Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên

Tác giả:

Bảo Trâm: Thầy bắt đầu sáng tác vào năm bao nhiêu tuổỉ,

Trong trường hợp, cảnh huống nào?

Lê Mộng Nguyên: Xin bắt đầu nói về thi văn, nguồn gốc của sáng tác nhạc trong trường hợp tôi. Làm thơ từ 9 tuổi và được nổi tiếng giỏi Việt văn ngay từ dạo ấy ở Huế, tại trường cao đẳng tiểu học Chaigneau, tôi diễn tả “Cái ghen của Hoạn Thư” trong một bài thi lên lớp được thầy quá khen và đã không ngần ngại cho điểm 20 trên 20… và sau này trong tuyển thi giữa các thí sinh trường trung học (concours général) ở cựu thủ đô đế quốc An – Nam, tôi chiếm Giải Nhất (Giải Thương Bảo Đại). Sở dĩ tôi bắt đầu bằng thơ và quốc ngữ vì hai điểm này có dính dáng đến sự nghiệp sáng tác âm nhạc của tôi. Nguyên do: hồi ấy, cạnh nhà tôi ở Chợ Cống (Phú Xuân) có anh Trần Kim Ngọc lớn hơn tôi độ ba bốn tuổi, biết tiếng tôi viết văn hay nên nhờ tôi đặt lời cho vài bản nhạc của anh sáng tác qua cây đàn mandoline. Để thuận tiện, anh Ngọc dạy cho tôi đàn măng cầm và bán rẻ cho tôi cây đàn của anh vì anh quá thích lời tôi viết cho nhạc của anh. Từ đó, tôi tập đàn và bắt đầu sáng tác trên măng cầm (sau này, qua lục huyền cầm Y pha nho) và mặc dầu chưa đọc một sách nhạc lý nào cả, tôi tìm kiếm một mình và tự học qua những bản nhạc đã xuất bản lúc bấy giờ của Lưu Hữu Phước, như “Bạch Đằng Giang”, “Nam Tiến”, “Hội Nghị Diên Hồng”… hoặc nhạc hướng đạo như “Lên Đàng”, “Gọi Đoàn”… hoặc những bản ca quốc tế đặt lời Việt như trong tập “Đời Vui Sướng” của Phạm Văn Xung, “Tiếng Chim Ca” của Lưu Ngọc Văn và Đào Văn Thiết… Bài “Xuân Tươi” là bài tôi sáng tác đầu tiên năm 15 tuổi, tôi rất hãnh diện được báo “Quốc Gia” cho đăng ngay trong “Đặc San Mùa Xuân” (dưới bút hiệu Lan Đào là tên 2 người em gái của một người bạn thân thiết, anh Trần Đình Bá): Xuân về chào đời, Ngàn thắm tươi, Xuân về đầy lời tràn núi sông, Hát vang trong bao nhiêu lòng, Chào Quốc gia, mừng hát ca đời thắm hoa!… vân vân . Lời nhạc trong sáng, vô tư, đúng là hình ảnh của một thời êm đẹp đã qua! Sau đó tôi tự học (autodidacte) nhạc lý trong sách “La deuxieme année De Musique Solfège et Chants” của A. Marmontel, Paris Armand Colin 1890, cả thảy 336 trang nhưng rất đầy đủ vì có rất nhiều tỉ dụ lấy từ những bài nhạc lừng danh . Về phần hoà âm, tác giả cho vài “Notions élémentaires d’harmonie”, vỏn vẹn 6 trang mà thật quá ích lợi cho bất cứ người nào mới bắt đầu trong lãnh vực. Hiện giờ, tôi vẫn giữ cuốn sách cũ kỹ này của ông Marmontel với những lời mở đầu do các nhạc sĩ đại tài thuộc Bác sĩ Học viện Pháp (Institut de France) như Gounod, Massenet, Saint-Saẽns, Delibes… như một kỷ vật đáng tôn thờ. Từ nhạc vui mạnh đếnnhạc buồn lãng mạn (vì hoàn cảnh chiến tranh và những cuộc tình dang dở) và để tiếp theo hứng cảm của các tác giả tôi yêu chuộng như Văn Cao (Suối Mơ), Đặng Thế Phong (Con Thuyền Không Bến), Nguyễn Văn Thương (Đêm Đông), Hoàng Giác (Ngày Về), Dzoãn Mẫn (Biệt Ly), Anh Việt (Bến Cũ)… tôi đã làm trong những năm 1948, 49, 50 những bản nhạc mà hơn nửa thế kỷ sau người ta vẫn còn ưa thích, như : Nhớ Huế, Bài Thơ Huế, Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Trăng Mờ Bên Suối…

