Phỏng Vấn Nhà Văn Lê Minh Hà

Tác giả:

Lê Quỳnh Mai thực hiện 


Phỏng Vấn Nhà Văn 

Phát thanh 27-5-2001 trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật, Đài Tiếng Nói Việt Nam FM 103.3 Montreal – Canada 

Lê Minh Hà sinh năm 1962 tại Hà Nội.

Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, Đại Học Sư Phạm Hà Nội I năm 1983 

Dạy học tại Hà Nội từ 1984-1994 

Định cư tại Limburg, Đức. 

Cộng tác: Văn Học, Văn, Hợp Lưu, v.v… 

Tác phẩm: 

Trăng Góa ( Thanh Văn xb 1998), 

Gió Biếc (Văn Mới xb 1999) 

Thương Thế Ngày Xưa (Văn Mới xb 2001)
——————————————————————–

1 .- Lý do nào nhà văn Lê Minh Hà rời bỏ quê hương để định cư tại Đức? 

– Lý do rời quê hương: rất riêng. Vâng. Rất riêng. Nhưng nghĩ cho cùng, có gì thực sự là riêng đâu khi mình là người Việt. Tôi nghĩ tôi có chung câu trả lời với bất kể ai là người Việt đã ra đi khi được hỏi câu này. 

2 .- Nhà văn Lê Minh Hà có ý kiến gì về nền văn học hải ngoại từ ngày định cư tại nước ngoài? 

– Trong bản chất của nó, VHHN của mọi dân tộc là VH lưu vong. VHHN Việt Nam là tiếng nói của một tập hợp người có quan điểm phi chính thống và vì thế mà phải rời khỏi quê hương. Nhưng cũng trong bản chất, VHHN chỉ xứng với tên gọi khi nó đáp ứng được những yêu cầu khắc khe của nghệ thuật, mà nó là một hình thức đặc biệt, thuộc về… Tôi chưa đọc được một cách có hệ thống VHHN, cho nên còn quá sớm để tránh khỏi hời hợt và bất cập khi đưa ra một nhận xét riêng. Nhưng tôi nghĩ rằng, những tác phẩm chỉ được viết ra dưới sự định hướng của một chủ đích chính trị sẽ khó đứng được với thời gian nếu nó không hàm chứa một liều lượng nghệ thuật, nếu qua đó, người ta không thấy được tầm nhìn và bản lãnh sáng tạo của người viết. Bỏ qua những tác phẩm như thế, cái còn lại của VHHN là rất nhiều, và sẽ có một ngày VHHN trong nghĩa đó sẽ dành được một chỗ xứng đáng trong lịch sử VHVN hiện đại. Tôi đã tham gia vào sinh hoạt chữ nghĩa ở đây. Đấy có thể là một câu trả lời cho câu hỏi của chị chăng. 

3 .- Hàn Dũ (768-824) cho rằng người ta bất đắc dĩ mới viết văn làm thơ bởi: " bất bình tắc minh" (mọi vật không được thế quân bình thì kêu lên). Chị có đồng ý với quan niệm này không? Và nhà văn Lê Minh Hà bắt đầu viết từ lúc nào? 

– Lịch sử văn học đã ghi nhận sự hình thành và phát triển của đủ kiểu trường phái, trào lưu. Nhưng sáng tạo thực sự bao giờ cũng là một quá trình riêng, duy nhất, dù rằng gnười viết vẫn có thể trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ với nhau những quan niệm nghệ thuật, những kinh nghiệm … Vâng, vâng, Hàn Dũ cũng có thể tìm được nhiều lời tán đồng của người cùng thời hay đời sau. Nhưng mà nghe câu trên, thấy sự viết mới tội nghiệp làm sao. Riêng tôi, tôi nghĩ ý muốn sáng tạo là định mệnh dành cho những người không biết sống đơn giản, không biết hài lòng với những điều người đời đã quy ước là cần và đáng hài lòng. Bản thân cái sự không biết ấy ở nghệ sĩ đã là cái được rồi. Với tôi điều này bắt đầu hơi bị sớm. Nhưng người đọc chỉ biết tôi khi không còn trẻ nữa, tóc khô khô đốt ngón tay tố cáo tuổi ba mươi, nghĩa là có cơ hội dành vương miệng hoa hậu của tuổi sáu mươi. 

