Phở Nội Phở Ngọai

Tác giả:

Nói tới món ăn Việt Nam là phải nói tới tô phở. Theo sự phân tích của giới y thì tô phở dù là nước trong đi nữa cũng mang rất nhiều chất béo có cơ hội làm tăng cholesterol trong máu, rất mau dẫn con người tới những vụ tai biến mạch máu não, nhưng quả thật dân ta cũng khó làm ngơ trước một món ăn hấp dẫn đầy hương vị như món phở. Vì giàu nghèo, già trẻ, lớn bé, nam phụ lão ấu ai cũng dùng phở được và ai cũng thích phở. Người Mỹ dùng nước xúp gà để giải cảm, người Việt cảm cúm dùng một tô phở nóng có hành ngò, vắt chút chanh, rắc ít tiêu, cho mấy lát ớt đỏ, ăn cho vã mồ hôi ra, vừa hết bệnh, vừa khoái khẩu, ai mà không thích.

Trong nội tình thì từ năm 1954, phở đã theo một triệu người di cư từ Bắc vào Nam đánh bạt tô hủ tiếu (hay hủ tíu) vì dầu sao món ăn này cũng thiếu chất ròng, tinh túy của Việt Nam mà có pha chút “ngoại” Nam Vang hay Triều Châu. Những ngày đi đâu ở xa về, qua một chặng đường dài trên máy bay, xuống tới đất, làm một tô phở là thấy tỉnh cả người. Mùi vị của phở làm cho người ta đói, và làm cho những người xa quê thấy nhớ nhà. Ở đất khách, nhiều vùng dân mình không tập trung đông đúc, người ta phải lái xe đi năm bảy chục “mai” để kiếm một tô phở, ăn cho đỡ … thèm, mặc dầu người ta nói phở ở Mỹ không ngon vì miếng thịt phải nằm trong tủ đá lâu ngày, ngọn rau quá tươi tốt làm loãng hương vị nồng cay của quê nhà.

Tháng 4-1975 cho tới cả hai mươi năm sau, tô phở “xe tăng”, mặc dầu “không người lái” vẫn từ Hà Nội viễn chinh vào Sài gòn, đuổi những tô phở “tàu bay” Hiền Vương của con đường lá me Sài gòn, cao bay xa chạy tới nghìn dặm của cả thế giới để làm nở mặt nở mày con người Việt Nam. Nhưng nhờ ôm trọn được miền Nam, tô phở Hà Nội ngày nay mới được gọi là tô phở cho đúng nghĩa, cho ra hồn. Việt Nam gởi các cô có nhan sắc “đem chuông đi đánh xứ người” cả trăm lần coi như cả trăm thất bại, nếu tô phở được cử đi chắc chắn sẽ đem vinh quang về là cái chắc. Nếu phở được làm Ðại Sứ thì uy tín của hai chữ Việt Nam còn vang xa. Chẳng thế mà cách đây vài năm tô phở Việt Nam đã vượt xa món burito của Mễ Tây Cơ đến trở thành món ăn ngoại quốc được ưa chuộng nhất ở Mỹ. Trong lần viếng thăm Việt Nam năm 2000, Tổng Thống Clinton đã dùng luôn một lèo hai tô tại một quán ăn ở Sài gòn, và tại những tiệm phở trong các cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ, rất nhiều người địa phương cũng đã nghe tới món ăn trứ danh này và đã ghé qua để thưởng thức món ngon. Những tiệm phở gần khu Capitol Sacramento của thủ phủ Cali thì đầy nhân viên chính phủ, tiệm phở gần campus của Ðại học Cambridge ở Boston thì khách toàn là sinh viên Mỹ.

Theo lời kể của Linh Mục Nguyễn hữu Lễ là người đã được đi nhiều nơi, sinh hoạt trực tiếp với nhiều cộng đồng Việt Nam trên thế giới, đặt chân đến khoảng vài trăm tiệm phở, thì ở Bankstown-Sydney nước Úc có một tiệm phở lớn nhất thế giới và đắt khách cũng như mắc giá nhất thế giới mang tên Phở An. Tiệm phở này lớn như một nhà hàng tàu nấu tiệc cưới, có 250 chỗ ngồi và giá mỗi tô phở là 9 Úc Kim. Vì khách ăn hằng ngày quá đông, lúc nào cũng xếp hàng dài dài, xếp hàng cả ngày, nên đến Chủ Nhật, Thứ Bảy giá mỗi tô phở được nâng giá thêm 1 đồng ($1.00 Úc = $0.90 Mỹ) để đuổi bớt khách, tuy vậy coi bộ không có kết quả. Phở ở Úc ngon thì cũng không có gì là lạ vì thịt bò Úc có tiếng nhờ những đồng cỏ xanh và với rổ rau xanh tươi từ các nông trại gần đó đem tới.

