Phỏng Vấn Nhà Văn Nguyễn Ngọc Ngạn

Tác giả:


Hôm nay thì tôi khá vui, vì kiếm được đồng minh ăn những món mình hằng yêu thích. Ông chồng tôi không ăn nấm khô, không ăn măng khô, không biết ăn mắm tôm, mắm nêm, nên anh chàng đã bị thiếu mất bao hương vị của những món ăn đặc thù, đăïc sản của quê hương. Tôi bưng bát bún măng khô để trước mặt người bạn thân, đã mấy năm mới có cơ hội gặp lại. Từ ngày anh chàng bị “book” đi show dài dài là …thật khó gặp. Có tel qua, thì tôi và Diệp lại được dịp đấu láo vì anh chàng cứ vắng nhà đều đều. Bữa nay tôi bèn “black mail” anh chàng. Này nhé:

– Anh Ngạn này, hôm nay bỏ công nấu nướng mấy món anh thích ăn thế này là tôi cũng không bỏ qua cơ hội phỏng vấn anh đâu đó nhá. Bạn bè tôi cứ nói bồ phải hỏi dùm mình những điều mình muốn hỏi mà không có cơ hội đó nhé.

Anh Ngạn cười thật tươi:

– Vâng, xin chị cứ hỏi, được ăn ngon thế này, thì chắc chắn phải đáp lễ thôi.

Ông xã tôi lườm:

– Em chỉ méo mó nghề nghiệp, làm khó anh ấy thế này, anh ấy về mách bà Diệp là ….

Tôi cười thật tươi:

– Không lo, không lo…Ngọc -Diệp với em một phe. Diệp gửi gấm ông ấy mà, nói rằng “Chị cứ cho ông ấy ăn mấy món đặc sắc người Bắc là ông ấy thích lắm. Em biết bên chị không có nhiều hàng quán ngon. Ăn cơm Tàu thì ông ấy ngán lắm rồi. Chỉ có nhà nấu là nhất.”

Anh Ngạn lại cười:

– Gớm, có lần hai bà nói chuyện với nhau mà tôi ngủ một giấc, tỉnh dậy vẫn thấy các bà chít chát…

Ông xã tôi giục hỏi gì thì hỏi, để anh ấy ăn kẻo nguội, không đầu bếp lại bị chê nấu không ngon. Và thế là cuộc phỏng vấn bắt đầu:

oOo

Hương Kiều Loan (HKL): Anh Ngạn cho bà con bạn bè biết sơ qua về tiểu sử anh đi nhé.

Nguyễn Ngọc Ngạn (NNN) : Tôi sinh ra tại một làng nhỏ ở ngoại thành Sơn Tây, trong một gia đình gồm bẩy anh chị em. Năm 54, di cư vào sàigòn, chỉ có người chị cả ở lại ngoài bắc với gia đình chồng. Tính đến năm 75, anh em tôi tất cả đều ở trong quân đội, trừ cậu em út là Ngọc Trọng thì vừa học xong Chính Trị Kinh Doanh Đà lạt. Hiện nay anh em tôi ra hải ngoại gần đủ. Chỉ có bà chị cả ở Sơn Tây và người em kế tôi ở Sài gòn. Đó là người con trai duy nhất có mặt khi cha mẹ tôi qua đời. Mẹ tôi năm mất năm 91. Cha tôi mất năm 97.

HKL: Gia đình tôi cũng có bẩy anh chị em giống anh. Tôi cũng có một bà chị lớn nhất ở lại Hà Nội theo chồng, khi nhà di cư vào Nam anh ạ. Trong gia đình, bà chị lớn là người duy nhất giống tôi, thích văn chương và nghệ thuật. Chị vẽ đẹp nữa. Thế bên gia đình anh, ngoài anh ra, trong nhà có ai thiên về nghệ thuật không?

NNN: Nói cho đúng thì chỉ có cậu út tôi là Ngọc Trọng mê nhạc từ bé. Từ Trung học đã học piano, guitar, nhạc lý, rồi đi hát và sáng tác. Còn tôi, viết văn cũng như lên sân khấu hoàn toàn là do sự đưa đẩy của hoàn cảnh, không hề định hướng từ nhỏ.

HKL: Từ trước có bao giờ anh nghĩ sẽ có ngày anh sinh sống bằng bộ môn này không?

NNN: Như tôi vừa thưa với chị. Tôi chẳng bao giờ hình dung có ngày mình sẽ đứng trước sân khấu, cũng như có thể sống bằng “nghề” điều khiển chương trình mà người ta gọi là M.C. Lý do giản dị là từ trước tới nay, trong sinh hoạt văn nghệ Việt Nam không có nghề này! Hoặc có, nhưng ít được chú ý. Việc giới thiệu chương trình, tức M.C.,- hay đúng hơn là làm “host” một show ca nhạc – mặc dù đã thịnh hành từ lâu ở các nước Tây Phương, vẫn quá mới mẻ đối với VN. Có lẽ chỉ gần đây vai trò điều khiển chương trình mới dành được chỗ đứng tương đối quan trọng trong các chương trình ca nhạc tổng hợp. Làm văn nghệ cũng như viết văn. Bước đầu không ai nghĩ đến tiền vì chẳng biết nó có tiền hay không! Nhưng lâu dần trở thành một cái nghề tay trái, rồi dần dà biến thành nghềø tay phải. Tất cả đều là tình cờ hết.

HKL: Đang từ nhà văn, qua điều khiển chương trình văn nghệ, anh có bị gia đình hay độc giả phản đối không?

NNN: Khi trung tâm Thúy Nga lần đầu mời tôi vào tháng 5 năm 92, tôi không dám nhận lời ngay, vì cần hỏi ý kiến người thân. Hỏi ý kiến là vì tôi không tự tin. Lúc ấy, bên văn chương, tôi đã có nhiều tác phẩm. Và xét ở một chừng mực nào đó thì tôi đã được coi là thành công. Bên sân khấu, tôi hoàn toàn không có kinh nghiệm, nên không khỏi đắn đo. Tất nhiên người đầu tiên tôi tham khảo là nhà tôi. Nói chung thì nhà tôi và đa số người thân trong gia đình đều ngăn cản, không muốn tôi lao vào lãnh vực này. Lý do duy nhất là mọi người sợ tôi thất bại. Độc giả thì sợ tôi cầm micro sẽ bỏ cầm bút. Trước sự dè dặt của mọi người trong gia đình, tôi đã phân vân suy nghĩ khá lâu. Hơn ba tháng sau, tôi mới lên đường làm thử cuốn Paris By Night 17. Động cơ duy nhất lúc bấy giờ thúc đẩy tôi là tôi nghĩ đến cha tôi ở Sàigòn. Tôi không về VN được, mà tôi muốn cha tôi nhìn lại tôi sau hơn 10 năm xa nhà. Băng Thúy Nga thì người ta sang đi sang lại, sang lậu trong nước rất nhiều. Thể nào cha tôi cũng trông thấy tôi và nghe tiếng tôi nói. Đó là lý do khiến tôi lên Paris By Night lần đầu. Nhưng thật tình mà nói, thưa với chị, lúc đó tôi chưa biết sức phổ biến rộng lớn của Paris By Night. Nếu biết, tôi đã nhận lời ngay không đắn đo. Bởi càng về sau, tôi càng nhận ra Paris By Night là diễn đàn có tầm quảng bá gần như trong mọi gia đình VN ở hải ngoại cũng như quốc nội. Tôi có thể xử dụng diễn dàn ấy để nói chuyện văn học và lịch sử với các bạn trẻ lớn lên ở nước ngoài.

HKL: Tôi vẫn nhớ cuốn Paris By Night số 17, là cuốn anh có mặt. Anh đã thổi một luồng gió mới vào ngành MC của người Việt. Tôi đã nghe bao người khen anh đấy, vì họ thấy khác hẳn lối làm M.C từ trước tới giờ của người Việt. Ờ mà hồi đó coi anh khác hẳn bây giờ. Do đâu anh bắt liên lạc được trung tâm Thúy Nga để họ mời anh?

