Quang Dũng Với Âm Nhạc

Tác giả:

Nói đến Quang Dũng, phần đông người ta chỉ biết anh là một nhà thơ nổi tiếng qua các bài thơ: Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Quán bên đường… Nhưng anh không những chỉ là một nhà thơ nổi tiếng, mà ở con người nghệ sĩ tài hoa của anh còn mang nhiều thứ “sĩ” khác nữa: thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ, kịch sĩ và là một chiến sĩ rất gan dạ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, anh đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu của anh cùng với các họa sĩ nổi danh như Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái v.v…

Anh cũng sáng tác nhạc, bài nhạc “Ba Vì” của anh đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến chống Pháp 1945-1954, mà tôi giới thiệu với độc giả sau đây.

Tôi nhớ năm đó là năm 1949, lúc anh thôi cầm quân đánh giặc ở Trung đoàn Tây Tiến, anh trở về làm trưởng phòng văn nghệ của Liên khu 3. Liên khu 3 lúc đó có 4 Trung đoàn, mỗi Trung đoàn có một ban Tuyên truyền (sau này gọi là Văn Công), trong 4 đội Tuyên truyền của Liên khu 3 thì có lẽ đội Tuyên truyền của Trung đoàn Thăng Long, tức TD 48 (tiền thân của Sư đoàn 320 bây giờ) là đội Tuyên truyền trẻ nhất Liên khu.

Anh Phạm Nghệ làm đội trưởng, tôi là đội phó, mới có 18 tuổi, còn tất cả anh em đều ít tuổi hơn hai chúng tôi một vài tuổi. Tong đội Tuyên truyền của chúng tôi có 5 cô em gái, 14 đến 16 tuổi. Trong số 5 em gái vừa đóng kịch, vừa múa và ca hát này, có em Kim Ngọc, 16 tuổi là lớn hơn cả. Kim Ngọc hát rất là hay, giọng ngọt ngào và ấm nên được các anh em bộ đội và dân chúng mến mộ.

Anh Quang Dũng là trưởng phòng văn nghệ Liên khu, trực tiếp chỉ đạo các đội Tuyên truyền của Trung đoàn, anh thường lui tới các Trung đoàn để quan sát và hướng dẫn công tác cho hiệu quả. Một hôm, anh đến Trung đoàn của tôi, anh nói với tụi tôi là anh mới làm một bài nhạc lấy tên là “Ba Vì”, vì đó là tên của ngọn núi Ba Vì, nơi quê hương anh, rồi anh bảo tụi tôi mang guitare đệm để anh ca cho nghe. Tôi lấy đàn ra đệm cho anh ca, anh có giọng ca rất nồng ấm và truyền cảm, sau khi ca xong, anh hỏi chúng tôi thấy thế nào, các chú nghe có được không ? Tất cả anh em chúng tôi đồng thanh khen ngợi bài nhạc anh làm hay quá và rồi Kim Ngọc chạy lại nài nỉ anh dạy cho Kim Ngọc hát ngay. Kim Ngọc nói là em đi trình diễn thì luôn luôn cần có bài hát mới và hay, nên xin anh dạy cho.

Quang Dũng nói là bài nhạc này anh mới làm xong thì xuống đây, chưa hát cho ai nghe cả. Xong rồi, anh dạy cho Kim Ngọc và chỉ 15 phút sau là Kim Ngọc thuộc làu và hát nhuần nhuyễn ngay, anh khen Kim Ngọc ca hay hơn hết các cô gái ở Trung đoàn khác mà anh đã gặp.

Thế là Kim Ngọc có thêm một cái vốn. Mỗi lần chúng tôi đi trình diễn ủy lạo cho các anh em bộ đội đi trận về là Kim Ngọc hát bài “Ba Vì” của Quang Dũng được các anh em hoan hô nhiệt liệt và kể cả những đêm ca kịch cho dân chúng xem thì Kim Ngọc cũng được tán thưởng nồng nhiệt.

Từ đó trở đi, cứ mỗi lần đi nơi đâu, Kim Ngọc đều hát bài “Ba Vì”. Rồi đến ngày Liên khu tổ chức cho các đội Tuyên truyền Trung đoàn trình diễn thi đua thì Kim Ngọc cũng ca bài hát “Ba Vì”, vì vậy mà đội chúng tôi được giải nhất về đơn ca và các anh em ở đội Tuyên truyền Trung đoàn khác đều đến xin chép lại bài nhạc “Ba Vì” để về hát mỗi khi đi trình diễn. Nhờ đó, mà không lâu, bài nhạc “Ba Vì” được nổi tiếng, tất cả anh em bộ đội ai ai cũng thuộc nằm lòng và hát được.