4 .- Trong truyện ngắn OPA, Con Chó Và Tôi, Lê Minh Hà viết " tôi nhớ nơi tôi đã từ đó ra đi. Thành phố của những mùa hoa hạ đỏ, của mùi hoa sấu chua, và bao chiều bạt gió. Thành phố của bồn chồn hương hoa sữa cuối thu và của âm thầm heo may đầu đông" (1). Có phải đó là thành phố Hà Nội thân thương đã làm nền cho nhiều truyện ngắn của chị? Nhà văn Lê Minh Hà có thể tả về hoa sữa được không? 

– Vâng, đúng vậy. Tôi thật may mắn có được thành phố ấy để nhớ, để viết về, không phải với tình yêu chung chung của hầu hết người Việt chúng ta khi nói về Hà Nội, mà là tình yêu riêng của kẻ đã sinh ra, đã lớn lên, đã từ đó ra đi. Hà Nội là thành phố duy nhất mà tôi tường tận. Nên dễ hiểu vì sao tôi hay nhắc tới thành phố ấy. Bao giờ tôi cũng chỉ viết khi cảm được đã có một điều gì chạm vào phía tối tâm hồn mình. Mỗi người có một Hà Nội của riêng. Với tôi Hà Nội là một phần là như chị vừa đọc lại đôi câu trong truyện của tôi. Làm sao có thể tả được hoa sữa hả chị. Nói về hoa sữa, là nói về mùi hương lạ lùng của những đêm đầu Đông Hà Nội. Dọc ND, QT, quanh quanh Hồ Thiền Quang. Se se, sóng sánh, đôi lúc ngột ngạt, đôi lúc thấp thỏm, đôi lúc khắc khoải bồn chồn, những ngày hanh, đôi lúc dịu đi cơ hồ mất hẳn sau những cơn mưa cuối Thu dầm dề. Không ai nói về sắc hoa, dáng hoa. Từng chùm li ti trắng ngà ngà, gần cuống lại hơi xanh lẫn trong vòm lá rộng thật cao. Không phải là thứ hoa để bày hay nâng niu trong nếp áo. Chỉ là để nhớ, để làm sống dậy hồi ức mơ hồ. Vào Saigon, tôi thấý có một con đường toàn cây sữa. Có phần còn cao hơn cả ở Hà Nội. Nhưng chưa khi nào tôi đọc thấy, nghe thấy về hoa sữa Saigon. Cây sữa trong đó không nở hoa chăng? không thơm chăng? Hay Saigon không có những đêm Thu kiểu như Hà Nội để mùi hương ấy có thể trở thành một đeo đẳng. 

5 .- Độc giả được thưởng thức thơ tự do của chị như bài Hồi Tưởng, Ghen (2) , Bốn Mùa, Gởi Một Cây Anh Đào Cùng Tuổi (3) . Hoặc nhiều câu văn chị viết như thơ " mưa rất nhẹ, mưa như sương phản phất, ta quá hiền không cảm hết hơi mưa. . ." (4) Nhà văn Lê Minh Hà cho biết ý kiến về thơ tiền chiến và thơ cổ điển .