NNN: Đi ngược giòng thời gian, trung tâm Thúy Nga thực hiện cuốn Paris By Night số 1 năm 1983. Khoảng thời gian đó, văn nghệ trong cộng đồng chưa phát triển vì ba lý do: Thứ nhất, kinh tế cộng đồng chưa phồn thịnh. Thứ hai, phim bộ Trung Hoa chiếm lĩnh thị trường của mình. Thứ ba, cộng đồng còn quá nặng về nhạc đấu tranh, chưa chú ý đến tình ca. Những cuốn băng chủ đề của Thúy Nga, chẳng hạn như : “Giã Biệt sàigòn, Giọt Nước Mắt Cho Việt Nam, Nước Non Nghìn Dặm ra đi”, hoặc băng cải lương cũ trước 75, được đón nhận mạnh mẽ hơn hẳn những chương trình ca nhạc tạp kỹ Paris By Night. Chính vì vậy nhịp độ thực hiện Paris By Night rất chậm. Từ 83 đến 89, Thúy Nga chỉ cho ra đời được có 6 cuốn Paris By Night và đều thực hiện theo lối MTV- cũng gọi là music video–nghĩa là chạy tên ca sĩ, tên bản nhạc trên màn ảnh chứ không có người điều khiển chương trình. Năm 89, Ông Jean Pierre Barrie, tổng giám đốc đài truyền hình Pháp Euromedia mới đềø nghị với trung tâm Thúy Nga nên thay đổi hình thức Paris By Night. Thay vì thu MTV, thì nên chuyển sang Talk Show là phương thức ăn khách từ lâu tại các nước Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ. Chẳng hạn Jonhny Carson làm host Tonight Show suốt 30 năm, với trên 4000 show từng đêm mà vẫn thu hút hàng chục triệu khán giả. Hình thức này có cái mới lạ là không chỉ thuần túy trình diễn ca vũ nhạc, mà còn phỏng vấn, kể chuyện, mạn đàm, tạo không khí gần gũi với khán giả hơn. Thúy Nga làm theo đề nghị của ông Jean Pierrè và bắt đầu chuyển hướng. Muốn làm Talk show thì quan trọng nhất là phải kiếm được người làm HOST, người biết nói chuyện, tức là người điều khiển chương trình. Trung tâm Thúy Nga đi tìm… và anh Jo Marcel là người đầu tiên được mời trên Paris By Night số 7. Rồi liên tiếp có nghệ sĩ Trần văn Trạch, Việt Thảo, La Thoại Tân, Ngọc Phu, Kim Anh, Trần Quốc Bảo, Hương Lan, Khánh Ly, Đỗ Văn, Lê Văn và rồi tới tôi! Cho đến giờ, tôi vẫn chưa biết ai đã giới thiệu tôi cho Thúy Nga vì tôi ở quá xa, lại không hề quen biết ai trong trung tâm này cả.

HKL ( cười): Tôi thì cho rằng ai đã đọc nhiều truyện ngắn của anh, thấy anh viết rất lém lỉnh, dí dỏm. Chính chúng tôi đọc mà còn phải cười lăn, thì đoán rằng họ nghĩ anh có thể làm “Good Host” bởi người làm host cần có óc khôi hài, cái khôi hài ý nhị. À, anh có quyền tự chọn lựa đề tài, biết trước nội dung chương trình và toàn quyền soạn lời dẫn giải cho băng Video không?

NNN: Trên nguyên tắc là có. Nhưng tôi xin nói rõ điều này: Paris By Night có hai loại: Loai một: là loại có chương trình đại nhạc hội bình thường. Loại hai là loại chương trình chủ đề, chẳng hạn băng chủ đề Mẹ, Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương, Cây Đa Bến Cũ, v.v. Loại một là đại nhạc hội thì tương đối đơn giản: Thúy Nga chuẩn bị hết chương trình. Gần đến ngày thu hình, họ gửi danh sách bài và ca sĩ cho tôi để tôi có ý niệm tổng quát, rồi khi đến rạp, sẽ bàn với cô Kỳ Duyên xem mình cần nói gì trên sân khấu. Ngày thu hình, mọi nguơiø đều tập trung tại rạp và làm việc trong vòng mấy tiếng, thì thành hình cuốn băng. Loại hai là băng chủ đề (thí dụ như chủ đề Mẹ, hoặc Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương, hay Cây Đa Bến Cũ) thì phức tạp hơn nhiều, bởi vì làm việc thực hiện một băng chủ đề có khi kéo dài cả vài năm mới xong. Thí dụ nhà văn Duyên Anh đề nghị Thúy Nga làm băng Mẹ từ năm 92. Đang làm dở dang thì năm 97 ông mất. Thúy Nga mới giao cho tôi. Tôi ngồi ở nhà soạn lời dẫn giải, trong khi ca sĩ đi thu hình ở chỗ khác và nhà sản xuất lại thu ngoại cảnh ở chỗ khác nữa. Nghĩa là nhà sản xuất, đạo diễn, ca sĩ và người giới thiệu chương trình không làm việc chung cùng một lúc với nhau. Tôi đọc lời dẫn giải vào CD, gửi qua cho đạo diễn. Đạo diễn mới ghép các bài hát, hình ảnh và lời thuyết trình của tôi vào thành cuốn phim. Vì không trực tiếp ngồi làm việc chung với nhau cùng một lúc, cho nên dễ xẩy ra khuyết điểm, chẳng hạn như cuốn video Mẹ. Từ sau cuốn Mẹ trở đi, tôi rút kinh nghiệm, yêu cầu đạo diễn, nhà sản xuất phải cho tôi coi hết phần hình ảnh của cuốn video trước khi phát hành để tránh những sơ hở có thể xẩy ra.

HKL: Video Thúy Nga có phát hành trong nước không?

NNN: Muốn phát hành cũng không phát hành được vì hai lý do chị ạ. Này nhé, thứ nhất: Giá thành thực hiện tại hải ngoại quá cao, đem vào trong nước không ai đủ khả năng mua. Thứ hai: Pháp luật trong nước không bảo vệ tác quyền, băng, hoàn toàn bị sang lậu. Cho nên ai nói rằng băng Thúy Nga- hoặc bất cứ băng video của bất cứ trung tâm nào tại hải ngoại — phát hành bán trong nước là nói điều ngớ ngẩn. Từ nhiều năm nay, bất cứ băng video của trung tâm nào cũng có mặt trong nước, nhưng đều là băng sang lậu mà thôi. Thực hiện ở trong nước, mang ra ra bán ở hải ngoại thì có lợi về thương mại, chẳng hạn chúng ta thường mua 10 dollars 3 CD trong nước. Còn thực hiện tại hải ngoại mà mang về nước bán thì lội ngược dòng nước, đi vào chỗ phá sản, người khờ đến đâu cũng không làm điều đó!

HKL: Anh nói đến vụ sang băng lậu, đâu cứ gì tại VN mới sang băng lậu. Ngay tại hải ngoại cũng đã có người làm vậy và cho thuê. Nói gì đến băng video, tôi đã thấy họ làm giả cả báo Văn Nghệ Tiền Phong bán, không có bìa, chỉ có ruột, có người quen đưa tôi coi, và nói thế này thì văn sĩ chết đói thôi. Để kể anh nghe vụ CD sang lậu ở VN, tôi thấy họ bầy bán đầy rẫy những CD của các ca sĩ hạng A bên này, rồi cả CD của ngoại quốc nữa, với giá thật rẻ, 2 dollars một CD. Đi phố, tôi thấy người ngoại quốc cầm lên coi, nhưng không mua, tôi hỏi nó là rẻ hơn ở nước ngoài. Họ bảo là họ không mua vì biết là làm giả, điều đó không tốt. Nếu họ mua là hại nhà sản xuất ở nước ngoài…. Tinh thần đó thật đáng khen! Trên chuyến về, tôi thấy có người VN bị phạt, vì khi quan thuế họ khui thùng ra khám, thấy toàn áo Polo giả. Quan thuế tịch thu hết. Nếu họ mua vài cái mặc thì không sao, nhưng toàn thùng là loại áo đó không thôi, nên bị bắt là vậy. Quan thuế cho là buôn bán, và vi phạm luật. Thôi bây giờ để hỏi anh về vụ về hưu đây, hì…hì…chúng ta ai cũng sống gần nửa thế kỷ hay hơn nửa thế kỷ. Nghe ghê quá phải không anh? Vậy khi về hưu thì anh tính làm gì đây? Mở trung tâm băng nhạc? Với kinh nghiệm đi show đầy mình, với sự quen biết quảng bá, với “bạc” cũng bộn rồi. hi…hi…

NNN: Không đâu là không đâu chị HKL ơi. Tôi vốn không có óc kinh doanh nên chưa bao giờ nghĩ đếân việc mở trung tâm băng nhạc hoặc bất cứ ngành thương mại nào. Khi về hưu, tôi sẽ tiếp tục đọc sách và viết sách.

HKL: À, anh có thể cho biết ai là người có thẩm quyền chọn ca sĩ và bài bản cho Thúy Nga?

NNN: Người duy nhất chọn bài và mời ca sĩ là cô Tô Ngọc Thủy, giám đốc sản xuất (Exercutive Producer) của thúy Nga.

HKL: Kể ra cả một trung tâm, mà chỉ do một người quyết định lựa bài bản, cũng hơi chủ quan đó. Vậy ca sĩ có được quyền lựa chọn bài hát cho mình hay hoàn toàn do trung tâm quyết định? Và anh khoan trả lời câu này. Tôi kể anh nghe một trường hợp nhé: Vũ Khanh, dĩ nhiên chúng ta ai chả biết Vũ Khanh là danh ca, tôi cũng ái mộ giọng ca của Vũ Khanh. Tôi đã nghe hầu hết các ca sĩ hát bản ” Lá Đổ Muôn Chiều”, nhưng rốt cuộc tôi chấm Vũ Khanh, và phải là Vũ Khanh trong cái CD Tình Ca Việt Nam 1, do Osa Production, thì mới lột được hết hồn của bản nhạc. Trong các CD khác, người ca sĩ cũng hát bản đó, nhưng tâm hồn ở vào lúc khác, đã không lột được hết ý và lời của bản nhạc. Trở lại phần chọn lựïa của cô Thủy. Khi cô Thủy chỉ định người ca sĩ hát bản nào đó, nếu không đúng sở trường của ca sĩ, mà ca sĩ phải hát vì tiền thù lao, thì bài hát ta nghe sẽ trơn tuồn tuột…chả có hồn tý nào! Bản nhạc không lên được mức tuyệt chiêu. Anh đồng ý không? Như thế ca sĩ của Thúy Nga do cô Thủy chỉ định bản nhạc để hát?