Bài nhạc “Ba Vì” được nổi tiếng là do tiếng hát của Kim Ngọc, vì vậy anh Quang Dũng rất quý anh em chúng tôi và coi như em ruột của anh.

Cuối năm 1999, tôi về thăm quê hương, thăm lại gia đình và thành phố Hà Nội thân yêu, nơi tôi sinh ra và lớn lên tại đó, vì tôi ra đi từ lúc mới 18 đến nay đã hơn phân nửa thế kỷ xa cách, nay mới có dịp trở về.

Cái vui của tôi là được gặp lại tất cả anh em, bạn bè cũ trong đội Tuyên truyền và các bạn văn nghệ sau hơn 50 năm mới gặp lại nhau nên ai cũng vui mừng đón tiếp tôi rất là thân tình như xưa. Các bạn của tôi và tôi, ai nấy cũng vào tuổi thất thập “cổ lai hy”, đầu bạc, con cháu đầy đàn, nhưng tôi rất cảm động vì anh em gặp nhau vẫn kêu bằng mày tao như ngày xưa, dù rằng các bạn tôi, người nào cũng mang cấp bậc Đại tá, Thiếu tướng hồi hưu cả.

Tôi gặp lại Kim Ngọc, cô ca sĩ 16 tuổi thuở nào, giờ đã 70 rồi, nhưng tôi thật ngỡ ngàng, không ngờ Kim Ngọc còn quá trẻ, tôi ước chừng chỉ 50 hoặc hơn một chút thôi, ai ngờ đâu Kim Ngọc đã 70 tuổi, thế mà Kim Ngọc hát vẫn còn hay, vẫn còn đi trình diễn ca hát cho các đoàn thể, các buổi hội họp… và mới đây, đã đi hát liền 62 đêm nhạc Văn Cao, được nhạc sĩ Văn Cao khen ngợi là chỉ có Kim Ngọc khi hát mới lột tả được hết tình cảm trong các bài nhạc của ông. Khán thính giả đi xem Kim Ngọc trình diễn thì từ trẻ đến già, ai ai cũng gọi là “Cô Kim Ngọc” chứ không ai gọi là “Bà” cho dù đối với số tuổi bây giờ của Kim Ngọc phải gọi là “Cụ” mới đúng phép. Tuy hát vẫn hay, nhưng tuổi đời cao nên Kim Ngọc không đi hát ở phòng trà và trình diễn như lớp trẻ được.

Hai ngày sau khi tôi về thăm quê hương, Kim Ngọc tổ chức một bữa cơm gia đình thân mật để tiếp đón tôi và nhân dịp mời tất cả anh em đã sống với nhau trong đơn vị họp mặt lại tất cả để cùng nhau nhớ lại kỷ niệm của thời son trẻ, mà Kim Ngọc cho thời gian đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời.

Hôm ấy, có gần 20 anh em còn sống đã tụ tập tại nhà Kim Ngọc. Tôi thật lấy làm sung sướng vì các bạn và tôi xa nhau cả nửa thế kỷ rồi mà gặp lại nhau, mọi người đều ân cần, thăm hỏi nhau, trong số các bạn tôi, ai ai cũng đều hồi hưu cả, nhưng họ vẫn hoạt động văn nghệ thường xuyên.

Trước khi vào bàn ăn, Kim Ngọc có nhắc đến một số bạn đã nằm xuống và người anh anh em chúng mình thân và thương nhất là anh Quang Dũng, một người anh cũng đã ra đi trong bệnh hoạn và nghèo túng. Kim Ngọc nói xin các anh em dành 1 phút mặc niệm cho các bạn và anh Quang Dũng. Sau khi cơm nước xong, Kim Ngọc kể lại những ngày mà anh Quang Dũng còn sống và chết ra sao ?

Kim Ngọc nói là sau 1954, anh em trở về Hà Nội, ai cũng vẫn đi công tác cho bộ đội, riêng anh Quang Dũng thì bị ông Tố Hữu ghen ghét về tài làm thơ, và sau đó là sa thải, không cho làm bất cứ một công tác nào cả. Bị cô lập nên anh lâm vào cảnh nghèo túng và còn bệnh hoạn nữa. Tất cả mọi sự sống trong gia đình đều trông vào chị Quang Dũng, là một người đàn bà có tất cả tâm hồn cao đẹp, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Một mình chị chạy đôn chạy đáo, may thuê, vá mướn và đom áo để nuôi gia đình bữa đói, bữa no. Tuy gia đình lâm vào hoàn cảnh khổ sở, nhưng chị luôn luôn vui vẻ, không để lộ một cử chỉ nào cho anh Quang Dũng buồn.