– Xin cải chính ngay, không dám nhận vơ. Hai bài sao là của Đỗ Quang Nghĩa. Chúng tôi hay bị nhầm tên như thế. Chả hiểu sao. Tại vì cách cảm và cách biểu hiện của chúng tôi rất khác nhau. Thơ với tôi không phải là thơ tự do hay có niêm luật. Thơ là thơ, là tự do. Tôi bất lực trước thơ, nên nghĩ thế có cái tiện để mà hạ bệ thi ca thành một hình thức ghi chép những gì riêng tư, một thứ nhật ký riêng tư. Chị xếp mấy từ?tôi viết là thơ, xin cám ơn, thơ tự do. Đấy là cách định danh một hình thức thi ca không giống, ít ra là từ thơ mới trở về trước. Đấy là bước phát triển tất yếu của thơ ca trên con dường hiện đại hóa để khỏi tiêu biến. Nhưng mà, có cái gì mới mà đoạn tuyệt với cái cũ đâu. Trong nghĩa đó, thơ tiền chiến và cổ điển VN, có thể không cần đối với những nhà thơ Pháp hay Trung quốc, nhưng với những nhà thơ Việt, phải làm một thứ hành trang, có thể không cần phải tha theo, có thể bỏ lại bên đường sáng tạo, nhưng không thể không biết, không cảm, không trân trọng. Tôi không phải là nhà thơ như vừa thưa với chị, nhưng là một người mê thơ và phải tự nhận là mình bất lực trước thơ. Là một người mê thơ, tôi đang dị ứng nặng với những cái gì từa tựa ca dao, thơ cổ hay thơ tiền chiến, bởi vì tôi cực quý bản chính. Thế hệ chúng ta vẫn là thế hệ khá gắn chặt với thế giới tiền chiến mà chị. 

6 .- Truyện ngắn của chị có nhiều chữ lạ như ngõi, ngẫn ngẫn, to hó, nhảo, nhuôm nhuôm (5) , chỉn chu (6) . Như thế, có cần một chú thích cho các độc giả miền Nam và hải ngoại? 

– Không có từ nào thật lạ, thật sáng tạo của riêng tôi trong số những từ chị vừa dẫn. Những ngõi, nhảo nhuôm nhuôm, tôi học từ các bà các chị ở quê tôi thời chiến tranh đánh phá lan rộng ra Hà Nội. To hó, từ này tôi mược của ông Tô Hoài từ trước năm 45. Ngẫn ngẫn tôi học được từ mấy anh chị đi từ miền Nam. Chỉn chu thì có trong tự điển. Và nói chung, nhiều chữ tôi dùng hiện vẫn được sử dụng hàng ngày ở VN, chỉ không thông dụng ở hải ngoại. Vậy thì đâu có cần chú thích. Chúng ta phải tự làm giàu có vốn từ cho mình bằng cách đọc và học. Vả chăng, ngôn ngữ văn học không phải là ngôn ngữ thống kê học. Mỗi từ lấp lánh những nét nghĩa riêng trong từng văn cảnh cụ thể, và có thể xác định nghĩa từ thông qua văn cảnh. Nếu người đọc không làm được điều đó thì có thể là tôi đã không thành công khi chọn từ rồi. 

7 .- Trong truyện của nhà văn Lê Minh Hà có những câu: " Tốt số hơn bố giàu, Một năm đi Pháp bằng một giáp đi Nga, Dân bụi chẳng dám bắc bếp nấu ăn, nằm lăn đánh bạc" (7). Có phải hồi nhỏ nhà văn Lê Minh Hà ảnh hưởng tiếng ru bằng ca dao tục ngữ của mẹ và bà? 
– Mẹ tôi mất rất sớm. Nên nếu nói tới những ảnh hưởng của mẹ thì tôi chỉ nhớ rằng nhờ mẹ tôi mà tôi biết nhạc tiền chiến, nhạc vàng, theo cách định danh kỷ quặc hàm ý phê phán ở miền Bắc lúc bấy giờ. Nhưng có thể là tôi thừa hưởng gien lạnh từ ông Nội bà Ngoại thật. Bà Nội tôi không biết chữ, nhưng nói mười câu là phải ba bốn câu ca dao tục ngữ. Ông ngoại tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ tiền chiến, và cũng làm thơ rất nhiều, thuộc thế hệ " thanh thản một gia tài vơi nửa mộng" thời kháng chiến. Tuy nhiên, tôi cũng phải nhắc đến những bà lão nhà quê mà tôi có dịp ngồi hóng chuyện khi đi sơ tán với bà tôi, những hàng xóm của tôi trong khu tập thể mà tôi đã sống 30 năm. Họ là một kho từ ngữ đầy biến ảo. 

