Nuôi Dơi

Tác giả:

Chắc các bạn còn nhớ ông Hai Sáng, ông Sui của anh chị tôi mà tôi có dịp nhắc tới trong chuyện Làm Giàu, tôi mới gặp ổng chiều hôm qua đây nè. Hai ông bà được con bảo lãnh qua Mỹ chơi. Gặp tôi, ổng bả mừng lắm, nói cười huyên thuyên, kể chuyện xưa, chuyện nay như không muốn dứt. Tôi cũng cười muốn đứt ruột luôn. 
Con trai ổng kể: 
– Xuống tới phi trường Lốt (LA), ba má cháu theo cháu lôi đồ ra xe, hổng biết ổng mang cái gì mà tới bốn năm cái goa-ly căng phồng, về nhà mới biết đó là khô mực, khô thiều, mang cả bột nếp qua đây để gói bánh ít cho cháu nội ăn. 
Ngồi trên xe, ổng nhún nhún rồi khen cái nệm êm, khen đường lộ thẳng tắp rộng thênh thang, khen nhà cửa cảnh trí đẹp đẽ, rồi nói: 
– Cha! Tưởng đâu chỉ có ở VN mới có bán nem như nem Thủ Đức hay nem Lai Vung, hổng dè ở phi trường bên Mỹ đây cũng có bán. 
– Uở, trong siêu thị VN mới có nem, chứ ngoài phi trường làm gì có bán, ba. 
– Có mà, tao thấy nó để rõ ràng , một bên đề Nem, bên kia đề Vỏ Nem. Có điều Mỹ nó cũng đánh vần sai trớt quớt. 
– Trời trời, cái đó là cầu tiêu mà ba, một bên là Men, còn bên kia là Women, tức là đàn ông với đàn bà. 
– Dậy hả, vậy mà tao cứ tưởng bán nem. 
Ở Nam Cali tuy đã cuối hè, nhưng buổi chiều khá mát, ông Hai lên bộ đồ kiểng, dạo ra phố Bolsa. Tuy cách nhà chừng một dặm và queọ có ba bốn cái đèn, nhưng lần đầu đi chơi, lúc trở về ông lạc cả hơn tiếng đồng hồ, vì: 
– Sao tao thấy nhà ở Mỹ cái nào trông cũng giống như cái nào, ngay cái nhà này, tao thập thò hoài ngoài cổng mà hổng dám vô, tới lúc nghe tiếng con vợ mày la mấy đứa nhỏ, tao mới biết chắc là nhà mình. 
Ông khoái cái thái độ vui vẻ của mấy người Mỹ hàng xóm: 
– Bà nó ơi, người Mỹ ở đây họ lịch sự quá, họ chào tui, và còn biết thứ của tui nữa, họ kêu tui: Hai ! Rồi họ vẫy tay. 
Ông Hai còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện ở xứ Mỹ này, nhưng hầu hết chúng ta đã biết và đã trải qua trong những ngày đầu đến Mỹ. Vậy nên tôi chỉ kể chuyện làm ăn của ông bên VN mà thôi. Đó là chuyện nuôi dơi. 
*** 
Người ta nuôi trâu bò, heo cá, nuôi tôm rùa rắn rết thì nghe tới đã nhiều, nhưng nuôi dơi? Một loài đen đủi, xấu xí mà con người có ác cảm. Mà nuôi giống đó làm gì mới được chớ? Thưa rằng nuôi để lấy phân. 
Ông Hai là người nông dân Nam Bộ chính hiệu Con Bướm Vàng, loại người mà khi ngồi uống cà-phe thường co một chân lên ghế cho nó "phẻ". Hồi năm 1965 ông có ruộng vườn ở cách đường lộ chừng nửa cây số. Thấy lúc trời chạng vạng tối, có nhiều dơi bay xập xoạng, ông làm thử một chuồng dơi, đó là một cây cột cao gần mười thước, trên chót đóng cây ngang như một cái dù và cột từng chùm lá cây thốt nốt (Cây này mọc nhiều ở miền Tây VN và bên Cam Bốt, nó giống y hịt cây Mexican Palm bên Mỹ). 
