời bỏ nơi chốn không thích hợp đó cũng có nghĩa là vứt đi cái lăng kính mà người ta muốn Phạm Duy đeo vào để nhìn đời rập khuôn theo kẻ chế tạo kính. Phạm Duy nhìn đời, và chỉ muốn nhìn đời bằng đôi mắt Phạm Duy. Điều này đúng lắm. Sự nghiệp của Phạm Duy kể từ sau khi ”lữ khách bước qua chiếc cầu biên giới” đến nay đã là một chứng minh hùng hồn. Nếu anh không bước, anh sẽ chịu chung số phận như Văn Cao, bạn anh.

* * * * * * *
Sau đây là những chương đề cập tới sự nghiệp Phạm Duy do một người biết ít nhạc nhưng hát nhạc Phạm Duy từ 1945 cho tới nay :
Mở : Phạm Duy, Đường Dài Mà Vui
Phần I.- Người Nghệ Sĩ
Phần II.- Người Suy Tư
Phần III.- Người Tình
Phần IV.- Người Yêu Nước
Đóng : Phạm Duy Tạ Ơn Đời, Đời Tạ Ơn Đời Phạm Duy

 

Thảo luận cho bài: "NỬA THẾ KỶ PHẠM DUY"