8 .- Truyện của nhà văn Lê Minh Hà có nhiều tiếng nước ngoài được phiên âm ra tiếng Việt, ví dụ: Đonkihote, Lep Tolxtoi, Xanh Petecbua (8) . Theo nhà văn Lê Minh Hà, việc phiên âm này có lợi và hại thế nào trong quá trình đọc và nghiên cứu ? 

– Hại. Theo tôi. Trong sáng tác, phiên âm thế này còn thôi thở dài phẩy tay bỏ qua cho, chứ ở một tác phẩm nghiên cứu thì … sẽ là đại thảm họa. Nhưng chúng ta đang gặp một khó khăn: Chưa có sự thốnh nhất ở phương diện ngôn ngữ về cách ký tự các từ nước ngoài. Ghi đúng như cách gọi nước sở tại ư? Vậy sẽ lổn nhổn đủ thứ tiếng. Mà nếu dùng một cách phiên âm duy nhất của một nước nào đó thì cũng không khoa học. Do đó tôi cố giữ nguyên cách phát âm và không Việt hóa tên nước ngoài bằng cách thêm bằng trắc. Nói chung, tôi trông chờ sự chỉ giáo của các nhà ngôn ngữ học. 

9 .- Trăng Góa trang 113 có câu " Cô gái Hà Thành xưa tóc cặp lửng sau lưng đi guốc phi mã mặc áo kép bên ngoài áo dài Lơ-Muya" . Chúng tôi được biết áo dài Le Mur do họa sĩ Nguyễn Cát Tường, thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn vẽ kiểu. Xin chị tả về đôi guốc phi mã ra sao? 

– Tôi đã nhìn thấy bao giờ đâu chị. Nhưng như tôi được nghe tả lại thì gót guốc phi mã không nhọn mà tù, hơi loe ra một chút, nghĩa là rất mốt ngay cả với thời bây giờ, và được đóng quay nhung. Áo dài vạt bầu, tóc kẹp lửng hay búi lỏng rồi lộn vào trong, xòe che ơ hờ hai vai và đi guốc đó. Bố tôi kể vẫn thấy các bà các cô trong trang phục như thế trong mấy năm đầu hòa bình lập lại, dáng đi cứ như múa vậy. 

10.- Nhà văn Lê Minh Hà có lời khuyên rất thâm thúy " Có những điều không bao giờ nên nói thật với đàn bà. Nói thật là xúc phạm, là chuốc vạ vào thân suốt đời" (9) . Theo chị lời khuyên này có nên áp dụng với đàn ông không?

– Đấy là nhân vật của tôi nói, không phải là tôi ! Cho nên không thể có một lời khuyên nào. Thưa chị, mà chắc chị định hỏi có nên áp dụng với đàn ông trong các quan hệ riêng tư thôi phải không ạ? Cứ như kinh nghiệm bản thân, tôi nghĩ có thể im lặng, nhưng đã nói thì phải nói thật. Về điều này, tôi đã hơn một lần nghe các bà các cô chê là dại, và mấy bậc nam nhi bám trụ ở nhà tôi khi chị tôi chưa đi lấy chồng ngày xưa thì lên án tôi là ích kỷ, khô hơn ngói, cứng hơn đá. Cơ mà chưa thấy ông chủ nhà tôi than phiền. 

11.- Trong một bài viết về một tác giả mà chị nghĩ rằng " đã đưa văn học Việt Nam tới tầm nhân loại bằng sáng tạo của mình" (10) . Độc giả nhận ra đó là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Theo nhà văn Lê Minh Hà, hiện nay nhà văn nữ nào đạt được tiêu chuẩn đó? 