Phở ở quê nhà ngày xưa là tô phở nghèo vì chất ngọt từ xương hầm không đủ, thịt trong tô vừa mỏng vừa lơ thơ có thể đếm trên đầu ngón tay, sự nghèo đói dần dà đưa đến những tô phở chỉ còn nước sôi pha “mì chính” và bánh phở “only” có cái tên kênh kiệu rất “khoa học-không gian-thời đại” là “phở không người lái”. Khi tô phở sang tới Mỹ, nơi mà “cái gì cũng to, cũng bự, trừ con gián là nhỏ xíu” thì tô phở cũng đã biến dạng và gây sự kinh ngạc sững sờ cho một người Hà Nội từ trong nước mới sang đây lần đầu, trong câu chuyện như sau:

“Lò dò tìm đến địa chỉ đã được căn dặn, tôi ồ lên một tiếng thất kinh khi một tô phở xe lửa giá năm đô la rưỡi được bưng lên nghi ngút khói. Không phải là một tô phở mà một thau phở thì đúng hơn, cỡ bằng cái nón bộ đội. Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ sự giải lao là tối cần thiết trong ẩm thực. Nghĩa là sau khi chiến đấu – khá vất vả – được có nửa tô, người ăn phở cần bước ra ngoài, đi loanh quanh chừng nửa tiếng, hút vặt dăm hơi thuốc, rồi mới đủ can đảm quay lại đối diện với nửa tô còn lại” (trích lại trong Phố Văn số 50).

Thực ra tô phở ở hải ngoại tuy có to thực, nhưng không đến nỗi được mô tả ví von một cách văn hoa với cái nón cối của ông ấy hay là một cái thau. Thế thì dân Việt hải ngoại, nói theo lối nhà nước ta là “núm ruột ngàn dặm” thô tục thật, không văn vẻ như người của ta. Người đi công tác này phải “chiến đấu khá vất vả” mà chỉ mới hết nửa tô. Tới đây chúng ta lại được hiểu thêm một lối ăn phở rất “văn hóa” của người cán bộ trong nước đi công tác tới Mỹ (Boston), ở khách sạn 5 sao (Jury’s), là vì tô phở lớn quá, người ăn chỉ ăn nổi nửa tô, xong chạy ra sân “hút vặt dăm hơi thuốc”, đi loanh quanh chừng nửa tiếng rồi mới trở lại ăn nửa tô còn lại (!)Tôi không biết cái nhà hàng nào mang tên Pasteur ở Boston lại chịu để dành nửa tô phở ăn dở để chờ ông khách quái đản trở lại nửa giờ sau, không biết nửa “nón cối” phở ấy bây giờ đã biến dạng thành một thứ “nón cối” tạp pỉ lù bầy nhầy những thứ gì trong ấy, mà khách còn can đảm trở lại xơi nốt cho đáng cái của đời giá tới năm đô la rưỡi? Nếu tô phở được ví von một cách “thanh lịch” bằng cái nón cối, thì chưa nói ra, cái gỏi cuốn ở Mỹ phải bắt anh chàng này liên tưởng tới chiếc dép râu.

Bài báo này lại chê một người Mỹ ăn phở: “Một cô Mỹ tóc vàng, dáng nhỏ nhắn, sau khi khoan khoái xơi hết một tô phở xe lửa to đùng, ung dung gọi thêm một đĩa gỏi cuốn King size, và tà tà thưởng thức với một vẻ khoái hoạt đáng kính phục và kết thúc bằng một trái dừa tổ bố. Hóa ra cái sự ăn uống lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon, cũng có “giá trị nhất định” của nó. Khác hẳn với sự “ăn chơi ăn bời” của các bậc thầy ẩm thực bên nhà” (PV). Nghĩa là ở Mỹ người ta chỉ chuộng cái no, cái nhiều, khác hẳn với sự thanh cảnh của các “bậc thầy ẩm thực” bên nhà. Ðó là chưa nói đến cái sự tò mò thô lỗ, đáng ghét của người khách lạ mới tới, “nhòm mồm” một thực khách địa phương, đếm món ăn của người ta để có thể mô tả bằng những chữ nghĩa mỉa mai như “ung dung gọi một dĩa gỏi cuốn-, tà tà thưởng thức-, một vẻ khoái hoạt đáng kính-, kết thúc bằng một trái dừa to tổ bố”. Ðiều đáng nói là bài viết này lại so sánh “khác hẳn với sự ăn chơi ăn bời của các thày ẩm thực bên nhà”. Như vậy nếu bà con hải ngoại muốn học cách ăn uống cho thanh lịch, cho có “văn hóa” xin hãy về bên Việt Nam để thụ huấn các “bậc thầy ẩm thực” hiện đang ngồi lổn nhổn từ trong nhà hàng máy lạnh cho tới đầu đường bên cột đèn, miệng cống. Vì theo như lời ông cán đi công tác, thì ở Mỹ người ta chỉ “lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon” chẳng ra làm sao cả.

Cái gì chứ nói đến cái vụ ăn uống, thanh lịch hay thô tục, thì kẻ viết bài này mới ra rời khỏi đất nước mười lăm năm sau ngày Cộng Sản thiết lập XHCN tại Sài gòn đã biết tỏng, và sẽ xin trở lại với một bài phiếm về miếng ăn kỳ tới.


Số Lần Chấm: 
73

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)


Số lần đọc: 4,841
Nguồn: nguoiviet online
Đăng bởi: Học Trò (6/21/2005)
Người gửi:
Người sửa: TVMT;

 

Thảo luận cho bài: "Phở Nội Phở Ngọai"