NNN: Phần lớn bài hát do trung tâm chọn chị ạ. Nhưng ca sĩ cũng có thể đề nghị và nhiều khi trung tâm đồng ý.

HKL: Về trang phục, khi trình diễn trên Paris By Night thì do ai lựa chọn? Các áo dài do Thúy Nga đài thọ?

NNN: Trang phục cá nhân khi đơn ca là do ca sĩ tự chọn. Nhưng khi trình diễn một bài có nhiều vũ công thì phải do trung tâm quyết định, thuê người vẽ kiểu áo và may chung. Tuy vậy, ngay cả trang phục cá nhân cũng cần phải cho nhà sản xuất (cô Tô Ngọc Thủy) biết trước vì phải phối hợp yếu tố ánh sáng và cảnh trí sân khấu. Bởi vì nữ ca sĩ thường thay đổi vào giờ chót, sau khi thu hình thử!

HKL: Thế còn vấn đề thù lao ca sĩ, họ có được quyền biết thù lao của người khác không? Thúy Nga trả đồng giá hay tùy theo ca sĩ? Và căn cứ vào đâu để trả người này cao hơn người kia?

NNN: Điều này tôi không rành lắm, vì hợp đồng riêng của mỗi ca sĩ với trung tâm. Nghĩa là thù lao không giống nhau. Người nào biết người đó thôi!

HKL: Khi thu video, thì người nghệ sĩ thường có mặt tại hậu trường bao lâu trước khi ra sân khấu hả anh?

NNN: Khi thu hình một cuốn video Paris By Night, nghệ sĩ phải có matë khoảng ba ngày để tập dượt, để thu hình thư û(giữ làm security), rồi mới trình diễn chính thức trước mặt khán giả. Thông thường một nữ ca sĩ phải mất khoảng ba tiếng đồng hồ để make up và làm tóc. Nam ca sĩ thì mất khoảng 10 phút thôi!

HKL: Anh nói xấu phụ nữ chúng tôi rồi nhé. Ờ mà các ông thì vốn dĩ đã trơn trụi rồi, tóc tai ngắn ngủn, có gì cần phải làm đẹp đâu. Mà có làm đẹp, quý ông cũng chả hơn lên được bao nhiêu. hi…hi… Ấy ấy nói đùa thôi kẻo anh lại cổ động các ông la làng thì nguy cho tôi lắm đấy. Thôi bây gìờ hỏi anh điều nhé, vì thấy anh cứ đi show dài dài, vậy mỗi năm trung bình anh đi show bao nhiêu lần?

NNN: So với các ca sĩ thì tôi là người ít đi show nhất. Bởi vì chỉ khi nào làm show lớn, đông nghệ sĩ, người ta mới cần đến tôi. Còn ca sĩ thì có show thường xuyên vì vũ trường, phòng trà, hội hè và casino, đôi khi chỉ thuê một hai ca sĩ. Có những ca sĩ ăn khách, hầu như quanh năm, tuần nào cũng có show.

HKL: Anh đi show nhiều, và cũng qua nhiều nước, nơi nào đã để lại kỷ niệm vui nhất trong những năm anh đi lưu diễn?

NNN: Nói đến kỷ niệm vui thì ít lắm chị ạ. Bởi vì khi đã ở lâu trong nghề thì những chuyến đi lưu diễn không còn tạo nên háo hức nữa, mà chỉ thấy vất vả vì ngồi máy bay xa, vì giờ giấc khí hậu thay đổi theo mỗi địa phương. Cho đến giờ này thì tôi nhớ nhất là chuyến đầu tiên đến thủ đô Warsaw (Varsovie) của Ba lan năm 2000. Trình diễn cho 2000 khán giả mà đa số đều xuất thân từ phía bên kia: Sinh viên du học, con em cán bộ, lao động hợp tác, bây giờ họ ở lại với chế độ mới của Ba lan sau khi CS sụp đổ. Cùng đi với tôi có Kỳ Duyên, Lưu Bích, Như Quỳnh, Trường Vũ, Shayla, Thanh Trúc và Gia Huy. Quê hương của Đức Giáo Hoàng, của Công Đoàn Đoàn Kết đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong trí óc tôi vì những hình ảnh lạc hậu còn sót lại của chủ nghĩa xã hội. Chẳng hạn giờ này mà cảnh sát ở phi trường vẫn lăm lăm ôm súng tiểu liên đi tới đi lui, mặt hầm hầm nhìn hành khách. Hoặc cảnh buôn lậu hàng duty free diễn ra nhan nhản trong các washroom phi trường. Hoặc khách sạn là khu nhà tập thể của cán bộ trước đây, bây giờ tân trang lại, một phòng kê 6 giường như trại lính. Hoặc khu chợ trời họp trên sân vận đôäng, có hàng ngàn người Việt đứng bán, hễ thấy công an là dúi tiền cho họ! Nói chung, quang cảnh nào cũng có vẻ bất ổn, làm tôi rất nhớ Việt Nam. Lẽ ra thì ban tổ chức giữ lại hai hôm để đưa đi chơi cho biết sinh hoạt người Việt tại thủ đô Ba Lan. Nhưng ngay đêm hôm ấy, sau khi trình diễn, chúng tôi thấy không nên ở lại. Chúng tôi nhờ người đưa ra ga xe lửa mua vé để đi Anh hoặc bất cứ quốc gia nào. Rồi từ đó sẽ lấy vé máy bay trở về Mỹ. Văn phòng nhà ga mãi 5 giờ sáng mới mở cửa. Nhìn đồng hồ thấy mới hai giờ. Trở lại hotel thì dở dang, chúng tôi ngồi luôn trên sân ga, ngủ gà ngủ gật, gọi cà phê nhâm nhi chờ sáng. Đến lúc văn phòng bán vé mở của thì chúng tôi càng bực hơn. Bởi vì hành khách xếp hàng dài thườn thuợt mà mấy cô bán vé cứ thản nhiên ngồi nói chuyện với nhau như không hề thấy có ai trước mặt! Đúng là tác phong chủ nghĩa còn sót lại!

HKL: Nhân anh nói chuyện về tác phong chủ nghĩa, tôi cũng có một kỷ niệm, kỷ niệm mà mình không nên nhớ, nhưng khổ nỗi, cứ nói đến VN, là nó lại trở về. Vâng thưa anh, hình như tác phong chủ nghĩa đó ăn sâu vào những người làm việc cho họ. Những người này, họ coi họ cao ngất, và mặt mày cứ lầm lì, lạnh như tiền, lại còn cứ “va’c” mặt lên anh ạ. Nhìn mà….!!!! Người bạn tôi, bà X, kể là họ mua mấy cuốn tape thâu cảnh trí Việt Nam, do chính cơ quan nhà nước thâu. Thế mà họ bắt mang đi khai, làm giấy tờ…phải có giấy chứng nhận của văn phòng kiểm tra văn hóa của thành phố, thì mới mang qua lọt cổng khám xét của phi trường. Còn nếu không là họ tịch thu! Đã thế, hôm bà X đi khai, xếp hàng cho dài người ra, vẫn chưa đến lượt vô. Trong khi, những tên buôn mánh, quen thuộc chúng, thì chúng làm ngay. Còn mình thì phải đợi, đợi và đợi, rồi…. hẹn ngày đến lấy. Nếu chi cho chúng ít đô thì xong ngay. Nhưng như thế là cứ nuôi bọn tham nhũng sao? …Thôi không nói nữa, kẻo anh lại bực thêm và tôi cũng “nực” nữa. Thôi để tôi hỏi anh sang chuyện khác nhé. Có bao gờ anh đi show, đi chung chuyến bay với toán nghệ sĩ Thúy Nga không?

NNN : Đi chung thì nhiều chị ạ. Chẳng hạn đi Paris hoặc sang Úc, hoặc từ Cali đi về miền Đông. Nhưng trên máy bay, nghệ sĩ thường ngủ vùi. Chỉ có tôi già rồi nên ít ngủ. Nhìn quanh quẩn chả thấy ai thức để nói chuyện.

HKL: Nếu không ngủ được, lại chả có ai nói chuyện, chắc anh coi TV chứ gì?

NNN: Lúc đợi ở phi trường hay hoặc ngồi trên phi cơ, tôi thường đọc sách, đọc báo, sửa truyện ngắn hoăïc coi phim chiếu trên máy bay. Mỗi lần qua Cali, trung tâm Thúy Nga thường giao cho tôi cả chồng thư của độc khán giả và tôi thường đọc trên máy bay. Tôi vốn khó ngủ trên phi cơ, nên cần phải có cái gì đọc mới giết thì giờ được!