– Tôi chưa đọc hết, cả trong nước lẫn ngoài nước. Nhưng nhiều tác giả nữ tôi từng được đọc đã để dấu ấn sâu đậm với tôi. PTH nửa trong nửa ngoài, DL, LMK, PTVA, LL, DTHoàn, NTMN trong nước, PTTT, MN, MIÊNG… và gần đây tôi có dịp đọc TTNGH. Hay thật. Nhưng nếu có quyền đòi hỏi, tôi sẽ nói rằng nếu để đạt tới tầm nhân loại, mỗi tác giả còn phải tự vượt qua mình nhiều. Tôi nói tác giả, bởi vì kết quả của sáng tạo là tác phẩm, có thể căn cứ vào tác giả để hiểu một tác phẩm, nhưng đó tuyệt nhiên và không được phép là căn cứ duy nhất để định giá. Nói một cách khác, vấn đề phái tính ở đây không nhiều ý nghĩa. Tôi vẫn giữ nguyên nhận xét của mình về NHT, ngay cả khi NHT đổi phận làm chị em chúng ta được. 

12.- Trong tác phẩm, nhà văn Lê Minh Hà thường nhắc đến các tên tuổi trong văn học Nga như Aitmatop, Lep Tolxtoi, Sôlôkhôp. . . (11) , nhưng không thấy hai nhà văn lừng danh Boris Pasternak (Nobel 1958) và Aleksandr Soljenitsyne (Nobel 1970). Có phải vì tác phẩm của hai vị này không được lưu hành trong khối xã hội chủ nghĩa?

– Không hẳn thế, Boris Pasternak có được dịch in ở VN và tôi rất mê tác phẩm của ông. Quần đảo Gulak chưa được in ở VN nhưng Soljenitsyne cũng có được giới thiệu rải rác. Nhưng tôi hay nhắc tới mấy ông Op Ep On Oi kia vì họ gắn chặt với một Lê Minh Hà đã được tôi thể hiện qua Trăng Góa hay Gió Biếc, Một LMH buồn thảm và có vẻ rất lành. Còn có những LMH khác, nếu cần mô tả chị ta, rất có thể tôi sẽ lôi hai ông đại văn hào này vào truyện 

13.- Từ 1765 dưới triều đại của Nữ hoàng Nga Cathérine đệ nhị, cung điện mùa Đông ở St Petersburg trở thành viện bảo tàng Ermitage. Tập truyện Trăng Góa trang 158 có nhắc đến tên này. Nhà văn Lê Minh Hà đã có dịp đi thăm viện bảo tàng đó hay chưa? 

– Nhờ văn học Nga và văn học Xô Viết đã được dịch và giới thiệu một cách có hệ thống, bởi những dịch giả tài hoa như VTH, PMH, CXH, PHG ở miền Bắc trước đây, nhờ nhiều bạn bè quen thân từng học ở Nga, nên tôi vô cùng thân thiết với đất vĩ đại này. Nhưng thật tiếc, tôi chưa từng đến đó, chưa từng lang thang ở Ermitage. Dù sao thì cũng có thể ước mong 

14.- Nhà thơ Phạm Thiên Thư thường bị ám ảnh bởi hoa vàng. Nhà văn Somerset Maugham bị ám ảnh bởi những cơn mưa vùng nhiệt đới. Hình như nhà văn Lê Minh Hà bị ám ảnh bởi ánh trăng (những đoạn viết về trăng tuyệt đẹp như trong truyện Trăng Góa). Có phải ánh trăng gợi nơi nhà văn Lê Minh Hà nỗi cô đơn bất tận như nỗi cô đơn của mỗi con người? 

– Chị hãy thử hình dung, một con bé con ngồi thâu đêm nhìn trăng sáng rồi mờ, câm lặng và cam chịu ký hiệp ước hòa bình hai bên với bệnh tật. Không phải một đêm, không phải một mùa. Tôi đấy. Năm hay sáu tuổi gì đó, cho mãi đến sau này, tôi hay viết về trăng là vì thế. Trăng không gợi gì cả. Trăng và tôi chia nhau đêm, đêm cô độc và khốn khổ của riêng tôi, của riêng tôi thôi. Không còn ai trong đó. 

