Phạm Duy, MỘT ĐỜI NHÌN LẠI.

Tác giả:

Dòng nhạc viết cho Quê Hương Việt Nam


Thời chinh chiến
Trần Ngọc
Nói đến Nhạc Sĩ Phạm Duy, người ta thường nghĩ đến Nhạc Tình, Nhạc Quê Hương Dân tộc và Trường Ca, bởi đây là những nội dung phong phú và tiêu biểu nhất của ông. Đã có nhiều nhà văn, nhà báo viết về các đề tài này khi đề cập đến Nhạc Sĩ Phạm Duy và dòng sáng tác.

Nhưng bên cạnh những nội dung trên, Nhạc Sĩ Phạm Duy còn viết rất nhiều ca khúc cho một quê hương Việt Nam thuở thời chinh chiến. Sự nghiệp đấu tranh cho độc lập tự do và hạnh phúc của người dân Việt Nam là một dòng sử sắt son trong đó những vinh quang, khổ nhục, cùng máu và nước mắt đã bao phen tuôn chảy trên mảnh đất quê hương. Hình ảnh đất nước Việt Nam mịt mờ trong khói lửa chiến tranh cùng với tình người chiến tuyến và lòng kẻ hậu phương đã chan chứa trong dòng nhạc Phạm Duy.

Như chúng ta đã biết, Nhạc Sĩ Phạm Duy sinh ra vào thuở quê hương Việt Nam chuyển mình, khi cái Nho học đang tàn lụi và đang được thay thế bằng cái Tây học. Vào thời điểm này, tư tưởng tự do lãng mạn từ Âu Tây đã như một luồng gió mới thổi mạnh vào nền văn học của nước ta và làm lung lay cái học cổ hủ. Từ đó đã hình thành và phát triển một nền thi ca mới được gọi là thi ca tiền chiến . Nhạc sĩ Phạm Duy đã ôm đàn đi vào đời từ lúc bình minh mới hé sáng đó của nền tân nhạc Việt Nam phôi thai. Và cho đến hôm nay, nền tân nhạc ấy đã trải qua bao biến đổi và đang phát huy cực thịnh, Nhạc Sĩ Phạm Duy vẫn còn sáng tác và vẫn còn giữ một vị trí quan yếu hàng đầu.

Luôn luôn, mỗi khi được hỏi về vị thế của mình trong dòng văn học, Nhạc Sĩ Phạm Duy vẫn chỉ tự nhận mình là một “CA NHÂN ”. Chữ “ Ca Nhân” đây, xin chúng ta hãy nên hiểu là một người biết đem tiếng hát lời ca của mình để phản ảnh sự thăng trầm của quê hương và để phục vụ nhân sinh trong toàn cuộc đời của mình. Nếu hiểu như thế , thì có lẽ mới đúng với ý nghĩa của hai chữ “ Ca Nhân”mà Nhạc Sĩ Phạm Duy muốn dùng.

Với hơn một ngàn tác phẩm giá trị cống hiến cho đời, chúng ta có thể nói một cách không ngoa : “Nhạc Sĩ Phạm Duy là ngôi sao Bắc Đẩu của nền tân nhạc Việt Nam”. Dòng nhạc của ông đã phản ảnh toàn bộ sự chuyển mình của quê hương đất nước và lòng người trong hơn một bán thế kỷ thứ 20.

Nếu nói đến Phạm Duy, một đời nhìn lại, thì có lẽ người đời phải tốn đến hàng trăm trang giấy mới đủ diễn tả được dòng sáng tác của ông. Nhưng trong phạm vi bài viết hôm nay, chúng tôi chỉ xin giới hạn và đề cập đến dòng nhạc riêng biệt của ông, viết cho một quê hương Việt Nam thời khói lửa.

Như trên đã nói, nhạc sĩ Phạm Duy sinh ra và lớn lên trong bối cảnh của một quê hương Việt Nam chịu đựng hai cuộc chiến: chiến tranh chống thực dân Pháp và chiến tranh ý thức hệ Quốc Cộng. Bản chất của hai cuộc chiến ấy hoàn toàn khác nhau, nhưng những hệ lụy vinh quang hạnh phúc hay thất bại khổ đau đều không khác nhau mấy và cùng phủ trùm lên quê hương và người dân. Dòng nhạc của Phạm Duy cũng vì thế nhiều khi tràn đầy hào khí mà nhiều khi cũng vương vấn những bi lụy xót xa.