BT: Trong thời gian du học tại Pháp, thầy có sáng tác gì nữa không ? Nếu có, thì những sáng tác ấy mang chủ đề gì? Nếu không, xin thầy cho biết lý do tại sao ?

LMN: Trong mấy năm đầu: 1951, 1952 và 1953… ở Paris, tôi tiếp tục sáng tác, hôm nay dở lại bản thảo, thấy có nhiều bài diễn tả nỗi lòng cô quạnh của một người trai trẻ sống trên đất khách, xa nhà, quê hương và người yêu dấụ Nhớ nhà và ân nghĩa sinh thành, tôi viết bài “Lá Thư Cho Mẹ” và sau khi ba tôi mất, bài “Tìm Lại Ngày Xưa” để tặng hương hồn người thân phụ quá cố. Tôi có kể chuyện này trong bài tuỳ bút “Những cái chết đã qua trong đời tôi hay là những mảnh đời không tươi sáng …” (xem Hồn Quê 6, ngày 15-06-2001). Về phần tình cảm và lãng mạn nhớ nhung, có bài “Tha Hương” (viết đêm 11-12-1950, 2 tháng sau khi tôi đặt chân xuống phi trường Orly (Paris) ngày 05-10- 1950, cung ré mineur với (hành nhạc): Tempo di English Waltz), chưa đặt lời… tôi cũng không hiểu tại sao . Đến lượt “Xuân Tha Hương” rất thiểu nảo, vân vân và từ Hiệp định Genève, một số bài tiêu biểu như: Sông Seine, bao giờ ta về nước Nảm Kiếp Giang Hồ, Xuân Về Nhớ Mãi Quê Hương, Bụi Đời (cảm đề phim do Lê Mộng Hoàng đạo diễn), và gần đây: Quê Tôi, đó là không kể Thu Trên Sông Seine, Giao Mùa, Thề Non Nước là những bài thơ của Vương Thu Thuỷ, Phạm Ngọc, Tản Đà được tôi phổ nhạc.