HKL: hì…hì…tôi biết anh ghét computer! Đến giờ phút này, anh vẫn là người “ngoan cố”, không chịu xài internet. Vậy lần sau trước khi anh bay đi đâu xa, anh tel, tôi gửi cho anh xấp bài viết về forum, dynamic font, cách làm site, v.v. của bác Diệu Thủ Thư Sinh mà tôi thân. Bảo đảm đọc một trang là anh sẽ ngáy ầm cả máy bay lên!hi….hi… Thôi bây giờ hỏi anh qua đề tài khác đây, anh sẽ hối hận rằng được ăn mấy món bắc kỳ do HKL nấu mà phải trả lời bao câu hỏi thế này, thì chắc nhịn đói sướng hơn! hi…hi… Anh Ngạn này, người ta nói truyện và audio book của anh khác biệt đấy. Tôi đọc hết bộ sách của anh thì thấy họ nói có phần đúng.

NNN: Vâng, quả đúng như thế. Nội dung in trong sách và nội dung khi đọc thành audio book có khác nhau đôi chút. Lý do như thế này chị ạ. A -thời lượng mỗi băng cassette chỉ có 60 phút. Nếu đọc với tốc độ bình thường thì một băng 60 phút chứa đuợc từ 25 tới 28 trang sách in. B- Lúc sáng tác truyện, tôi không nghĩ đến việc sẽ thu audio book, cho nên không căn số trang. Thành ra, truyện ngắn nào trong sách dài khoảng trên dưới 25 trang thì đem đọc là vừa khít, không phải sửa chữa gì cả. Nếu ngắn quá, tôi phải viết thêm cho đủ 60 phút. Nếu dài quá, tôi phải xén đi. Đó là nỗi khổ của tôi khi đọc truyện dài. Bởi truyện dài chỉ có 6 tapes, tức là từ 150 trang đến 180 trang! Bao nhiêu truyện dài của tôi như Mầu Cỏ Úa, Trong Quan Tài Buồn, Cõi Đêm, Nước Đục, Quay Trong Cơn Lốc, Nhìn Quanh Một Mình, v.v. đều phải cắt xén, thu gọn. Cô Hồng Đào ngồi bên cạnh rất đau lòng nhìn tôi gạch gạch xóa xóa hàng chục trang, nhưng không làm không được. Riêng truyện Xóm Đạo thì vì dày quá, tôi phải thuyết phục Thúy Nga để tôi thu làm hai bộ, nghĩa là 12 tapes. Việc thu gọn truyện để thu audio book cũng giống như tạp chí Readers’ Digest, họ thu gọn lại (Condensed book), miễn sao không làm mất ý chính của nội dung.

HKL: Gần đây, nhiều người ngạc nhiên thấy anh viết truyện ma. Nguyên nhân nào làm anh rẽ một hướng mới như thế?

NNN: Thưa chị, thật ra chẳng có nguyên nhân gì cả. Tôi vốn rất mê truyện kinh dị của Stepphen King. Là một người cầm bút, tôi càng phục cái óc tuởng tượng bao la của ông ta. Bao nhiêu cuốn sách của ông đã được đóng thành phim. Và hầu như cuốn nào cũng là best seller, đem laiï cho ông số vốn khoảng 90 triệu Mỹ kim. Mùa Noel năm 98, trong chuyến lưu diễn ở Âu châu, đoàn nghệ sĩ chúng tôi được nhà tổ chức chở xe bus đi xuyên bang. Trên những chặng đường dài 7,8 tiếng đồng hồ mà thường khởi hành vào lúc nửa đêm về sáng, anh em phải thay phiên nhau nói chuyện để người lái xe không bị ngủ gật. Câu chuyện tình cờ chuyển hướng về chuyện ma. Và có người hỏi tôi sao không viết truyện ma thu vào cassette? Tôi thấy đề nghị đó cũng khá lạ. Nên tôi viết thử truyện đầu tiên là Đêm trong căn nhà hoang. Rồi từ đó đến nay, tôi viết được 6 truyện, thu băng, trở thành sản phẩm hết sức ăn khách đến độ báo Công An trong nước đã phải viết hai bài lên án, rồi mở chuyến dịch tịch thu hàng loạt băng lậu của tôi hồi đầu năm nay. Kinh nghiệm cho thấy, viết truyện ma để đọc vào băng cassette, khó hơn viết truyện tình cảm rất nhiều. Bởi vì phải làm sao giữ cho cường độ căng thẳng kéo dài tới 60 phút! Bởi vậy tôi càng phục trí tưởng tượng của Stephen King.

HKL: Tôi cũng đồng ý với anh vêø sự tuởng tượng phong phú của tác giả này. Chú nhóc thứ hai của tôi cũng là một “fan” của Stephen King. Có bao nhiêu truyện nó “thầu ” đọc hết. Nhờ vậy tôi đọc ké vài cuốn. Nhưng thú thật với anh, có nhiều truyện tôi không nuốt nổi, quá kinh dị. Mà tôi lại chỉ thích cái gì là êm đềm, nhẹ nhàng. Trở lại câu chuyện về trung tâm Thúy Nga. Thúy Nga là một trung tâm ca nhạc có tầm vóc lớn. Vậy Thúy Nga là một công ty nhiều phần hùn hay chỉ có một chủ nhân bỏ vốn ra sản xuất?

NNN: Vâng, chị đoán đúng. Thúy Nga là một công ty. Nhưng lối điều hành vẫn mang tính Việt Nam. Nghĩa là “family business”. Thật ra, khi làm business liên quan tới nghệ thuật, thì rất khó mà muớn người quyết định giùm cho mình về nội dung. Bởi nghệ thuật không có tiêu chuẩn chung. Nó là sự thẩm định bằng cảm nhận mà thôi. Mà cảm nhận thì có khi đúng, có khi sai. Thí dụ: Một giọng ca tôi cho là hay thì chị có thể không thấy hay. Điều đó không có nghĩa là chị đúng hay tôi đúng. Thí dụ tôi giới thiệu một người vào hát cho Thúy Nga vì tôi thấy nguời đó hát hay. Nhưng tôi thấy hay, hoặc cô Tô Ngọc Thủy thấy hay cũng đều vô ích nếu số đông khán giả không thấy hay! Bởi vậy sản xuất băng nhạc cũng như làm nhà xuất bản, việc tuyển chọn tác phẩm đôi khi cũng có phần hên xui trong đó.

HKL: Điều anh nói cắt nghĩa phần nào sự lựa họn bài bản cho Thúy Nga. Nhiều người quen tôi nói bây giờ nhạc trong video Thúy Nga đa số là nhạc “đại chúng”. Anh có quyền chọn partner cho mình về M.C không?

NNN: Tôi làm việc với cô Kỳ Duyên đã quen, vì làm từ tám năm nay, nên chả bao giờ nghĩ đến việc mời partner khác, ngoại trừ truờng hợp bất khả kháng. Cô Kỳ Duyên thông minh, trí nhớ tốt, và trên tất cả, cô có duyên trên sân khấu, tìm người thay cô rất khó!

HKL: À, này nhé, có nhiều người thắc mắc là sao anh chỉ đọc audio book của anh?

NNN: Như tôi vừa thưa với chị ở trên. Tạm thời tôi chỉ đọc truyện của tôi vì tôi có thể sửa chữa, thêm bớt cho đúng thời lượng cuốn băng. Đọc truyện của tác giả khác, tôi đâu có quyền làm như thế! Chẳng hạn rất nhiều lần khi đang đọc dở dang, thấy truyện còn dài quá mà sắp hết băng, tôi phải yêu cầu phòng thâu tắt máy và để cô Hồng Đào ngồi chơi một lúc, chờ tôi cắt xén thêm rồi mới đọc tiếp. Một ngày nào đó nếu còn tiếp tục băng đọc truyện thì tôi cũng sẽ phải đọc truyện của các tác giả khác. Tất nhiên trung Tâm Thúy Nga hoặc tôi phải được sự đồng ý trên giấy tờ hợp đồng và trả tác quyền cho những tác giả đó.

HKL: Đó là anh nói về truyện để đọc. Thế còn Thúy Nga dùng nhạc mới, họ có trả tiền cho các nhacï sĩ không? Tôi thấy nhiều trung tâm, chỉ in tên ca sĩ bên cạnh bản nhạc, mà họ quên hay cố tình lờ đi tên của nhạc sĩ, điều đó thật tệ.

NNN: Chị nói đúng, người nhạc sĩ cũng phải được biết đến khi họ xử dụng nhạc của nhạc sĩ. Theo tôi biết thì khi một bản nhạc mới, gửi tới Thúy Nga, nếu được thu băng, đương nhiên tác giả sẽ nhận được tiền tác quyền.

HKL: Có nhiều nhạc sĩ than phiền, không những thế, ngay cả thính giả cũng than phiền, vì đôi khi nhà sản xuất băng nhạc không trả tiền bản quyềøn mà còn quên tên đề tên tác giả ở trên bìa băng! Anh nghĩ sao? Sở dĩ tôi nói thính giả cũng than phiền, bởi vì khi người ta nghe một bản nhạc hay, cũng muốn biết ai là người đã sáng tác ra nó, hay phổ từ bài thơ nào?

NNN: Điều này có xẩy ra với một số nhà sản xuất. Là một nhà văn, quan điểm cá nhân của tôi là tác quyền cũng như danh tánh tác giả luôn luôn phải được tôn trọng. Vì đó là sự công bằng tự nhiên ở đời. Có nhiều băng nhạc chỉ ghi tên bài hát, và tên ca sĩ, mà không ghi tên nhạc sĩ, có thể vì cố ý, có thể vì lười không bỏ thì giờ tìm xem tác giả là ai, và sau hết nếu có thể là vì quan niệm sai lầm, không đặt tác giả vào đúng vị trí xứng đáng của họ.