Nhạc Phạm Duy trong chiến tranh chốâng thực dân hay Kháng chiến chống Pháp. (Nhạc hùng ca và nhạc thanh niên).

Khi Nhạc Sĩ Phạm Duy bước vào tuổi thanh niên, cuộc thế chiến thứ hai mới vừa kết thúc (1945) và chế độ thực dân pháp tại Việt Nam đang lung lay tận gốc. Người Việt Nam đã quyết liệt chiến đấu để dành lại độc lập và tự do cho đất nước. Cùng với những nhạc sĩ trẻ đương thời như Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận..v..v.. nhạc sĩ Phạm Duy đã viết những bài hùng ca để kích thích , cổ võ và ngợi ca tầng lớp trai trẻ đang lên đường vì sông núi.

Hào khí của dòng nhạc Phạm Duy được bắt đầu bằng nhạc phẩm “ Gươm tráng sĩ ”
(1944) . Trong bài này, Phạm Duy đã mô tả người chiến sĩ theo lối ấn tượng và ước lệ, kiểu hình ảnh của người Chinh Phu trong “ Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đoàn Thị Điểm và Đặng Trần Côn, trong đó người chiến binh là người tráng sĩ với gươm đao cung kiếm và với chiến bào chiến y:


“ Ta là gươm tráng sĩ thời xưa
Bên mình chàng hiên ngang một thuở
……………………………………………………
Ôi nhớ tới hồi thanh kiếm múa
Sức oai linh trừ diệt hết quân thù”…
Rồi Chinh Phụ Ca ( 1945):

“Từ chàng ra đi lưng khoác chiến y
Và hồn nương bóng quốc kỳ.”…

Xuất Quân (1945, viết tại chiên khu Mây Tần):
“Ngày bao hùng binh tiến lên
Bờ cõi vang lừng câu quyết tiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành”…

Chiến Sĩ Vô Danh ( 1945 , viết tại chiến khu Nam Bộ)

“Gươm anh linh đã bao lần vấy máu
Còn xác xây thành thời gian luống vô tình
Rừng trầm phai sắc, thấp thoáng tàn canh
Hỡi người chiến sĩ vô danh”

Và Nợ Xương Máu ( 1946, viết tại Huế)

“Giờ đây xương máu đã phơi đầy đồng
Giờ đây máu hồng đã nhuốm non sông
Ai nghe không sa trường lên tiếng hú
Trong lầm than những tiếng người đời quên”
Đây là một bài ca đượm nét bi thương. Chiến thắng hãy còn xa lắm, nhưng đã có biết bao người gục ngã , hồn lang thang nơi chiến trường, than thở cùng gió mây, chả biết người đời còn biết đến chăng?

Khi cuộc kháng chiến đã lan rộng toàn quốc, Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng thuộc Bộ Thanh Niên được thành lập, Phạm Duy đã viết nhạc với lời lẽ nhẹ nhàng hơn , pha thêm nỗi niềm êm ái ân cần . Ông ngợi ca tuổi trẻ Việt Nam đã biết thế nào là tình yêu nước, để khi cần biết giã từ nơi đô hội, biệt ly đời sống gấm hoa giả tạo, để lên đường ra chốn biên cương hay về miền quê, tay súng tay cầy, vừa chiến đấu vừa xây dựng làng thôn. Chẳng hạn như bài Nhạc Tuổi Xanh ( 1947):


“ Tuổi xanh như lúa mai, đời thanh niên sáng tươi
Thuở nay chinh chiến chờ đợi người
Về đây tay nắm tay, đài gươm ta đắp xây
Miệng hô câu hát vang trời mây”..
hay bài Đường Về Quê ( 1947) :
“ Một đoàn người đi miên man trên đường gian nan
In hình qua mây núi xanh lơ bát ngát
…………………………………………………..
Lúc xóa hết phố phường biệt ly đời gấm hoa
Người vui đời áo nâu, quên hết u sầu”…

Bài Về Đồng Hoang ( 1947) :
“ Từ phố phường rời ra thôn quê
Anh em ta quyết chí về đồng hoang”…