BT: 30 tháng 4 năm 1975, thầy đã nghĩ gì và làm gì trong ngày hôm ấy?
LMN: Ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi đang có mặt ở Đại Học Besancon cách Paris chừng 400 cây số. Thật ra, tôi ở lại đây từ thứ hai 28 tây để giảng dạy Droit fiscal và Institutions financières và chấm thi khẩu vấn một số thí sinh, một tuần trước tuần cuối cùng của niên học 1974-1975. Trong Agenda, tôi có ghi: 14 thí sinh ngày 28, 6 ngày 29 và 30 ngày 30-04-1975. Và dưới ngày 30: Chute de Saigon. Tôi lấy tàu tối hôm ấy trở lại Paris mà lòng buồn vô hạn. Dạo ấy, tôi thuộc về giới “Turbo-Prof”. (ở Paris, nhưng lấy tàu đi dạy ở tỉnh mỗi tuần một hai lần). Lẽ dĩ nhiên lúc nghe tin Saigon thủ đô VNCH mất, tôi không cầm được nước mắt. Nhưng tôi không ngạc nhiên vì đã được sửa soạn lâu trước về thảm hoạ nàỵ Ngày 26-03-1975: Huế thất thủ: tôi nhận được tin từ Saigon của anh Lê Mộng Đào (thư đề ngày 27-03-1975): Mạ, gia đình anh Tùng, chị Thừa đã di tản từ Huế trên con đường máu vào Đà Nẵng từ hôm 20/03. Xe bò ngót hơn 24 tiếng trên đoạn đường 100 cây số. Đã vận động mọi cách, mạ mới vào được Saigon tối hôm qua, 26 tháng 03. Chỉ riêng một mình mạ, còn hai gia đình thân nhất là anh Tùng và chị Sum (khoảng 25 người) còn kẹt lại Đà Nẵng… Ngày 30-03-1975, Đà Nẳng mất: trong thư ngày 27/03 anh Lê Mộng Đào cho biết : …Hôm nay lại nghe Đà Nẳng phải di tản đây! Sẽ có tàu thuỷ và máy bay ngoại quốc đến di tản. Không biết gia đình mình có di tản được không . Đành phú cho số mệnh… Ngày 17-03-1975: Chute de Phnom-Penh… và ngày 30- 04-1975! Tôi rất buồn vì từ nay sẽ không bao giờ gặp mặt lại gia đình mà tôi vừa mới về thăm tại Saigon và Huế từ ngày 12-12-1974 đến ngày 07-01-1975. Lúc tôi còn ở thủ đô VNCH, đã nghe tin Phước Long mất (ngày 03-01-1975).

BT: Lần đầu Trâm gặp thầy, trong giảng đường đại học vào năm 1986, Trâm lên bục giảng hỏi thầy: Phải thầy là tác giả của “Trăng Mờ Bên Suối” không ? Thầy đã nghĩ gì lúc ấY? Tâm trạng thế nàỏ Ngạc nhiên? Vui? Ngậm ngùi.
LMN: Trước hết, xin cảm ơn Trâm đã kể lại cuộc “gặp gở này trên NET và gần đây trên báo Nghệ Thuật của nhạc sĩ Lê Dinh ở Montréal, qua bài tuỳ bút “Kỷ niệm với tác giả của Trăng Mờ Bên Suối” rất dịu dàng và nhung nhớ, đã làm tôi xúc động vô cùng. Trâm viết năm 1998 mà tôi chỉ mới được đọc hồi tháng tư năm nay (2001) nghĩa là từ ngày tôi có Internet và gia nhập “Nhóm Sáng Tác” của Trâm và một số thân hữu chủ trương . Hồi ấy tôi chỉ thoáng nghe Phương Khanh nói là Trâm có viết một bài kỷ niệm với tôi rất hay nhưng tôi chưa vào Internet mà cũng không biết cách nào để đọc trên máy người khác. Lúc Trâm đến hỏi tôi năm 1986 sau bài học “Science Politique” tôi dạy hôm ấy cho sinh viên của Département “d’Administration Economique et Sociale” mà tôi được hân hạnh làm giám đốc (directeur) ở đại học Paris VIII, tôi hơi ngạc nhiên trong khoảnh khắc vì chuyện đã xưa rồi mà nay vẫn còn có người (một cô sinh viên nhỏ nhắn, xinh xắn và e dè) nhắc nhở trên đất khách, nhưng lòng thấy vui vui như một hạnh phúc mong manh đã trở lại sươi ấm một quả tim lưu lạc. Hồi ấy, tôi không liên lạc nhiều với cộng đồng VN, nhưng mỗi lần gặp một sinh viên VN nhất là phái nữ ghi tên theo dõi những “khoa quyết tuyển” (matières à option) của tôi, là một nguồn hãnh diện mới… Sau đó, Trâm có tặng tôi một tập thơ (7 bài) với nhan đề “Hoàng Hôn Trắng” và một băng cassette audio trong đó Trâm tự hát và ghi âm (đàn đệm lục huyền cầm) những bài đượm tình nhung nhớ (như tôi đã kể lại trong “Từ Mây Khúc đến Hẹn Anh 15 Năm của Bảo Trâm – Trang Thanh Trúc hay là Paris và Montréal trong tình đời và tình người”, ns Hồn Quê 7, ngày 15-07-2001).