HKL: Quên, nghi quá, có lẽ họ sợ in tên, nhạc sĩ sẽ đòi tác quyền, nên vờ đi cho tiện việc sổ sách. Có người bình phẩm rằng đó là ăn trên lưng, tâm óc của người nghệ sĩ! Khi họ vắt tâm óc sáng tác những tác phẩm cho đờøi thưởng ngoạn, ít ra mình nên biết đến công người trồng cây khi mình hưởng trái ngọt phải không anh?

NNN: Chính tôi cũng từng là nạn nhân. Báo Lao Động trong nước đăng truyện ngắn Tin Đồn của tôi, nhưng sửa tên tác giả là Trương Thu. Một số báo ở hải ngoại vẫn đăng truyện của tôi mà không hề liên lạc với tôi. Một tờ ở miền Đông Hoa Kỳ mới đây đăng truyện Dốc Đứng của tôi, nhưng hoàn toàn không đề tên tác giả. Tất cả những trường hợp ấy, sở dĩ tôi biết được là nhờ độc giả có hảo ý thông báo cho mình.

HKL: Lại nói về sân khấu, có bao giờ anh quên bài trên sân khấu không?

NNN: Tôi được trời cho một điểm lợi là khi đứng trên sân khấu, ít khi tôi quên những điều mình dự tính sẽ nói. Những ngày sắp tới đây, tuổi đã cao, chả biết trí nhớ có còn minh mẫn hay không. Nhưng hiện nay thì tôi chưa đến nỗi lẫn. Tuy nhiên, trên sân khấu, những điều mình dự tính sẽ nói không quan trọng bằng ứng khẩu. Chính vì vậy, bài bản tôi và cô Kỳ Duyên soạn trước thường chỉ là cái sườn mà thôi. Chị Kiều Chinh một lần làm show chung với tôi năm 95 ở Shrine Auditorium đã hỏi tôi là làm cách nào để làm MC mà không cần nhìn giấy hoặc nhìn vào telepropter trước mặt. Tôi nói cần học ý chứ không học lời. Vì học lời thì không thể nhớ hết từng chữ được. Nói tóm lại, bài soạn trước không quan trọng, đôi khi còn bị cứng đơ như trả bài. Ứng khẩu mới là quan trọng.

HKL: Anh có dự tính viết hồi ký không? Tôi đoán cuốn hồi ký của anh sẽ hấp dẫn lắm đấy vì anh có quá nhiều chuyện để kể, những chuyện trong hậu trường sân khấu.

NNN: Khi viết tựa cho cuốn hồi ký của chuẩn tướng Lý Tòng Bá, tôi có nói: “Hồi ký nhằm truyền đạt một kinh nghiệm sống. Có thể là kinh nghiệm thành công để người ta học hỏi, cũng có thể là kinh nghiệm thất bại để người ta tránh né.” Tôi có ý định khi về hưu sẽ viết lại kinh nghịệm sân khấu, về cả mặt thành công cũng như thất bại mà tôi đã trải qua.

HKL: Nhân nói về vụ sách, nên tôi laiï nhớ đến cuốn truyện : ” Nắng Qua Phố Cũ” anh đã xuất bản trước đây mấy năm, đã là một best seller của năm ấy, vì được tái bản ngay ba tháng sau. Xin anh cho biết thêm về cuốn sách ăn khách này. Do động lực nào, nguyên nhân nào, anh có thể dàn dựng được một câu chuyện rất thực như vậy?

NNN: Cám ơn chị có lời khen. Cuốn Nắng Qua Phố Cuõ là một cuốn tiểu thuyết do nhà sách Văn Khoa ấn hành. Tôi cũng không ngờ mức tiêu thụ khả quan như vậy. In lần đầu vào tháng sáu. Mới tháng chín, ông Đỗ Đình Tuân, giám đốc nhà xuất bản, đã điện thoại bảo tôi sửa chữa các lỗi chính tả để tái bản. Đã là một tiểu thuyết thì dĩ nhiên là sản phẩm tưởng tượng. Nhưng nội dung của cuốn Nắng Qua Phố Cuõ là do một văn hữu gợi ý cho tôi. (Chính tôi, tôi chưa xin phép anh , nên không dám nêu tên anh ra đây.) Tôi găïp anh tại KS, nơi tiểu bang chị đang cư ngụ bây giờ, trên chuyến đi Oklahoma City với anh. Anh kể tôi nghe một số câu chuyện ở trại Palawan. Về nhà tôi nảy ra ý định dùng những mẩu chuyện của anh làm nền cho phần đầu câu chuyện của cuốn sách.

HKL: Trường hợp mỗi lần tái bản một cuốn sách, tác giả có được hưởng thêm quyền lợi gì không hả anh? Làm sao mình biết được khi sách mình được tái bản, nếu nhà in không lương thiện?

NNN: Thưa chị, mỗi khi tác giả in sách, có một hợp đồng riêng với nhà xuất bản. Ở đây tôi chỉ xin nói dến trường hợp của tôi. Còn các nhà văn khác thì tôi không biết. Bởi vì không có quy luật áp dụng chung cho mọi tác giả. Sách của tôi in lần dầu hay tái bản, tác quyền vẫn được trả như nhau. Như thế, vấn đề quan trọng là nhà xuất bản có thành thật báo cho mình biết hay không. Tôi không theo dõi, cũng ít khi hỏi thăm nhà xuất bản. Nhưng một cách tổng quát tôi cũng đoán ra được là họ có luơng thiện hay không. Lý do là vì tôi đã có đến gần ba mươi cuốn sách ra đời. Chẳng hạn nhà xuất bản A in một tập truyện ngắn của tôi. Cứ trung bình một năm hay hai năm, họ thông báo tái bản một lần. Nhà xuất bản B in một cuốn sách khác của tôi, cả bảy tám năm không thấy nói gì với tôi về việc tái bản. Như vậy tôi biết là họ gian!

HKL: Anh biết có luật lệ nào bảo vệ người cầm bút và tác quyền của họ như những nhà văn ngoại quốc không? Và nhất là khi sách bị in lậu.

NNN: Luật thì dĩ nhiên có. Nhưng mấy ai trong cộng đồng chúng ta nghĩ tới việc thưa kiện. Rất là tốn kém chị ạ. Mà nghệ sĩ của mình thường đâu nuôi nổi mình bằng nghề viết lách đâu. Rất ít người đạt được chỉ tiêu đó. Không phải họ viết dở, mà vì độc giả ở hải ngoại quen đọc báo biếu rồi!

HKL: Một tờ báo hay một nhà xuất bản “đặt hàng” một cuốn sách, truyện dài, họ trả tác quyền luôn một lần hay là trả từng kỳ mỗi khi đăng hả anh?

NNN: Thưa chị , phần lớn truyện dài của tôi đều viết từng kỳ trên báo, trước khi được đem in thành sách. (Ngoại trừ ba cuốn đầu là: The Will Of Heaven, Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại, Mầu Cỏ Úa”, tôi viết luôn thành sách.) Nhưng trước khi đem in, thường phải sửa chữa, thêm bớt kỹ lưỡng hơn. Chẳng hạn cuốn Nắng Qua Phố Cũ, nếu giữ nguyên số trang đã đăng báo thì dày gấp đôi số trang đã in thành sách. Có nghĩa là tôi cắt bỏ gần hết một nửa để câu chuyện cô đọng hơn và để giá thành không đắt quá .

HKL : Mấy năm gần đây, cuốn Xóm Đạo của anh thật ăn khách. Bao bạn bè tôi mua audio book của truyện đó. Và họ theo dõi hàng ngày để được nghe bộ tape số hai, phần kết của truyện. Quả thật cuốn Xóm Đạo đã gây sôi nổi dư luận, hấp dẫn độc giả và thính giả. Tôi đã biết có mấy người tu xuất, muợn tôi cuốn đó về đọc, và họ rất thích. Xin anh cho biết về cuốn này, lý do nào, nguyên nhân nào anh dàn dựng được một câu chuyện sống và hấp dẫn như thế?

NNN: Như tôi đã viết trong lời mở đầu của Xóm Đạo, cuối năm 96, tôi được tin cha tôi ở Sàigon nằm liệt giường chờ chết mà tôi không về được. Nhiều đêm nằm thao thức trong nỗi nhớ thương và ân hận, tôi hồi tưởng lại ngày mới theo gia đình vào Nam lúc 8 tuổi, tôi sống ở một trại định cư toàn người Công giáo, tham gia sinh hoạt trong xóm đạo. Tôi nhớ tha thiết hình ảnh cha mẹ tôi ngày ấy. Mẹ tôi mất năm 1991, tôi không về được. Bây giờ lại đến lượt cha tôi sắp qua đời. Những xao xuyến của kỷ niệm làm tôi ngồi đây và viết truyện Xóm Đạo như những dòng tưởng niệm của đứa con xa nhà đối với cha mẹ. Truyện Xóm Đạo mới khởi sự đăng báo thì cha tôi mất vào giữa tháng 3 năm 1997.