Bài Nương Chiều ( 1947):
Thu về đồng lúa nương chiều
Tay dân cày ngừng giữa làn gió
Lúa ngát t thơm trên những cánh nương
Tiếng súng xa nghe lẫn oán thương
Đây người dân phá rừng gây luống”…

và bài Đường Lạng Sơn (1947):
Đường quanh co suối quanh co
Từ đâu xa, xa gánh đưa đưa
Màu áo chàm líu lo câu vui đùa
Đời đang như chiếc áo thơm tho.”…

Bài hát này có vẻ thanh thoát hơn, người trai khi vui lên đường, cũng có lúc tâm hồn vương vấn chút gì âu yếm hình ảnh của một cô sơn nữ trong một bản thôn tít mù.

Đặc biệt có một nhạc phẩm tuy viết trong năm 1947, ca ngợi chiến công đầu trong kháng chiến nhưng hình như đã tiên liên kết với ngày chiến thắng thực dân của ta. Đó là nhạc phẩm Tiếng Hát Trên Sông Lô.


Trên nước sông Lô, thuyền tôi buông lái như xưa
Sau lúc phong ba, thuyền tôi qua bến qua bờ
Ai nhớ Sông Lô, giặc lên ăn cướp dân ta
Tôi nhớ sông Lô, ngày qua chôn xác quân thù”…
Nhạc phẩm này, nhạc sĩ Phạm Duy cho biết đã dùng nhạc thuật Việt Nam để soạn bài cho hợp với phong cách của người Việt, trong khi một số nhạc sĩ đương thời thì lại dùng nhạc thuật Tây Phương để ghi lại chiến công này như Trường Ca Sông Lô của Văn Cao, Lô Giang của Lương Ngọc và Du Kích Sông Thao của Đỗ Nhuận.

Qua những nhạc phẩm điển hình kể trên, nhạc sĩ Phạm Duy đã trang bị thêm vào tay súng của những người trai một vũ khí tâm hồn. Đó là lòng sục sôi chiến đấu để giải phóng quê hương và xây đắp quê hương. Tình yêu lứa đôi lúc ấy hình như đã bị phai mờ để nhường bước cho một tình yêu cao cả hơn, đó là tình yêu non sông tổ quốc.

Nhạc Phạm Duy trong cuộc chiến tranh ý thức hệ hai miền Nam Bắc.

Xa sau cuộc Cách Mạng Mùa Thu 1945 của Việt Minh và Hiệp Định Genevè 1954, lịch sử Việt Nam lại rẽ sang một bước ngoặt mới. Đất nước bị chia đôi, miền Bắc theo chế độ Cộng Sản và miền Nam kể từ vĩ tuyến 17 trở xuống đến mũi Cà Mâu, theo chế độ tự do dân chủ . Dòng sông Bến Hải đã rưng rưng lệ nhìn cảnh phân ly tan tác và cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Cộng đã khởi sự từ đấy. Bom đạn và lòng thù hận đã trút xuống quê hương ngày càng nhiều , khiến mẹ Việt Nam đã bao lần chảy dài những dòng nước mắt để khóc cho sự tang thương và mất mát của dân tộc.

Dòng nhạc Phạm Duy lại một lần nữa ghi dấu hình ảnh của quê hương trong chiến tranh. Dĩ nhiên lý tưởng Quốc Gia đã làø lý tưởng mà nhạc sĩ Phạm Duy chọn lựa và lý tưởng này luôn luôn ngời sáng trong tâm thức của ông. Những bài ca ông viết để xưng tụng người chiến binh QLVNCH hay để chia sẻ nỗi niềm tâm sự với họ đều là những nhạc phẩm đóng khung trong ý thức hệ của người Quốc gia, yêu chuộng tự do và hòa bình, nhưng phải chiến đấu để bảo vệ lý tưởng này.

Có rất nhiều nhạc phẩm viết về người chiến sĩ mà Nhạc Sĩ Phạm Duy, tuy sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhưng nội dung vẫn còn phù hợp với cuộc chiến sau 1954. Trước tiên chúng ta có thể kể đến bài ca mang tên Người Lính Bên Kia hay Bên Ni Bên Tê. Bài này Phạm Duy viết năm 1947 tại Tuyên Quang, nhưng nội dung và tâm tình lại đúng hơn bao giờ hết trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng mà chắc chắn lúc sáng tác nhạc sĩ Phạm Duy chẳng hề nghĩ tới :


“Người bạn tôi ơi, người con của đất Việt
Ở phía quân thù, người còn thức hay mơ?
…………………………………………………………….
Anh ơi, quay súng lại đây
Máu người dân Việt còn cần cho luống cầy”…

Hay bài Dặn Dò:


“Em ở lại nhà, em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thuong
Để anh vác súng lên đường
Để anh vác súng lên đường..”

Bài này nhạc sĩ Phạm Duy đã mượn hai câu thơ đầu của thi sĩ Nguyễn Bính trong “ Lỡ bước sang ngang”.
Hoặc bài Nhớ Người Ra Đi, viết về nỗi nhớ thương của người hậu phương như mẹ già, vợ hiền, con thơ gửi cho người chiến binh nơi chốn sa trường:

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người mẹ già
Chờ con lúc đêm khuya
Người con đã ra đi vì nước
……………………………………………..
Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người vợ hiền
Chồng ra lính biên cương
Ngồi may áo cho con, còn nhớ
…………………………………………..
Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương đàn trẻ nhỏ
Đùa trong nắng ngây thơ…
….Nhưng mỗi khi dưới mái nhà mênh mang
Ngừng chơi nắm tay mẹ hỏi rằng
Rằng cha chúng con đâu?…”..

Ôi những nỗi nhớ nhung ấy nghe sao cảm động xót xa. Chẳng cần nói gì nhiều mà sao nước mắt đã mặn bờ môi. Bài hát này cho đến nay vẫn thường được phát thanh, mà mỗi lần nghe lại, thật xao xuyến não nùng, nhất là qua tiếng hát của Thái Thanh.

Một nhạc phẩm nữa, thật cảm động, viết cho người chiến binh, một ngày trở về , khi hào quang chiến thắng đã bay xa, chỉ còn là một thương binh, hỏi người đời có còn ai nghĩ tới mình hay không: Nhớ Người Thương Binh.

“Người quê còn nhớ người chăng?
Vì ai vào chốn tử sinh
Chiến trường quên thân mình
Người về có nhớ thương binh”..

Chính cũng vì ý nghĩa rất nhân bản và nội dung hoàn toàn thích hợp cho cuộc chiến Việt Nam dù ở bất cứ giai đoạn nào, nên những nhạc phẩm này vẫn còn được hát đi hát lại từ sau năm 1955 cho đến bây giờ. Và người nghe vẫn cảm thấy như nhạc sĩ Phạm Duy viết dành riêng cho cuộc chiến tranh ý thức hệ. Do đó chúng tôi vẫn được xin đan cử những nhạc phẩm này, ở trong giai đoạn chiến tranh này.

Năm 1965, khi phi công Phạm Phú Quốc hi sinh trên không phận Bắc Việt thì hình ảnh anh đã là một mẫu người hùng cho người dân ngưỡng mộ. Nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác nhạc phẩm Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc:


“Rồi anh trôi theo vận nước miệt mài
Việt Nam chia đôi mảnh đất lạc loài
………………………………………………….
Chiều nao anh đi, anh về đất
Chiều nao anh đi anh về nước
Chiều nao huy hoàng, bụi hồng bay khắp không gian.”

Nhạc phẩm này kéo theo một số bài hát bi hùng của các nhạc sĩ khác, trong đó có Trần Thiện Thanh với hai bài nổi tiếng: “ Người ở lại C-harlie” và “ Anh không chết đâu anh”.
Năm 1967, hình ảnh của những người mẹ có con đi chinh chiến, đêm nằm mỏi mòn trông chờ con trong bước chân hờ hững của thời gian, đã khiến Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm Bà Mẹ Phù Sa:


Mẹ người, mẹ người ở đất phù sa
Mới năm mươi tuổi đã già như tám mươi
Mẹ ngồi, mẹ ngồi bấm đốt ngón tay
Xóm tuy là xóm nhỏ
Đổi thay, đổi thay bao lần.

Chiến tranh, dĩ nhiên bên sau những hào quang của chiến thắng, vẫn là những mất mát của mệnh người, của tang thương đất nước và của niềm tiếc thương. Xin hãy nghe Người Lính Trẻ, sáng tác năm 1971:


“Người lính trẻ chết trận ngày mai
Trên quê hương ngọn lúa rụng rời
Người lính trẻ chết trận ngày kia
Trên ngôi cao là hết dị kỳ.”

Mỗi người lính hi sinh là mỗi lần quê hương mất thêm một nhành lúa tốt.

Trong cùng chiều hướng viết cho hai mặt phải và trái của chiến tranh, có một nhạc phẩm thật nổi tiếng do Phạm Duy sáng tác phỏng theo thơ của Linh Phương ( xin xem phần cước chú), mang tên Kỷ Vật Cho Em (1971). Đây là một bài ca bi hùng, phản ảnh toàn bộ chân dung của người chiến sĩ, từ những chiến thắng lẫy lừng với huy chương sáng ngời trên ngực áo, đến những cuộc thất trận, trở về có thể là trong hòm gỗ cài hoa, hay trên đôi nạng gỗ lê bước trên con đường cũ, để ngậm ngùi không muốn “làm dang dở đời em”.


Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại
Xin trả lơì, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng
Pleime hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả
…………………………………………………………..
Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng
…………………………………………………..
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về có khi là bại tướng cụt chân
……………………………………………………….
Anh trở về nhìn nhau xa lạ
Anh trở về dang dở đời em..

Một nhạc phẩm khác , buồn thiết tha, viết cho người góa phụ trẻ, mới đám cưới xong, hạnh phúc nồng say chưa kịp hưởng mà đã nghe tin chồng chết ngoài chiến địa, nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phỏng theo thơ của Lê Thị Ý : “ Tưởng Như Còn Người Yêu” hay có khi còn gọi là Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng:


“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
……………………………………………….
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu”

Khi chiến trường tại miền Nam Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất như mùa hè đỏ lửa 1972, nhạc sĩ Phạm Duy đã soạn những bài Chiến Ca mang tính chất tích cực như để hỗ trợ và xưng tụng cho sự chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ QLVNCH. Chẳng hạn như bài Điệp Khúc Trần Thế Vinh ( 1972).

 

Này người lính hãy nín đau thương
Vì dù người xa vắng giai nhân
Nhưng quê hương ta thêm thần tượng
Một người hùng trần thế vinh quang.
Rồi sau đó là khúc Trường ca Chiến Ca Mùa hè 72 do Phạm Duy phổ nhạc thơ của Phạm Lê Phan gồm 16 đoản khúc đan kết trong trong 3 phần: Trị Thiên-Tam Biên và Bình Long. Theo nhạc sĩ Phạm Duy, Trường Ca này có giá trị về cả lời lẫn nhạc, nhưng tiếc thay đã không được thâu băng nên ít người biết tới.

Nhìn chung, qua dòng nhạc Phạm Duy trong cả hai giai đoạn chiến tranh, thì giai đoạn đất nước kháng chiến chống Pháp , ông đã viết hùng ca nhiều hơn bi ca. Và trong giai đoạn chiến tranh Quốc Cộng, thì bên cạnh hùng ca, những bài bi ca xuất khá nhiều. Có người đã thắc mắc hỏi rằng tại sao trong giai đoạn đất nước phân ly, nhạc sĩ Phạm Duy lại viết nhiều về nỗi buồn của chiến tranh, thì người khác đã giải thích giùm đó là những hệ lụy tất yếu của một cuộc chiến tranh quá lâu dài và quy mô, ròng rã hơn 20 năm trên quê hương mà người dân Việt Nam đã phải đối diện hàng ngày. Tâm tình đó của con người trong chiến tranh triền miên, tất phải buồn nhiều hơn vui. Vậy tại sao ta phải che đậy, phải trốn tránh nó? Cái giá của tự do tư tưởng trong một đất nước tự do, phải chăng là lúc ấy? Vả chăng những khúc hùng ca viết trong thời kháng chiến chống Pháp vẫn là hình ảnh đẹp còn tồn tại hữu hiệu trong giai đoạn chiến tranh sau 1955. Vậy có cần phải viết thêm khi những bài hùng ca ấy vẫn còn được tôn trọng và tiếp tục hát lên như một hào khí chẳng thể phai mờ của dân tộc Việt Nam, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, ngay trên quê hương hay trên bước đường luân lạc.

Trần Ngọc

 

Thảo luận cho bài: "Phạm Duy, MỘT ĐỜI NHÌN LẠI."