BT: Trâm xem lại một số sáng tác của thầy, thấy chủ đề quê hương rất nhiều, hoặc nhắc về một tình yêu nào đó trong dĩ vãng và cái dĩ vãng ấy luôn luôn được lồng trong khung cảnh quê huơng . Có đúng như vậy không ? Và nếu quê hương luôn luôn hiện diện trong những nhạc phẩm của thầy, thầy có bao giờ trở lại quê quán chưa ? Có hoặc không, xin thầy có thể cho biết lý do ?
LMN: Xin Trâm biết rằng không những chỉ trong một số sáng tác mà hơn nữa tôi có thể nói là trong tất cả những sáng tác của tôi, bất kể là nhạc hùng từ Vó Ngựa Giang Hồ (1948) đến Việt Nam Thắm Tươi (2001) hay nhạc tình cảm từ Trăng Mờ Bên Suối (1949) hay Nhớ Huế (1950) cho đến Thề Non Nước (2001), qua gần một trăm bản nhạc mà tôi đã cho in hay viết ra, chủ đề duy nhất là quê hương đất nước, hứng cảm tận cùng là làng mạc, thôn xóm, sông Hương, núi Ngự với một dĩ vãng vừa êm dịu vừa thương đau, một mối tình dang dở nhưng đã trở thành bất diệt như bài Trăng Mờ Bên Suối (1949) làm tại quốc nội (xin xem tuỳ bút “TMBS hay là cuộc hành trình trong một quá khứ lãng mạn và thương yêu” của Lê Mộng Nguyên, Hồn Quê 9, ngày 15-09-2001) hay Xuân Tha Hương (hoặc Kiếp Tha hương) viết tại Paris (1952) trong những ngày đau khổ và cô quạnh trên đất khách…: Chỉ thiếu một mình em chiều nay phương trời Âu xa vờị Mây kéo lê thê, trời nước bao la kìa dòng sông Seine lơ lửng xuôi ngày tháng. Mùa xuân đến khắp trời, khắp nơi người ta đi lướt thướt. Riêng tôi đứng nhìn, nhớ lại ngày qua cùng em sánh vai bên dòng đời âm thầm! Tôi nhớ sông Hương với giọng hò cô láị Khi thấy sông Seine nước đục lờ không tình yêu! Vườn hoa nơi đây lại gợi nhớ Văn Lâu . Sao lúc xuân về mà nước non âu sầủ Xa cách muôn trùng bởi vì đâu còn lưu luyến? Ngày xưa tiếng đàn còn thiết tha tình duyên! Bài này (do nhà xuất bản An Phú phát hành ở Saigon) đã được Thái Thanh hát lần đầu tiên tại Đài phát thanh Saigon trong năm 51-52 theo lời yêu cầu của người yêu của tôi còn ở lại bên nhà. Đầu năm nay (2001), tôi có viết nhạc phẩm “Ma Vie Sans Toi” (Đời Không Có Em), lời bằng tiếng Pháp (mà cũng là cả một bài thơ) theo nhạc của TMBS:

Pourquoi ne viens-tu pas en France?
Òu il fait bon vivre, ensemble
Nous continuons notre amour
Au bord de la Seine du bonheur.
Sous le beau ciel bleu de Paris
Notre idylle le jour, la nuit
Reprend son cours et sa passion
En bravant le destin du monde
AMOUR! Pour la vie ou pour un jour
Mon coeur bat pour toi mille fois encore
AMOUR! de mes jeunes années passées
à travers champs, dans les prés
les nuits d’été
Je ne sais pas pourquoi la vie
nous lie et nous désunit
Ma vie depuis ná cauun sens
Loin du pays de mon enfance
Souffrant, je vis au jour le jour
Dans cette vie sans ton amour

Từ ngày Saigon mất và để trả lời câu hỏi của Trâm, tôi không bao giờ có ý định trở lại cố hương… Tôi sẽ trở lại quê quán một ngày mai nước Việt thanh bình và dân tộc ấm no, hạnh phúc. Xin lỗi Trâm, tôi không muốn nói thêm nhiều về chuyện này.