Có những chiều gió lộng, hai anh chị đã phải đi quét lá cây rụng về làm củi nấu cơm, thật là khổ vô cùng.

Kim Ngọc quá thương anh chị Quang Dũng, nhưng hoàn cảnh của gia đình Kim Ngọc cũng chẳng khá hơn tuy cả hai đều là sĩ quan cao cấp, nhưng cùng chung với số phận của toàn dân, ai cũng khổ và lại là thời kỳ bao cấp, không có được mua bán tự do như bây giờ, muốn mua gì thì phải có tiêu chuẩn, có tem phiếu và vào hợp tác xã mà mua.

May mà vợ chồng Kim Ngọc đều là sĩ quan cấp Tá, nên dễ thở hơn, hôm nào mua được cái gì thì cả hai vợ chồng bảo nhau, bớt ra đem biếu anh chị Quang Dũng và các cháu.

Sự giúp đỡ của vợ chồng Kim Ngọc thì chỉ có hạn thôi, mà anh lại bệnh nặng không tiền mua thuốc và xin nằm bệnh viện cũng không được, nhìn anh mà tội nghiệp, thương cho anh một con người tài hoa, mà không may chút nào. Một hôm, vào năm 1988, vợ chồng Kim Ngọc đi chợ về thì đã thấy cô con gái anh Quang Dũng ngồi chờ ở nhà từ lâu. Thấy vợ chồng Kim Ngọc về, thế là nó chạy tới ôm Kim Ngọc và khóc nức nở, nó nói:
– Cô Kim Ngọc ơi, bố con bệnh quá nặng, bây giờ nằm liệt một chỗ rồi, chắc không qua khỏi được đâu. Bố con cũng không nói được tuy là còn tĩnh, bố con bảo đến nói với cô chú lại chơi và hát cho bố con nghe lại bài “Ba Vì” mà cô vẫn hát để bố con nhớ lại kỷ niệm cho vui.

Nghe nó nói thế, Kim Ngọc hết hồn và giục chồng cùng các bạn chiến đấu ở Tây Tiến với anh Quang Dũng ngày xưa đem cây đàn theo và lên xe Honda chạy thẳng một mạch đến nhà anh Quang Dũng. Vợ chồng Kim Ngọc đến nơi thì thấy nét mặt anh Quang Dũng có vẻ vui. Kim Ngọc và chồng vội chạy lại bên giường, anh chỉ tay, bảo ngồi đi, Kim Ngọc mới bảo:
– Anh Quang Dũng ơi, em là Kim Ngọc và chồng em tới thăm anh đây.

Anh gật gật cái đầu. Kim Ngọc nói tiếp:
– Hôm nay vợ chồng em đến đàn và hát lại bài “Ba Vì” của anh để anh nghe nhớ lại những ngày đầu tiên anh dạy cho em năm em 16 tuổi.

Quang Dũng nhếch mép cười. Sau khi chồng Kim Ngọc lấy “ton” cho Kim Ngọc ca, và Kim Ngọc đã hát bằng tất cả tình cảm tâm hồn, vừa nghe, Quang Dũng vừa nắm tay Kim Ngọc và rồi thấy nắm chặt hơn, môi mím lại, hai hàng nước mắt anh chảy ra đầm đìa. Kim Ngọc biết là anh nhớ quê hương và nhớ lại thời kỳ xưa nên anh xúc động. Kim Ngọc ca xong, cả hai vợ chồng đều ôm anh và khóc theo anh, Kim Ngọc biết là anh rất cảm động mà không nói được vì cơn bệnh. Trước khi vợ chồng Kim Ngọc từ giã anh, thì Kim Ngọc hát lại lần nữa cho anh nghe và anh cũng vẫn khóc. Vợ chồng Kim Ngọc ra về mà lòng thương anh quá đổi.

Sau lần hát cho anh Quang Dũng nghe, vợ chồng Kim Ngọc về họp lại một số bạn văn nghệ thân với anh Quang Dũng và tất cả làm đơn rồi đưa chị Quang Dũng lên gặp ông Nguyễn Đình Thi là Chủ tịch Hội Văn Nghệ VN để xin ông ấy giới thiệu cho anh Quang Dũng được vào bệnh viện Việt-Xô để chữa trị, thì hai ngày sau, ông Thi cho biết là cấp trên không chấp thuận, anh em đều biết là ông Tố Hữu không chấp thuận.