15.- Độc giả xót xa và ngậm ngùi khi đọc những câu văn của Lê Minh Hà " Đàn ông thời này chẳng còn biết phấn đấu cho lý tưởng gì, bạt xứ vì nợ vợ nợ con, cũng là xong một kiếp. Đàn bà lơ ngơ ở đất người, tội quá!" hay " Một bầy kiến lăng xăng, lo kiếm tiền như lên cơn đồng và có dịp là tụ bạ để ăn uống, nói xấu nhau và nói phét" (12) .

– Đây có phải là ước vọng của nhà văn chuyên chở nỗi khổ đau của con người để mong tận diệt được nó? Chuyên chở?nỗi khổ đau của con người, có vẻ Nghệ Thuật Vị Nhân Sinh quá nhỉ. Nếu những trang viết của tôi có chứa chỡ điều đó thì thú thực với chị đấy không phải là ý định của tôi khi viết. Tôi không viết về ai ngoài tôi. Nên sẽ vui hơn nếu bạn đọc có thể đọc ở tôi những gì không đau khổ. Khổ đau là định mệnh, mà cũng là tặng vật của trời dành cho chúng ta. Chẳng cách này thì cũng cách khác. Vậy thì mong tận diệt nó làm gì, và làm cách nào cơ chứ? Đằng nào thì cũng không tránh được, nên nếu có thể mong, tôi mong được biết tới những đau khổ có khả năng giải phóng tinh thần của con người, và được miễn dịch với những cái hàng ngày làm bận lòng mà chúng ta cứ nói phóng lên là đau khổ: chuyện áo cơm, chuyện được yêu hay yêu được. Ví dụ như thế 

16.- Các truyện ngắn của Lê Minh Hà trước đây thường quanh hai đề tài: những mảnh đời tại quê nhà và những mảnh đời tha hương nơi đất khách. Giờ đây, độc giả thấy xuất hiện những truyện ngắn của chị dựa theo cổ tích và lịch sử. Có phải đây là vấn đề sinh tử: hiện đại hóa nghệ thuật ? 

– Hiện đại hóa, trong bất kể thời khắc nào là vấn đề sinh tử của nghệ thuật, cũng là vấn đề sinh tử của mỗi người viết. Nhưng đây là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có sự tham gia đồng thời của lý luận và sáng tác. Nhưng việc tôi viết các truyện ngắn có màu sắc cổ tích và lịch sử lại không có vẻ dính dáng gì tới ý thức hiện đại hóa nghệ thuật cả. Mục đích ban đầu của tôi là viết lại vài ba truyện cổ tích để tặng con, cũng là một cách thưa thốt với học trò cũ. Tôi hình dung đời người như một con sông, mà lưu lượng phụ thuộc vào những giòng chảy hợp thành nó. Tôi đã đi qua vài ba quãng đời mình, và giờ lại muốn phát hiện mình ở những khía cạnh khác. Vậy thôi. Đã nói tới hiện đại hóa nghệ thuật là phải nói tới ý thức của người viết về VHQK và đương đại, là quan niệm riêng về VH… Nhưng khi viết về những truyện lấy đề tài từ cổ tích, tôi không biết và cũng không tìm biết ai đã viết gì trước mình. Viết xong Trương Chi chẳng hạn, tôi mới nhớ ra đã có một TC của Nguyễn Huy Thiệp, mới biết trong nước vừa có một cây bút trẻ cũng viết TC. Không rõ quá trình sáng tạo ở các tác giả khác thế nào. Ở tôi thì thật sự là một bước giật lùi: Còn bé, mới viết thì chăm chăm viết sao cho giống ai mà mình thích, sau thì cố viết không giống ai, còngiờ, tôi không quan tâm tới chuyện đó nữa, chỉ muón viết sao thể hiện được con người mình rõ nhất, bằng phương tiện gì cũng được. Nên như đã kể cho chị đấy, tôi ăn trộm từ của cả ông Tô Hoài, mà nếu bới câu chữ ra thì tôi còn đạo văn vô khối. Nhưng cũng chả sao phải không ạ. Điều cốt yếu với người viết người ta nhận ra đó là ai. Và tôi nghĩ vấn đề hiện đại hóa nghệ thuật không phải là một vấn đề đột biến, chỉ có thể giải quyết từ từ, bằng những tác phẩm mà ở đó tác giả cho tahý mình là một cái gì không sao chép được, nếu mà chính người viết cũng không sao chép được mình thì còn tốt hơn nữa. 