BT: Trâm quen biết thầy từ năm 1986, nhưng không bao giờ thấy thầy có mặt trong những buổi sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng VN. Mà phải chờ mãi đến đầu những năm 90, tình cờ mới được gặp thầy trong một buổi văn nghệ của Tổng Hội Sinh Viên VN tại Paris tổ chức. Xin thầy cho biết, trong cái khoảng thời gian ấy, có nghĩa là từ lúc Trâm gặp thầy vào năm 1986 đến 1990, sinh hoạt thường ngày của thầy là gì và những sáng tác vẫn tiếp tục ra đời hay đã bị gián đoạn?

LMN: Nếu riêng Trâm lần đầu thấy tôi trong đêm văn nghệ Tết của THSV năm 1990, đó không phải là lần đầu tôi có mặt trong một buổi văn nghệ của đồng bào mình tổ chức. Thật ra, những năm trước đó, năm nào tôi cũng có mặt tại Nhà Hát Lớn Maubert- Mutualité để ủng hộ sinh viên quốc gia (nhà tôi cách đó chừng hai phút đi bộ thôi). Trước 1990 và ngay từ năm 1977-1978, tôi đã thuộc vào nhóm tranh đấu cho tái lập nhân quyền ở VN và cứu trợ nạn thuyền nhân vượt biển (boat people) do chủ nhiệm báo Quê Mẹ Võ Văn Ái cùng Phương Anh và Ỷ Lan đề khởi, nhắm mục đích việc thuê chiếc Tàu “Đảo Ánh Sáng” – Ile đe-Lumière (lúc ấy Trâm mới 12 tuổi mà cũng vừa mới đặt chân trên đất Pháp thành thử không làm sao theo dõi được) vào khoảng tháng 4-1979, với sự kêu gọi ủng hộ của các nhóm trí thức người Pháp không phân biệt tả hữu, như Jean-Paul Sartre, Raymond Aron, Simone de Beauvoir, Maurice Clavel, Jean Lacouture, André Glucksman, Yves Montand, Olivier Tođ,
Bernard Kouchner… Từ dạo ấy tôi có viết nhiều bài báo phần đông bằng tiếng Pháp về vấn đề Việt Nam, ngoài ra phải lo giảng dạy ở đại học Besancon, hơn nữa (tương tự bất cứ giảng sư đại học nào) phải làm “travaux scientifiques” rất nhiều (khảo cứu về luật hiến pháp và khoa học chính trị, đăng báo và xuất bản nhiều sách) để được thăng trật và thuyên chuyển lên đại học Paris VIII từ năm 1984-1985. Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1990, tôi không có nhiều thì giờ để sáng tác nhạc mặc dầu hứng cảm lúc nào cũng dồi dào (lâu lâu cho đăng một nhạc mới trên báo chí hải ngoại và nhất là trên những đặc san Mùa Xuân).
Ngoài ra, bắt đầu 1993 tôi viết thường xuyên những bài về chính trị VN và quốc tế (bằng Pháp ngữ) trên bán nguyệt san “L’Appel de la Nation”, và từ 1995 trên nguyệt san song ngữ “Tin Tức” cùng trên tạp chí tam cá nguyệt “Human Rights” (Huntington Beach) hay những bài phê bình văn nghệ trên Nguyệt san Nghệ Thuật của nhạc sĩ Lê Dinh ở Montréal…