HKL: Anh có bị sự chống đối nào của bên công giáo? Nhất là anh lại là người đạo gốc, dám nói lên những cái sai, cái xấu, lẫn cái tốt, cái đẹp, đó mới là ngòi viết trung thực, nhiều nguời nhận định vậy đo ù…

NNN: Như chị đã biết, Xóm Đạo đăng lần đầu trên tờ Thời Báo ở Toronto. Tờ này in mỗi tuần khoảng 12 ngàn số, nghĩa là có lượng độc giả đông nhất tại Canada . Không có độc giả nào chống đối Xóm Đạo . Khi xảy ra vụ video Mẹ, cũng có vài người Công giáo vận động người Công giáo chống tôi, nhưng chuyện đó không thành. Chắc chị có xem cuốn Thornbirds đã thực hiện thành phim chiếu nhiều lần trên TV. Cuốn ấy mới thực là tệ hại đối với người Công giáo . Nhưng cũng chẳng thấy ai phản đối . Quan niệm về tiểu thuyết, về hư cấu, về tự do sáng tác của khối Công giáo rất thoải mái . Khi Xóm Đạo in thành sách, tôi nhận được thư khích lệ của khá nhiều linh mục trong đó có một vị đã 80 tuổi đang ở nhà hưu trí tại Paris.

HKL: Trở lại cuốn truyện Nắng Qua phố Cũ một chút, khi cuốn sách ấy còn đăng từng kỳ trên báo, độc giả dã đánh cá nhau về diễn tiến của câu chuyện và các nhân vật trong truyện. Như vậy hẳn người Việt bên Toronto đông đảo lắm? Xin anh cho biết qua về thành phố anh cư ngụ? Có khu phố giống như Little Saigòn không?

NNN: Vâng thưa chị, lúc cuốn Nắng Qua Phố Cuõ, khi còn đăng trên tuần báo ở Cannada, có một nhóm người độc giả ở Ottawa, tức là thủ đô Cannada, thường xuyên theo dõi và cá độ xem ai đoán đúng diễn tiến của câu chuyện. Họ viết thư cho tôi và cho tòa soạn để hỏi thăm và góp ý. Đó là kỷ niệm khá vui của tôi. Chị hỏi về Toronto thì xin thưa với chị là tại Toronto, hiện có khoảng trên 50 ngàn đồng bào việt Nam, có phố Tàu khá lớn, nhưng không sầm uất và biệt lập như ở Little Saigòn bên Cali.

HKL: Tôi còn nhớ ngày anh nhờ tôi vẽ bức minh họa cho cuốn Xóm Đạo để in ở đầu trang truyện mỗi kỳ đăng trên Thời Báo ở Canada, mà cả năm rưỡi sau, truyện mới hết, để in thành sách. Tôi nhớ kỳ đó, có nhiều bạn tôi bên ấy, biết tôi quen anh, đã nói: Mình muốn ông Ngạn cho cô Mai sau này có đời sống khá hơn, v.v. Họ nói có viết cho anh để đề nghị về số phận cô bé đáng thương trong truyện. Hẳn anh cho đoạn kết cô bé đó kết hôn với anh chàng, chắc là do nhiều độc giả yêu cầu chăng?

NNN: Thưa chị, những chi tiết kết cấu của câu chuyện thường là do tác giả xếp đặt chứ không phải do yêu cầu của độc giả.

HKL: Và Truyện Xóm Đạo đã đăng ròng rã cả hơn năm rưỡi mới hết. Như vậy khi in thành sách, anh có cắt bớt không?

NNN: Xóm Đạo, cũng như đa số các truyện dài khác đăng trên báo, khi đem in thành sách, tôi chỉ sửa chữa bản thảo, có khi viết thêm, chứ không cắt bỏ . Nhưng khi đọc thành audio book thì phải cắt khá nhiều vì thời lượng băng cassettes không cho phép.

HKL: Từ ngày anh làm MC anh đã mang nhiều văn chương vào lãnh vực này, và nhắc nhiều đến các nhà văn, nhà thơ. Xin anh cho biết những nhà văn, nhà thơ mà anh nhắc đến, hoặc trích dẫn thơ văn của họ, có dựa trên một tiêu chuẩn không?

NNN: Thưa chị hoàn toàn không có tiêu chuẩn nào cả. Khi đưa văn chương vào những chuơng trình ca nhạc, tôi có 2 chủ đích:

Một là tôi nhắm vào thế hệ trẻ, lớp thanh niên lớn lên ở bên này, ít biết đến văn chương Việt Nam.

Hai là tôi muốn nhắc đến một đội ngũ các nhà văn, nhà thơ của chúng ta ở hải ngoại để người trong nước biết, bởi đã hơn 20 năm qua, các tên tuổi lớn trên văn đàn của chúng ta đã không được báo chí trong nước nhắc đến, nói đến nữa.

Khi giới thiệu một bài hát, nếu trong đầu tôi nhớ ra vài câu ca dao, hoặc dăm câu thơ có liên hệ đến nội dung bài hát ấy, thì tôi đọc lên để mọi người cùng thưởng thức. Tôi đã nhắc trên video khá nhiều nhà văn, nhà thơ, chẳng hạn: Thanh Tâm Tuyền, Tô thùy Yên, Võ Phiến, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Trần Mộng Tú, Cao Tần, v.v. Trong số các vị này, có người tôi không hề quen biết, cũng chưa từng tiếp xúc lần nào. Đó là chưa kể các thi sĩ tiền chiến như Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, T.T.KH, Xuân Diệu, HànMặcTử, Đinh Hùng, v.v. Dầu sao đi nữa, tôi cũng phải cám ơn các vị đó. Vì nhờ tác phẩm của họ, công việc MC của tôi trở nên có mầu sắc.

HKL: Nhiều người nhận xét: Paris by Night đã đưa tên tuổi NNN đi xa và rộng. Nhưng NNN cũng đã giúp cho Paris By Night tăng giá trị về trình độ văn hóa. Anh nghĩ sao?

NNN; Như đã thưa với chị lúc nãy, đứng trên sân khấu Paris By Night, ngoài việc giới thiệu văn nghệ, tôi thường nghĩ nhiều đến giới trẻ ở hải ngoại. Nếu tôi nhắc cho họ được một câu ca dao, một nét lịch sử, một phong tục cổ truyền, một điển tích văn chương, v.v. thì đó là điều tôi rất hài lòng. Tôi có những cuốn sách bán chạy. Nhưng một cuốn sách chạy lắm thì cũng chỉ được 5,7 ngàn ấn bản. Trong khi video Paris By Night thì biết bao nhiêu người xem, thuộc đủ lứa tuổi và thành phần xã hội. Diễn đàn ấy với tôi hết sức quan trọng.

HKL: Trên băng Thúy Nga ,tôi thấy anh có khả năng diễn xuất. Anh có học về kịch nghệ hay về điện ảnh bao giờ chưa?

NNN : Thuở nhỏ tôi mê diễn kich, thường diễn ở các lớp trung học. Năm đệ tam (lớp mười), Thầy Lê Thương, tác giả Hòn Vọng Phu, dạy Pháp văn, bảo tôi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc học thoại kịch (kịch nói). Tôi vào dự thính, được một thời gian ngắn thì bỏ cuộc vì lúc đó tôi bắt đầu đeo kính cận, vai kịch bị giới hạn rất nhiều. Chị hỏi tôi có mộng ước gì về ngành này hay không? Thì xin thưa là tuổi tôi bây giờ chẳng còn mơ mộng gì nữa. Muộn quá rồi, chỉ chờ ngày duỡng già mà thôi.

HKL: Nghe anh than, mà buồn cười. À anh Ngạn này, tôi thấy anh tin tướng số, vì trong nhiều truyện của anh có nhắc đến vụ bói toán. Anh thấy những gì đã ứng nghiệm trong cuộc sống hay trong đời anh, và những gì đã làm anh sợ vì biết trước mà không tránh được?

NNN: Câu hỏi này khá vui, nhưng tôi xin thưa với chị cho rõ để tránh bị hiểu lầm. Trước hết, tôi tin con người có định mệnh, nhưng việc khám phá định mệnh bằng cách nào là vấn đề phức tạp. Tôi thì tôi tin vào một số môn cổ truyền như tử vi, chỉ tay và tướng mạo. Những môn học ấy là có thật, nhưng người học những môn ấy có thể chưa đạt tới, hoặc bị thất truyền, cho nên chưa chắc họ đoán đã đúng. Nói cách khác, môn tử vi không sai, nhưng ông thầy tử vi có thể đoán sai! Cho nên dù tin số mệnh, tôi vẫn rất dè dặt khi người ta giải đoán cho mình.

HKL: À anh Ngạn ơi, bữa trước nghe anh đàn guitar. Ngoài đàn guitar, anh còn xử dụng được nhạc cụ nào khác? Và anh có ý định làm CD không? Bạn bè, nhiều người khen anh hát rất truyền cảm đấy. Cái tape tôi thâu được bản “Em Đi” của Đức Huy do anh hát hồi qua đây chơi, bao bạn bè tôi cứ xin hoài đó.