17.- Tác phẩm " Chuyện Kể Năm 2000" của Bùi Ngọc Tấn vừa ra mắt độc giả đã gây nhiều tranh luận. Xin nhà văn Lê Minh Hà cho biết ý kiến về tác phẩm này? 

– Nói về một tác phẩm được viết bằng cả một cuộc đời đau khổ và cái chính là hay đến thế mà chỉ có vài ba câu thì e không phải. Về tác phẩm này, tôi đã có dịp trình bày cảm nghĩ của mình cùng với ĐT, NHL, VTH, DQN ở BBC. Chỉ xin nhấn mạnh rằng không phải tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng tạo nổi một chấn động chính trị như CKN2000 nhưng cái làm cho tác phẩm này có được một sự sống đặc biệt lâu dài trong đời sống văn nghệ nước nhà, điều này không thể nghi ngờ, chỉ có thể cắt nghĩa bằng chính nó, như một chỉnh thể nghệ thuật kêu gọi yêu thương chứ không phải là chứa chở một thông điệp chính trị nào. Nhấn mạnh tác động chính trị của tác phẩm mà không quan tâm đúng mức nghệ thuật của nó có thể là xúc phạm người đã sinh thành tác phẩm vô giá này của văn học VN đương đại. 

18.- Chị có thường xuyên liên lạc, gặp gỡ những người làm văn học nghệ thuật hiện nay tại Tây Ấu hay không? 

– Rất tiếc là không dù rất muốn. 

19.-Lê Minh Hà có ý định cư tại Bắc Mỹ nếu có cơ hội hay không? 

– Đã chọn một cuộc sống ngoài tổ quốc mình thì ở đâu mà chả như nhau, miễn yên thân khi mình mong yên phận. Nhưng tôi mong có một ngày được tới Bắc Mỹ, tới Canada, để xin xem mặt và nghe giọng những anh chị mà tôi là bạn đọc thường xuyên và khắt khe: NQT, LH, HDN… đông anh chị em mình bên đó lắm phải không chị.

20.- Truyện ngắn Những Ký Họa Dang Dở có nhắc đến Khánh Ly và Trịnh Công Sơn. Cảm tưởng của nhà văn Lê Minh Hà ra sao khi nghe tin người nhạc sĩ này đã ra đi vĩnh viễn vào đầu tháng Tư năm 2001 vừa qua. 

– Vậy là ông đã vĩnh viễn thành một cõi đi về đối với chúng ta. Là người sáng tạo, hỏi gì hơn thế nữa. Nhưng là người mê Trịnh Công Sơn qua chỉ một Khánh Ly, thú thực là tôi bàng hoàng. Đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng. Riêng bài này tôi chỉ thích nghe qua chính giọng TCS. 

Lê Quỳnh Mai 
thực hiện 

Chú thích: 

(1) : Gió Biếc, trg 110 
(2) : Văn số 32, trg 66, 67 
(3) : Văn số 40, trg 28, 29 
(4) : Trăng Góa, trg 152 
(5) Trăng Góa, trg 108, 111, 134, 157 
(6) : Gió Biếc, trg 37 
(7) : Trăng Góa, trg 73, 45, 32 
(8) : Gió Biếc, trg 18, 71, 42 
(9) : Gió Biếc, trg 81 
(10) : Chân Dung Nhà Văn Trong Một Thế Nhìn, Văn Học 169, trg 29 
(11) : Gió Biếc, trg 71 
(12) : Gió Biếc, trg 18, 54


Nguồn: http://nhanvan.com

 


Thảo luận cho bài: "Phỏng Vấn Nhà Văn Lê Minh Hà"