Đúng hai tháng sau anh mất. Vợ chồng Kim Ngọc đưa anh ra tận nơi an nghỉ xong mới trở về.

Cho đến hôm nay, vợ chồng Kim Ngọc luôn luôn nhớ đến anh và thương anh ấy vô cùng. Cũng chỉ vì sự ganh ghét về tài năng của anh mà họ làm cho anh và cả gia đình khổ cực biết bao năm trời và cho đến lúc anh sắp lìa đời rồi mà họ vẫn chưa buông tha cho anh, không động lòng trắc ẩn của con người một chút nào cả.

Ngay sau khi về Hà Nội, ông Tố Hữu có nhiều quyền hành và ra lệnh cho ông Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Văn Nghệ VN, cho các đàn em viết báo, mở một chiến dịch phê phán thơ Quang Dũng. Họ liên tiếp viết nhiều bài phê bình thơ Quang Dũng, đem bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng ra mổ xẻ, vì bài thơ này được mọi người hâm mộ. Họ lôi câu chót của bài thơ này ra để bình phẩm:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Chúng nó bảo là thơ lãng mạn, đồi trụy, tiểu tư sản, đang trong lúc toàn dân sôi sục giết giặc Pháp thì lại làm thơ mơ Hà Nội với dáng kiều thơm làm chao đảo và nhụt nhuệ khí chiến đấu của toàn dân, toàn quân. Buộc tội như vậy là làm hại cả đời anh khổ sở.

Người ta không những muốn anh phải sống đói khổ về thể xác mà họ còn muốn giết chết luôn tên tuổi anh và các bài thơ của anh. Nhưng họ chỉ có quyền giết được thể xác anh thôi, còn tác phẩm của anh, tên tuổi anh, làm sao họ có thể giết được! Vì các tác phẩm của anh được mọi người mến mộ càng được mến mộ hơn.

Bài “Tây Tiến” của anh mà họ đã mất công mất sức viết báo để cho mọi người ghét và làm anh khổ sở đến chết, thì chính những bài thơ của anh mà họ đã phê phán bây giờ lại lấy đem ra in thành sách để bán lấy tiền vì họ biết là thơ của anh được nhiều người mua!

Kim Ngọc bực tức nói tiếp:
– Có một cái nực cười hơn nữa là bài thơ “Tây Tiến” của anh, họ đã ra công hạ bệ, thế mà bây giờ bài thơ đó được ngạo nghễ khắc vào bia đá rất lớn để ở các nghĩa trang liệt sĩ, không một nghĩa trang liệt sĩ nào mà không có một tấm bia lớn khắc nguyên văn bài thơ “Tây Tiến”. Ít hôm nữa, anh em tổ chức đi thăm mộ các anh em ở các nghĩa trang liệt sĩ tận Hòa Bình, Lai Châu, sát biên giới Lào, hôm đó, Trịnh Hưng phải đi thăm anh em với tụi mình và Trịnh Hưng sẽ được nhìn lại bài thơ “Tây Tiến” ngạo nghễ trên tấm bia đá lớn để biết rõ.

Anh Quang Dũng bị người ta ganh ghét và chết đi, nhưng anh chỉ mất phần thể xác mà thôi, chứ tên tuổi anh và thơ, văn, họa, nhạc của anh, tác phẩm của anh vẫn sống mãi trong lòng mọi người.

Anh đã được đền bù một cách xứng đáng là anh được chính phủ Thụy Điển tặng 25 triệu đô-la để đúc một chân dung anh bằng đồng và nay đã hoàn thành, tượng được đặt ngay trên quê hương anh. Đó là một phần thưởng cao quý cho cuộc đời làm văn nghệ của anh, vì ở Việt Nam chưa có được một người nào có vinh dự được chính phủ nước ngoài biết đến và ngưỡng mộ, bỏ tiền ra làm tượng đồng như anh cả.

Chỉ tiếc rằng anh không còn sống để được trông thấy bài thơ “Tây Tiến” của anh khắc trên bia đá khắp nơi và nhìn thấy tác phẩm của anh in thành tập và nhìn bức tượng đồng, chân dung của anh.

 

Viết tại Paris, kỷ niệm sau ngày về thăm quê hương (1999)
Trịnh Hưng, Paris

Thảo luận cho bài: "Quang Dũng Với Âm Nhạc"