Quê Mẹ

Tác giả:

Ngày đó, người ta hay phát trên đài truyền hình Ngọc Yến hát Quê Hương (Thơ: Đỗ Trung Quân, Nhạc: Giáp Văn Thạch). Chị ngồi đó, áo dài tha thướt, tay lướt trên phím đàn. Tôi không biết hình ảnh chị có ảnh hưởng gì đến cảm nhận của khán thính giả hay không, nhưng bài hát đó mặc nhiên đã trở thành một trong số rất ít những bài hát được nằm ở một góc trang trọng trong đời sống tôi. Và tôi đi tìm bài thơ của Đỗ Trung Quân, ngẩn ngơ đọc, ngay từ … lời phi lộ, “bài học đầu cho con”

Quê hương là gì hở Mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở Mẹ?
Ai đi xa cũng nhớ nhiều …

Khái niệm quê hương, đối với tôi, có vẻ lớn lắm. Nên tôi đôi lúc hồ nghi, định nghĩa quê hương mà lớn quá thì chị sợ mình yêu không nổi. Nên tôi có cách hiểu của riêng tôi. Và với tôi, quê hương là quê mẹ, nơi tôi sinh ra, nơi tôi lớn lên, nơi đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về đất nước, về giống nòi … Đơn giản có vậy thôi …

Quê mẹ tôi, có thể không lớn lắm trong mắt nhiều người, nhưng trong tôi, nó luôn luôn lớn lắm, rộng ơi ơi là! Bắt đầu từ cái biến cố đầy sóng gió ấy …

Người ta lấy hết cả mấy cái nhà, và mẹ con chúng tôi dắt díu nhau đi. Ngoảnh mặt nhìn lại ngôi nhà thân thương, chị tôi bưng mặt khóc. Thế là mất cả, cái cảm giác cứ từa tựa như là từ trên đỉnh núi rơi xuống vực, chới với!

… Gia đình tôi dọn về ở đó, cái xóm đạo nhỏ bé nằm bên bờ biển xanh. Với tuổi thơ hiếu động, nơi ở mới lại là một nơi lý tưởng. Mà với tuổi thơ thích … mộng mơ, nó cũng không kém phần hấp dẫn. Tinh mơ sáng, tiếng chuông nhà thờ ngân nga trong màn sương, và tiếng chân người kéo lê thê trên đường đi lễ sớm là tín hiệu bắt đầu của một ngày mới. Bà con lối xóm của tôi dậy sớm lắm, trước cả tiếng gà gáy sáng. Còn đám trẻ chúng tôi thì vẫn còn li bì trong giấc mộng, mặt lấm lem mà miệng cười rạng rỡ.

Thông thường, đến lúc mặt trời hết còn đỏ ối như trái cà chua chín là lúc chúng tôi vùng dậy chuẩn bị đến trường. Tôi cũng yêu thầy cô, bạn bè, nhưng lại thích mùa hè cơ. Mùa hè nào cũng thế, trời xanh hơn, cao hơn, đủ chỗ cho những con diều giấy bay lên, bay lên mãi. Và mùa hè nào cũng thế, cây đời đơm trái, tha hồ mà chén bằng thích. Nơi tôi ở nổi tiếng nhờ những hàng dừa xanh ngăn ngắt, chạy dọc ven xóm. Những cây dừa già cỗi không chỉ giúp ích cho người lớn mà còn là cả một kho tàng đồ chơi cho trẻ thơ. Tàu dừa kết lại làm cáng, khiêng từ Vua Quan đến tử sĩ, khiêng cô dâu chú rể rình rang. Lá dừa tết thành cào cào châu chấu, thành hộp đựng nữ trang đồ chơi (cũng như người lớn làm hộp bánh phu thê – xuxê), thành cơ man hình dạng. Hoa dừa đính thành chuỗi đeo lên cổ lên tóc cô dâu. Xơ dừa ghép thành thảm, cho đám trẻ ngồi chơi đồ hàng. Vỏ ngoài trái dừa dùng chụm lửa nấu cơm nồi đất sét. Vỏ cứng trái dừa gọt nhẵn làm đĩa làm chén. Cơm dừa kho lại ngọt đớ lưỡi, ăn một miếng nhớ mãi tới ngày nay. Roi dừa giả làm roi ngựa, cho các Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt tuổi mơ giục ngựa bẹ dừa đi đánh đuổi quân xâm lăng. Và những trái dừa hư, lúc nào cũng là vũ khí hữu hiệu chống quân thù. Không kể xiết, không thể nào, cây dừa quê tôi gắn liền với tuổi chơ chúng tôi khăng khit như vậy đó. Nhưng có lẽ, tôi yêu cây dừa nhất bởi vì mỗi trưa hè, mẹ tôi mắc võng giữa hai gốc dừa cho tôi nằm chơi. Gió từ trời, gió từ tay mẹ, và tiếng hát từ trời, từ những tán dừa lao xao trên cao, từ lời ru ngọt ngào của mẹ tắm đẫm tuổi thơ tôi ..Khi bóng dừa cao không còn che được con nắng chiều ngả xuống chiếc võng đưa cũng là lúc tôi tỉnh giấc. Mẹ đi từ bao giờ. Nằm trên võng, đưa mắt nhìn trời, tôi bỗng dưng lại muốn làm mây. Chắc đời mây thong dong lắm, cứ nhìn chúng trôi vật vờ là biết. Mây đi nhanh hơn một chút thì gọi là “mây bay”. Mây bay vì mây có cánh, ước mơ tuổi thơ của tôi bay … nhờ có Mẹ. Mười bốn tuổi, tôi viết vần thơ đầu tiên tặng Mẹ, “mây kia có cánh mây bay, con không có cánh, nhờ tay Mẹ bồng. Từ trên cao vút trời không, ngậm ngùi thấy Mẹ lưng còng Mẹ ơi!”