Ban ngày dơi rúc vô đó mà ngủ, đêm mới bay ra ăn bồ chét, rầy, muỗi. Thấy qua một đêm mà kit’ dơi đã dầy lên gần một ngón tay, ông Hai liền bỏ tiền ra làm thêm tới mười ba chuồng loại hai cột, loại này có cái lợi là dựa nhau nên đứng vững trước mưa to gió lớn. 
Thời thập niên 60, nông dân VN chưa xài phân hóa học nhiều như bây giờ, có nhiều người chưa từng nhìn thấy phân Urê nó ra làm sao nữa. Lúa thì hầu như không ai phải bón phân, chỉ có người làm rẫy mới dùng phân bò, phân cá, để bón dưa, đậu, bí và dây tiêu mà thôi. 
Phân trâu bò thì ai cũng biết rồi, nhưng phân cá không phải là kit’ con cá đâu. Phân này họ lấy từ xác cá ở những nhà thùng làm nước mắm, nhưng nó mặn, đem bón liền thì cây sẽ chết, nên họ trộn thêm cá vụn, loại cá mà heo nó cũng chê, rồi ủ cho hoai ra mới dùng được. Dĩ nhiên phân cá rất tốt nên mắc tiền lắm. 
Con dơi chó, dơi quạ nặng chừng nửa ký, chuyên ăn phá trái cây, nhưng dơi chuột mà chúng ta đang nói tới đây là loại ăn muỗi, rầy, thân nó nhỏ bé như con chuột nhắt. Dơi chuột ngày xưa ở rất nhiều trong các hang động vùng núi Thất Sơn, nhưng từ khi chiến tranh lan rộng, những toán du kích ẩn núp trong hang, những trái ô buýt bắn hàng ngày vào vách núi làm đàn dơi sợ hãi bỏ chốn núi rừng càng ngày càng nhiều, để bay về vùng ít tiếng súng hơn. Chuồng dơi của ông Hai dơi về ở đầy nhóc nhách, nó đu lộn đầu xuống đất chen chúc đen kịt trong những túm lá thốt nốt và đẻ nhanh như chuột, nhưng mỗi lần chỉ đẻ hai con mà thôi, vì dơi con bám dưới bụng mẹ, nếu đẻ hàng chục con như chuột thì dơi mẹ bay sao nổi. 
Phân dơi được cào vô mỗi ngày một lần, đem phơi khô rồi đóng bồ, việc làm này cũng phải cẩn thận nếu không nó sẽ nát nhừ ra như cám. 
Những đám ruộng lúa gần chuồng dơi xanh như hành lá, lúa rất trúng. Nhưng những đám ruộng gần quá, trong vòng 100 thước thì vì quá tốt, lá nhiều nên cây lúa đổ ập xuống, mất trắng. Chủ ruộng bắt bồi thường, nên sau một vài năm ông Hai mua luôn số ruộng đó mà để hoang. Lý do là dơi bay đi bay về gần chuồng nhiều, phân rơi vãi nhiều, nên ruộng tốt quá mà canh tác lúa không có lơị, thà để cỏ mọc cho trâu ăn còn có ích hơn. 
Có sản phẩm rồi, nhưng tiêu thụ ở đâu? Nông dân trồng lúa gần ở đây thì đâu có ai bỏ tiền ra mua phân, thôi đành đổ xuống ghe mà chở đi bán. Từ đầu Kinh Năm Tân Hiệp, chạy dài xuống Cầu Quằn Rạch Sỏi, người ta làm rẫy thiếu gì, nhưng ông Hai không bán được một gịa phân nào, chào hàng đến đâu cũng bị thiên hạ từ chối, dù giá bán rẻ bằng nửa phân cá: 
– Em nói phan dơi tốt, thì qua cũng biết vậy, nhưng qua đã làm rẫy hơn hai chục năm rồi, chỉ có bón phân cá mà thôi. Nay nếu nghe em mà bỏ mồi bắt bóng, lỡ thất muà thì làm sao? 
Gần một tuần lễ chở phân đi rồi lại chở về, nhìn gương mặt thiểu não của cả nhà, ông Hai lại chở đi nữa. Lần này ông "Khuyến Mãi": 
– Thưa bác, nếu bác sợ là nếu bón phân này mà bị thất mùa, thì tui biếu bác nửa gịa, bác chỉ bón thử một hàng ở ngoài bià mà thôi. Nếu nó trúng thì tốt, còn có thất thì chỉ bị một hàng cũng không đến nỗi nào. 
– Chú em mày nói có lý, để qua thử coi. 
Xuống tới Cầu Quằn thì vật phẩm khuyến mãi còn có chút tí, ông Hai quẹo vô xóm Tiều, thấy ông Tiều già đang quảy đôi thùng nước tưới cây bèn hỏi: 
– Hia ơi, hia có xài phân dơi hông? 
– Có chớ, nhưng ngộ hết tiền dồi, có đổi khoai lang thì ngộ đổi cho, mà nị còn nhiều hông? 
– Còn chừng hơn một gịa. 
Ông Tiều già, hốt hết phân vô bao, rồi dở bồ khoai lang ra, xúc đổ xuống ghe một thúng lớn, lại trèo lên xúc hai lần nữa mới thôi. Ông Hai mừng rỡ nói với con: 
– Trúng khẳm rồi con ơi. Có hơn một giạ phân mà đổi được bằng này khoai lang. 
Một tháng sau, ông lấy ghe nhỏ bơi dọc theo Kinh Xáng, thì thấy hàng đậu đũa bón phân dơi lá nhỏ nhưng xanh đậm, trong khi cả vườn rẫy lá to nhưng ngả màu vàng. Vì chưa biết kết quả ra sao, nên ông không ghé hỏi thăm mấy người làm vườn. 
Hai tuần sau, ông lại cà rề đi "Thăm dân cho biết sự tình" thì thấy cả vườn hái hết đậu rồi, coi như đã tàn, nhưng hàng bià còn tươi mơn mởn, ngọn còn đang bủa vòi, bông nụ còn ra hiếm hiệm. Ông chủ nhà ào ra nắm lấy cánh tay lắc lia liạ: 
– Trời ơi, tao trông chú em mày hết biết, ghé đây lai rai ba sơị, rồi chiều nay chở mớ bí, đậu dià nhà mà ăn. Rồi bữa nào rảnh, chở cho tao ít chục giạ phân dơi. 
– Nói thiệt với bác, hồi này tui túng quá, thành thử nếu có chở cho bác, là tui lấy tiền liền chứ không bán thiếu chịu đâu. 
– Thì tao có nói mua thiếu chịu hồi nào mà chú em mày lo, mà cả mấy người gần đây đều chờ cái thứ phân này, hèn chi mấy người Tiều họ phải cất công lên tới tận Châu Đốc để mua, nên năm nào họ cũng trúng hơn mình gấp bội. 
Kể từ đó, ghe lớn, vỏ lãi, tam bản lúc nào cũng lui tới ì xèo trước cầu bến nhà ông Hai, đôi khi họ còn phải đặt tiền cọc trước nữa. Lúa hồi đó có 50 đồng một giạ mà phân được giá tới 60 đồng. Phân dơi có khi dầy lên cả tấc, mà mười ba chuồng như thế thì không biết hốt được mấy chục giạ một ngày. Những người xung quanh thấy làm chuồng dễ như làm đồ chơi, mà lại ăn thiệt nên đua nhau mua vật liệu về làm. Nhưng có một điều lạ lùng là không hiểu tại sao chuồng dơi của họ, dơi lại đến ngụ cư lác đác, không đủ phân bán để bù cho sở hụi. 
Con dơi tuy nhỏ có chút xíu nhưng cũng biết lựa đất lành mà đậu, biết lựa chủ mà nhờ. Nuôi dơi không tốn thức ăn, nhưng nếu không biết săn sóc tới đàn dơi, thì nó cũng bỏ mà đi hết, nhất là khi chuồng trại bị rệp. Dơi và các loài chim thường bị một giống rệp nhỏ như đầu cây kim gút, bám cắn dưới cánh, nó hút máu no bụng tròn lẳn và đỏ bóng lưỡng. Dơi dùng mỏ, chân cào cho rớt xuống, nhưng người chủ trại, nếu có kinh nghiệm thì biết ngay rằng đàn dơi của mình đang bị bệnh chí rận. Họ xây chung quanh gốc cột một vòng bệ nước, trong đó pha thêm muối, hoặc thuốc trừ sâu, con rệp bị rớt xuống đất, cố trèo lên tổ dơi, sẽ bị chết hàng đống ở ngay chân cột. 

Khi mặt trời đã lặn, dăm ba con dơi tiền phong buông mình xuống khỏi tổ, sau đó bay vọt lên cao, thăm thú tình hình thời tiết mưa bão, rồi trở về thông báo với cả đàn. Nếu không có con nào dời tổ , thà nhịn đói không đi kiếm ăn, thì chắc chắn đêm đó có mưa to gió lớn. Còn nếu bình thường, đàn dơi sẽ từng lần lượt rời tổ chừng một ngàn con một lần, tiếng cánh quạt gió ù ù như tiếng báo đầu một cơn bão lớn. Có lần mấy người đi giăng câu gần đó, nghe tiếng ì ì, tưởng là sắp có cơn giông, nhưng khi thấy vẫn trời quang mây tạnh, lại tưởng đâu bị ma nhát, nên vội vàng cuốn câu bỏ chạy. 
Khi dơi đã đi ăn, người chủ trại trèo lên sửa từng tấm lá cho ngay ngắn, thay những tấm te tua hay cũ quá, xịt thuốc muỗi để diệt rệp trong các kẽ lá, thuốc này còn có công hiệu diệt luôn những con rệp còn bám theo mình dơi, khi dơi trở về nữa. 
Người chủ trại biết ơn đàn dơi của mình, ngoại trừ nó đã cho phân, nó còn diệt biết bao sâu bọ rầy muỗi. Họ cưng đàn dơi, trèo lên nhắc từng lá để kiểm bệnh, rệp. Vì dơi bám đầy, nên có khi dùng hai tay mà không nhấc lên nổi một phiến lá thốt nốt. Những con dơi cũng nhận ra người chủ đang săn sóc mình, nên không hề sợ hãi mà vẫn nằm im, trố hai con mắt trau tráu ra nhìn. Những con bị rớt xuống đất, được lượm đưa lên tổ vì dơi không tự mình bay từ mặt đất mà phải từ trên cao buông mình rớt xuống, rồi mới bay. 
Ở đời này người ta thấy mình làm cái gì thành công, thì hay bắt chước, mà nếu không thành công thì họ lại quay ra oán mình. Có một ông kia tức giận vì chuồng dơi của ổng chẳng có con nào tới ở, nên vào một đêm hè nóng ., có gió hanh, ông ta lén đốt chuồng dơi của nhà ông Hai. Mùa khô hạn, nước trong ao đià chẳng còn bao nhiêu, nên không ai có thể dập tắt được ngọn lửa phá hoại đang cháy đùng đùng, mười ba dẫy chuồng dơi biến thành bình địa trong mấy giờ đồng hồ. Lửa cháy ngất trời đã làm đàn dơi sợ hãi bay đi mất, đến nay qua bao nhiêu năm rồi mà cũng không hề dám quay trở lại. 
Ông Hai ưu tư nói với tôi : 
– Chú à, người ta nói kiếp trước mình gieo nhân nào thì kiếp sau gặt quả nấy, nhưng tui nghĩ có khi mình phải gặt quả ngay ở đời này. Thí dụ như cái ông đã đốt lửa chuồng trại của tui đó, ổng chết thê thảm quá, mà mấy đứa con trai cũng mang hoạ lây, một thằng thì bị bắn chết, còn một thằng trèo lên nóc nhà bị điện giựt cháy đen thui. Thiệt là "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo" há chú?

Thảo luận cho bài: "Nuôi Dơi"