NNN: Tôi chỉ biết đánh guitar từ nhỏ, nhưng thuộc loại vớ vẩn, tự đệm đàn để hát những khi cần relax. Ở lứa tuổi của tôi, dù có giọng ca vàng cũng không thành ca sĩ được nữa.

HKL: Ngọc Diệp, bà xã anh giữ vai trò gì trong sinh hoạt văn nghệ của anh đấy?

NNN: Tôi lập gia đình và sống với nhà tôi đã 18 năm nay. Tôi có nhược điểm là dễ tính, lại hay cả nể nên dễ bị người ta lợi dụng hoặc lấn át. Nhờ có nhà tôi cứng rắn và cương quyết hơn tôi, giúp tôi giữ vững tinh thần trong nhiều trường hợp gặp nghịch cảnh. Tuy vậy, nhà tôi vốn ít can dự vào công việc riêng của tôi. Trong suốt bao năm viết văn, chọn nhà xuất bản để in sách, ngay cả vấn đề tiền tác quyền, nhà tôi đều không để ý đến, dù cả tôi lẫn nhà tôi đều cảm thấy bị thiệt thòi. Khi tôi bắt đầu làm video với Thúy Nga, nhà tôi cũng chỉ giúp tôi về quần áo, chẳng hạn đi mua vest, sơ-mi và cà vạt cho tôi mặc khi lên video. Mấy năm gần đây nhà tôi mới thực sự quan tâm và sát cánh với tôi trong mọi việc lớn nhỏ. Nhà tôi dành nhiều thì giờ thu góp tài liệu. Phần lớn là đọc báo ngoại quốc, bổ sung thêm kiến thức cho tôi có đềø tài nói trên sân khấu. Điều đáng nói nhất là ngay từ năm 95, nghĩa là sau 3 năm làm video, nhà tôi đã thúc giục tôi rutù lui. Những nghệ sĩ thân quen ai cũng biết nhà tôi luôn xúi tôi nghỉ, điều này làm họ ngạc nhiên. Chủ trương nhà tôi là nên rút lui trước khi khán giả chán mình!

HKL: Nghe nói gia đình Ngọc Diệp ở Paris?

NNN: Thưa vâng, năm 82, tôi từ Canada qua Paris làm đám cưới, rồi đón nhà tôi sang Canada. Hiện nay gia đình Ngọc Diệp vẫn còn bên Paris. Tôi quả thực có duyên với Paris. Năm 82 cưới vợ bên đó. Rồi 10 năm sau trở lại thu video Paris By Night tại Paris!

HKL: Có nhiều người than là lúc này Paris By Night dùng quá nhiều nhạc bình dân, anh nghĩ sao?

NNN: Chúng ta thường nhắc đến hai loại nhạc, tạm gọi là loại A và loại B. Gọi là loại A và B để tiện phân biệt chứ không phải để xếp hạng.

Loại A, có người gọi là nhạc hạng “sang”. Tức là loại nhạc thường trình diễn trong các buổi thính phòng. Chẳng hạn nhạc tiền chiến, nhạc Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Dương Thiệu Tước, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, v.v.

Loại B, là loại nhạc bình dân, nhạc đại chúng, nhạc mùi, hay nhạc tình cảm quê hương. Hai loại này khác nhau về thể điệu và nhất là về lời ca. Nhạc A thường là slow hay boston. Nhạc B thường là rumba, bolero. Quan trọng hơn, lời ca của loại A phải mơ hồ, văn chương bay bổng, có khi nghe cả bài không biết , không hiểu tác giả muốn nói gì. Loại B thì lời ca giản dị, dễ hiểu, phản ảnh tâm tình và hoàn cảnh thực tế ở ngoài đời.

Từ trước 75, ở Việt Nam, miền Nam cũng như 25 năm qua ở hải ngoại, lúc nào nhạc B cũng là nguồn cung cấp chính của thị trường. Người thích nhạc A vốn đã ít, lại lười mua CD. Người thích nhạc B vốn đã đông lại tiêu sài bạo tay hơn, thành ra có thể nói như một định luật rằng: Thời nào thì nhạc B cũng nuôi nhạc A. Nếu không có ca sĩ hát nhạc B thì trung tâm băng nhạc cũng đóng cửa luôn. Các đại nhạc hội cũng khó tổ chức thành công. Và ca sĩ nhạc A chắc đành phải về nhà hát lẻ loi một mình mà thôi.

Khi tôi mới vào làm cho Thúy Nga năm 92, chuơng trình Paris By Night 17 hầu như toàn nhạc A. Dần dà, do yêu cầu của thị trường, Thúy Nga phải pha trộn hai loại, giảm bớt loại A để tăng thêm B. Đến nay, Thúy Nga vẫn mời ca sĩ nhạc A. Mặc dầu biết trước là khi phát hành CD loại nhạc này, sẽ hiếm có khi gặt hái thành công về tài chánh. Phát hành nhạc A chỉ để giữ quân bình mà thôi. Nhạc B mới có số đông người thưởng thức. Nhất là ở hải ngoại, người ta dễ nhớ quê hương qua âm nhạc.

HKL: Hỏi anh nhé, nếu giả dụ, cho anh chọn nhạc cho Thúy Nga, anh có chọn khác với bài bản hiện nay không?

NNN: Tác phẩm nghệ thuật ở các nước Tây Phương, điển hình là Hoa Kỳ, thường chia làm hai loại: Một loại gọi là Academy (giải Oscar, American Music Award, Grammy Award) và một loại gọi là People’s Choice (Top hit, Best seller, Box office). Có những cuốn phim hoặc bài bản nhạc đáp ứng được cả hai loại: Vừa được giải thưởng, vừa ăn khách. Có những cuốn phim chỉ được giải thưởng mà không ăn khách. Có phim rất ăn khách nhưng không trúng giải. Và dĩ nhiên sau cùng có những cuốn phim vừa không có giải thưởng mà vừa ế ẩm đối với khán giả.

Băng video nhạc ở hải ngoại, dù do bất cứ trung tâm nào sản xuất, thì ngoài tính nghệ thuật, bắt buộc phải đạt tiêu chuẩn thương mại để sống còn. Nghĩa là yếu tố People Choice là yếu tố sinh tử. Xét thuần túy về nghệ thuật thì chúng ta lại không có hội đồng Academy hằng năm chấm giải thưởng, không có một cơ quan hay tổ chức nào lo công việc lựa chọn tác phẩm văn nghệ một cách khách quan để đánh giá. Thành ra chỉ còn trông vào khán giả là giám khảo duy nhất mà thôi. Chẳng hạn, lúc sau này, khán giả thích hài kịch, thì Thúy Nga phải có comedy để dáp ứng nhu cầu đó. Nếu tôi có toàn quyền chọn nhạc, thì yếu tố, sở thích, của khán giả cũng vẫn là ưu tiên hàng đầu, dù có những lọai nhạc không phải sở thích của tôi. Chỉ duy trì làm sao cho quân bình nội dung, vừa có tính văn hóa, vừa đạt nhu cầu giải trí của khán giả thì mới có thể nuôi dưỡng được sản phẩm. Ngay cả khi tôi viết sách hoặc thực hiện audio book, yêu tố People’s Choice vẫn là chủ yếu không thể bỏ qua được. Nhóm tiểu thuyết mới của Alain Robbe Grillet từng chủ trương viết văn không cần độc giả. Nhưng tôi vẫn nhớ lời văn hào Leon Tolstoi nói rằng: “Một tác phẩm nghệ thuật chỉ vĩ đại khi nhiều người biết đến nó”.

HKL: Thúy Nga có tuyển ca sĩ mới không và điều kiện tuyển lựa ca sĩ mới như thế nào hả anh?

NNN: Lúc nào trung tâm Thúy Nga cũng cần tuyển người mới chị ạ, kể cả MC. Ai muốn tham gia thì cách đơn giản nhất là thu âm một hai bài vào cassette hoặc vào CD, gửi tới trung tâm Thúy Nga kèm theo hình chụp. Nếu trung tâm nghe thấy có giọng hay thì sẽ mời cộng tác.

HKL: Nếu Thúy Nga quan tâm đến việc lăng xê người mới, thì tại sao lâu nay thấy ít khuôn mặt mới xuất hiện?

NNN 49 : Thưa chị là vì việc giới thiệu nghệ sĩ mới trên băng video rất khó khăn. Xin chị nhớ lại hồi còn trong nước, chúng ta thường lăng xê ca sĩ bằng đài phát thanh. Có nghĩa là một ca sĩ chỉ cần một điều kiện duy nhất là giọng hát. Có khi một ca sĩ hát cả chục năm mà thính giả không biết mặt mũi xấu đẹp, cao thấp, mập ốm ra sao. Ngày nay, lăng xê bằng video thì giọng ca chưa đủ, mà còn đòi hỏi ngoại hình, cách trình diễn, cách ăn mặc và nhiều thứ khác. Ngoại hình đôi khi quan trọng hơn cả tiếng hát nữa! Người Việt chúng ta lại có tật hay ngứa mắt. Thành ra nếu nhìn bề ngoài mà không ưa thì bực mình không thèm chú ý tới giọng hát của người đó nữa! Tôi nói thế chắc chị hiểu rồi.!

HKL: Nghe anh phân tích, làm tôi lại nhớ đến truờng hợp cô Kỳ Duyên, với giọng hát! À, anh Ngạn này, tôi có đọc đâu đó một bài viết chỉ trích anh rằng: “Anh coi việc làm MC quan trọng hơn cả chức chủ tịch văn bút VNHN? Điều này có đúng không? Nhân đây cũng xin anh làm sáng tỏ những lời suy đoán của người viết, và của người đọc.

NNN: Khi chưa làm video, tôi vốn đã không coi chức chủ tịch văn bút là quan trọng. Tôi đã làm một nhiệm kỳ. Và trong nhiệm kỳ ấy, anh em trong BCH chúng tôi đã làm hết khả năng của mình. Như thế là đủ rồi. Mỗi người có một cách suy nghĩ và tôi luôn luôn tôn trọng cách suy nghĩ của người khác. Riêng với tôi, cái còn lại sau cùng của một người cầm bút là tác phẩm chứ không phải chức vụ hành chánh. Một thiên phóng sự của nhà báo, một bài thơ của thi sĩ, một cuốn tiểu thuyết của nhà văn, một bài nghiên cứu của nhà biên khảo, những thứ ấy mới quan trọng đối với tôi. Chức vụ hành chánh chỉ là giai đoạn và không làm tăng giá trị của người cầm bút. Giờ này, người ta nhớ Đoạn Tuyệt của Nhất Linh chứ mấy ai nhớ ông từng là bộ trưởng ngoại giao. Hoặc người ta đọc Ngọn Cỏ Gió Đùa của Hồ Biểu Chánh mà quên hẳn ông từng là chánh văn phòng của thủ tướng Nguyễn Văn Thinh.

HKL: Nếu tôi nhớ không lầm thì tác phẩm đầu tay của anh viết bằng tiếng Anh. Cuốn The Will Of Heaven do nhà xuất bản Mỹ in cho anh? Cuốn sách đó mang lại cho anh những gì nhỉ?

NNN : Thưa chị, bản thảo đầu tay của tôi viết bằng tiếng Việt tại trại tỵ nạn Mã lai năm 1979. Đó là truyện dài: Những Người đàn Bà Còn Ở Lại. Nhưng tác phẩm được in ra đầu tiên lại là “The will of Heaven” viết năm 1980. Năm đó tôi may mắn ký được hợp đồng với E.P. Dutton, một nhà xuất bản lớn của Mỹ tại New York để in cuốn này. Về mặt tài chánh, The will Of Heaven không thành công vì sách ra đời sai thời điểm. Lúc ấy, dưới thời tổng thống Carter, người Mỹ muốn quên chuyện Việt Nam, nên cuốn sách của tôi không gây được tiếng vang. Tuy nhiên, The Will Of Heaven đã vào nằm trong tài liệu của giới truyền thông Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam và về trại cải tạo. Mỗi khi cần tham khảo đề tài này, họ đều lôi ra để trích dẫn. Chẳng hạn The Will of Heaven được nhắc đến trong bộ sách nổi tiếng “Việt Nam, A history” của Stanley Karnow. Hoặc nhờ cuốn này mà Peter Jennings đã tìm tôi và mời lên phỏng vấn trên hệ thống truyền hình ABC nhân bước sang thế kỷ 21. Tháng 4 năm 2000, đạo diễn Thomas Rose của đài CBC Canada cũng ngỏ ý mời tôi về Việt Nam để thực hiện thiên phóng sự cho chương trình “As It Happens, nhưng tôi không nhận lời. Nói chung, sách về chiến tranh VN do người Mỹ viết thì nhiều, hoặc do những giới chức cao cấp của VNCH viết cũng nhiều. Nhưng do một người Việt Nam vô danh như tôi viết ra mà được nhà xuất bản top ten của Mỹ ấn hành thì rất hiếm. Từ năm 1991, chương đầu của The Will Of Heaven đã được in lại trong cuốn Visions Across The Americas, do nhà Harcourt Brace Jovanovich ấn hành, dùng làm tài liệu giảng văn tại các trường colleges.

HKL: Anh có thể cho biết vì nguyên nhân nào, hoặc do đường lối nào mà tác phẩm The Will of Heaven của anh lọt vào “mắt xanh” của nhà xuất bản, để họ chọn lựa, và xuất bản không? Điều này có thể giúp cho những người Việt viết về hồi ký hoặc cuộc chiến VN , để sách được phổ biến trong làng văn chương ngoại quốc, hay để tóm lại, cho ngừơi ngoại quốc biết được những điều mà chính người Việt chúng ta đã nghĩ, đã thấy sao về cuộc chiến, nhất là những cuốn sách của những tù cải tạo, cần phải có tiếng nói…

NNN: Bản thảo The Will Of Heaven của tôi được nhà xuất bản E. P. Dutton nhận là một điều may mắn. Lúc ấy tôi mới qua Canada, không rành về việc xuất bản, nhưng cứ gửi bừa đi. Tôi chọn 10 nhà xuất bản gọi là top 10, chẳng hạn Double Day, The Random House, E. P. Dutton, v.v. tại New York và gửi bản thảo cho họ . Đến nhà xuất bản thứ 7 thì tôi được mời ký hợp đồng.

HKL: Những cuốn sách bìa mỏng của Mỹ xuất bản, bán ra chỉ ba bốn đô, so với sách Việt in ra thì giá sách cao. Nhưng vì Mỹ họ in cả mấy chục ngàn cuốn, hay cả trăm ngàn cuốn, do đấy, vẫn mang số lợi tức lớn cho tác giả, vì con số phát hành . Nên nếu cuốn sách nào của tác giả VN, viết hay… có thể lợi cả đôi đường phải không anh? về tên tuổi, vừa lợi tức thực tế nữa.

NNN: Thưa chị, chị cũng biết là người Việt ít đọc sách, cho nên dù giá sách có rẻ hơn thì số bán cũng vẫn không nhiều . Nhìn vào trong nước hiện nay, thấy dân số gần 80 triệu, nhưng những cuốn tiểu thuyết hay, trúng giải thưởng, cũng chỉ in khoảng 2000 cuốn. Còn những cuốn biên khảo thì chỉ in có 500 hay 700. Như vậy tỉ lệ người mua sách quá ít, còn thua cả hải ngoại rất xa.

HKL: Ngoài ra khi Peter Jenning mời anh lên như thế, họ có trả thù lao cho những người được phỏng vấn không?

NNN: Hôm ông Peter Jennings mời tôi lên phỏng vấn cho đài ABC, tôi đang rất bận vì chuẩn bị đi thu băng Thúy Nga, nhưng thấy cần thiết phải có tiếng nói nên tôi nhận lời đi New York dù họ không trả thù lao . Tại đài truyền hình, tôi gặp khá nhiều nhân vật nổi tiếng của Mỹ trong thời chiến. ABC cho biết, tôi được một nhà văn Mỹ có tham chiến tại Việt Nam trước đây, nhân đọc cuốn The Will Of Heaven của tôi, nên giới thiệu tôi với Peter Jennings.

HKL: Well, từ khi nãy “tra khảo” anh về bao nhiêu vấn đề, nhưng bây giờ thì tôi phải hỏi anh vấn đề này, hì…hì….(Nói lén thôi nhé. Chả là tôi muốn ông xã tôi nghe đây. Kẻo ông ấy cứ nói chỉ có đàn bà vào bếp, vì việc đó trời dành cho phụ nữ. Nghe tức chết đi!) Thấy trong các truyện của anh, anh đều tả các món ăn, hay cách nấu món ăn, nghe thật chuyên nghiệp. Chứng tỏ chẳng những anh rành ăn mà còn rành việc nấu nướng nữa….hì…hì…chắc là đúng vì các cụ chả nói hay ăn thì lăn vào bếp đó ư! hi…hi…

NNN: Chị bắt nọn hay quá, chẳng những tôi biết nấu, mà còn biết nhiều nữa cơ đấy. (HKL: Tôi liếc mắt nhìn ông xã ngầm bảo: “Đó anh thấy chưa?Anh Ngạn cũng là phái nam nhi chứ bộ.) Vâng đúng như chị nhận xét, tôi thích nấu bếp, và thường phụ với nhà tôi, cho nên cũng làm được món ăn thường nhật. Có năm nhà tôi về Paris thăm gia đình cả tháng trời, bỏ hai bố con ở nhà thế mà tôi không bị đi ăn tiệm ngày nào.

HKL (vỗ tay): bravo anh Ngạn nhé, giỏi giỏi…

Để đánh trống lảng vụ tôi sắp bì tỵ vì đàn ông cũng cần biết chút đỉnh bếp núc, ông xã tôi giục tôi mau mau đi hâm lại tô bún cho anh Ngạn, và lấy chả giò đã được để hâm nóng trong lò nướng, rồi nem cuốn, rồi gỏi sứa Bắc kỳ, rồi gà nhỏ quay ăn với mật ong và xôi nếp… bây giờ thì mọi người bắt đầu thuởng thức những món do HKL nấu. Bí quyết, tôi để khách đói mèm như anh Ngạn bữa nay, nên ăn gì anh cũng khen rối rít. hi…hi…

HươngKiều Loan
(June /2001)

 

Thảo luận cho bài: "Phỏng Vấn Nhà Văn Nguyễn Ngọc Ngạn"