Ước mơ tôi mỗi ngày mỗi lớn, mỗi nặng. Lưng Mẹ còng, không chở nỗi nữa. Tôi thương Mẹ, chuyển những ước mơ lên cánh diều giấy. Một mê nón cũ, vài trang giấy bồi, mấy cọng tre và cuộn cước trắng, cánh diều tôi bay nhởn nhơ trên trời rộng. Thả diều thích lắm cơ, chỉ phải nhọc trông lúc bắt đầu. Khi diều lên cao rồi, cột dây diều vào một chỗ là có thể ngủ một giấc ngon lành. Bạn bè lối xóm còn chỉ tôi làm sáo diều, gửi thư theo cánh diều nữa, vui đáo để. Trời trong, gió nhẹ, tiếng sáo diều bắt gió nghe vui tai. Trời hơi nổi gió thì cuốn diều lại mà về kẻo diều băng, mỗi chuyến thả diều đôi khi kéo dài cả buổi chiều. Mà trẻ con thì có biết bao nhiêu những buổi chiều như thế …

Buổi sáng, cái thú vui đặc biệt của đám trẻ chúng tôi là đi bắn chim. Mỗi ông nhô kè kè một chạng ná nhỏ. Chạng làm từ cây ổi là tuyệt nhất, cứ trơn trơn là. Giàn thun thì dễ làm, nhưng cái bệ phóng … sỏi phải bằng da mới thích. Cho nên cái cặp của thằng cu Bi nhà cô Hà phải bị hy sinh, để cho mỗi ông tướng có một cái “bệ phóng” lý tưởng. Và thế là cu cậu bị mẹ đánh một bữa nên thân, trong sự thích thú của đám bạn ăn theo. Hì hì, thế mới gọi là tình bạn cao cả chứ, một đứa ăn đòn dĩ nhiên là tốt hơn cả đám bị ăn đòn, ai mà chả hiểu vậy … Đem ná đi săn chim, mười lần hết chín về tay không. Lần còn lại, tay cầm đủ thứ cóc ổi đào mận. Nhưng hạt sỏi lựa chọn kỹ càng trúng thân chim nào chẳng thấy, chỉ thấy xoèn xoẹt lao vào mấy cây đang sai quả. Mà chẳng ai buồn nghĩ ngợi về chuyện chẳng bắn được chim. Đôi lúc lại bắn vào đồng minh mới khổ, ngu chi lạ, lời qua tiếng lại có chút xíu là cục tự ái trẻ con nổi lên cao bằng trời, trước sau gì cũng có đứa u đầu sứt trán. Vì một điều gì đó lớn lao đã đành, đây chỉ đơn giản là mày bắn dỡ tao bắn hay mà sanh chuyện …

Đêm có cái vui của đêm. Ăn uống xong là kéo nhau ra đường chơi đủ trò cút bắt trốn tìm. Đám trẻ trần trùng trục, mặt vẽ lọ nồi chơi núp bắn, hùng hục chạy lui chạy tới thấy mà ghê. Người lớn có nhìn thấy cũng phát buồn cười, thương cho cái tuổi thơ vô tư mà hiếu động. Ấy, những đêm tắt điện lại càng vui, trò chơi lại càng thêm kích thích. Có đứa vì sợ bóng tối mà nấp gần, nên cứ bị hốt ổ. Có đứa đi nấp thiệt kỹ, rồi vì sợ ma mà phải tự ra đầu thú. Còn như tôi, chui vào một góc thật xa thật vắng, ngủ quên lúc nào không biết …

Thương nhất là mùa nước … nổi. Nước trời đổ xuống, nước từ dưới đất, theo mấy kẽ nứt dâng lên. Ai đã đọc Vườn Cau Nước Dâng chỉ biết được một thứ nước dâng, từ ngoài vào. Ai ở qua quê tôi, biết thêm được nước dâng từ trong ra. Bạn bè chị tôi thường nói, xóm này có “mùa xuân đến từ những giếng dầu”. Kiến trúc ở đây đến lạ, trước cao sau thấp, nên ngập ở trong nhà trước. Mẹ con tôi dầm chân trong nước bạc, tay hứng nước dột từ mái, tay tát nước dâng từ đất. Nước rút rồi, mà nào đã hết khổ . Cái bệnh thấp khớp ẩm ương cứ ở lại mãi với Mẹ và với chúng tôi. Những đêm trái gió trở trời, trở mình cũng nghe răng rắc xương đau … Nhưng mùa lụt lại là mùa vui của đám đầu xanh . Khỏi đi học, tha hồ xếp thuyền giấy và làm đò tắc ráng thả xuống sông mơ. Hai cái que cà rem, một sợi thun và một thanh tre dẹp, vậy là thuyền máy có thể lên đường rồi. Đêm lụt, những con thuyền giấy chở nến lung linh trôi trong mê mải, tưởng chừng như đêm hoa đăng đó thôi. Nước lụt càng cao, nến soi bóng nước càng lung linh huyền ảo. Người lớn lo chừng nào, trẻ con vui ngần ấy. Thế mới biết, có những thế giới riêng cho những lớp người …

… Ôi những con thuyền giấy, những năm tuổi thơ đã đi về đâu, để mình tôi nhớ nhung bây giờ …
(Hoàng Hiệp – Trở Về Dòng Sông Tuổi Thơ)

Thảo luận cho bài: "Quê Mẹ"