BT: Động cơ nào thúc đẩy thầy gia nhập những sinh hoạt của cộng đồng VN tại Paris?
LMN: Nỗi nhớ nhà, thương nước, thương đồng bào, hận vong quốc… đã là những lý do trong việc tôi tham gia (với chút thì giờ còn lại ngoài công ăn việc làm và viết lách), tôi nói tham gia chứ không phải gia nhập vào hội này hội khác. Tôi muốn đứng ngoài hội hè để làm việc có hiệu quả hơn, cho nên luôn từ chối làm chủ tịch, tổng thư ký hay thành viên ban quản trị của nhóm này hay nhóm khác. Tôi muốn, với những bài báo, bài nhạc, bài thơ, làm cho dư luận quốc tế chú ý đến tình trạng đau khổ của đồng bào quốc nộị Bài “Thề Non Nước” tôi phổ nhạc thơ Tản Đà, muốn nói lên nỗi đoạn trường vô cùng tận của tôi trên xứ lạ, lúc nào cũng hướng về quê cha đất tổ và như nữ sĩ Bảo Trâm đã viết rất chính xác để kết thúc bài tuỳ bút êm đẹp và nhung nhớ của nàng “Kỷ Niệm Với Tác Giả Của Trăng Mờ Bên Suối”: Nước có trôi đến đâu cũng trở về nguồn!

BT: Xin thầy cho biết những dự định trong tương lai?
LMN: Tôi sống rất nhiều trong hiện tại… Nhưng để trả lời câu hỏi của Trâm: Trong tương lai rất gần (nghĩa là trong một, hai hoặc ba tháng… hay sang năm) tôi sẽ cho xuất bản sách “Phê Bình Văn Nghệ” (Thi Văn Nhạc Sĩ Hải Ngoại), và một tuyển tập bằng Pháp ngữ “Contes philosophiques asiatiques” cùng một biên khảo “La Guerre Civile Vietnamienne” (khoảng chừng 500 trang). Về phần sáng tác âm nhạc, tôi vừa nhận được thư của một nhà xuất bản Pháp muốn liên lạc với tôi (qua SACEM) xin cho in một số nhạc của tôi như: Ma Vie Sans Toi, La Légende de My Chau et Trong Thuy, v.v…

BT: Để kết thúc, Trâm có vài câu hỏi nhỏ mà thầy chỉ cần trả lời bằng một câu hay một chữ mà thôi. Một chữ thôi cũng đủ nói lên tất cả: Tôn giáo?
– Tự Do Tín Ngưỡng (Liberté de Croyance).
– Chủ Nghĩa?
– Dân Chủ Tự Do (Démocratie Libérale) .
– Màu sắc?
– Xanh trời (Bleu ciel).
– Mùả
– Mùa Thu (Automne).
– Thần tượng?
– Gandhi (1869-1948).
– Điện ảnh?
– Apocalypse Now của F.F. Coppola.
– Văn chương?
– Nguyễn Du (Kim Vân Kiều); Victor Hugo (Les Misérables).
– Âm nhạc?
– Mozart.
– Uư điểm?
– Tôi là một con người tình cảm (Je suis un sentimental).
– Khuyết điểm?
– Tôi không biết nói: Không! (Je ne sais pas dire non !).
– Câu dẫn chứng tiêu biểu?
– Bốn câu thơ của Lamartine (trích bài “L’Isolement”, trong thi tập
“Méditations Poétiques”):
Que me font ces vallons, ces palais, ces chaumières,
Vains objets dont pour moi le c-harme est envolé?
Fleuves, rochers, forêts, solitudes si chères,
Un seul être vous manque, et tout est dépeuplé!
Xin tạm dịch:
Trước thung lũng, đền đài và nhà lá
Ngoại vật trống không, mê ảo rụng rời
Cả những sông, núi đá, khu rừng thẳm
Từng ẩn núp mộng tương với cô liêu
Nay thiếu bóng một người yêu muôn thuở
Tâm hồn ta như hoang vắng, quạnh hịu
Khát vọng?
– Tôi hy vọng trong một ngày mai rất gần tất cả nhân loại sẽ
chung sống trong tự do, hạnh phúc và thân tình.
Bảo Trâm thực hiện
(Paris, ngày 31 tháng 10-2001)

 

 

Thảo luận cho bài: "Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên"