QUỐC KHÁNH 2/9/1945-Lễ quốc khánh tại Hà Nội

Tác giả:

Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là cả một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả đoàn nhân dân miền núi với y phục địa phương của họ, và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơmi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay màu sáng, tay khoác nón.

Cho đến tận trưa, cả toán OSS (Cục Công tác chiến lược của quân đội Mỹ) chúng tôi lăn lộn ở ngoài phố, chụp ảnh, ghi chép về các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu, biểu ngữ, apphich… Có nhiều khẩu hiệu bằng tiếng Pháp, Anh, một số bằng tiếng VN: “VN của người VN”, “Hoan nghênh đồng minh”, “Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”, “Thà chết, không nô lệ”…

Khoảng trưa, chúng tôi đi về phía quảng trường Ba Đình. Tôi đã quyết định từ chối lời mời của ông Hồ (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đến khu vực lễ đài dành cho quan khách, để đi xem buổi lễ chỉ như một người quan sát trong quần chúng. Chúng tôi chọn được một điểm thuận lợi ngay trước lễ đài, giữa đám viên chức địa phương.

Trong khi chờ đợi ông Hồ và các quan chức tùy tùng tới, tôi nhìn thấy một nhóm cố đạo Thiên Chúa giáo mặc áo thầy tu trắng và xanh đen, có cả các chức sắc mang khăn quàng và dải viền đỏ. Cách họ không xa là các nhà sư Phật giáo khoác áo cà sa màu vàng, rồi đến các chức sắc Cao Đài, áo dài trắng có tua và khăn quàng sặc sỡ.

Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức. Nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Trên cột cao trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi, có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài.

Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”, quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đằng sau cái bao lơn được trang trí bằng màu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cà vạt và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki màu sẫm và có cái gì như là cái khăn trùm đầu – đó là Hồ Chí Minh.

 

Đội danh dự và công tác bảo vệ được giao cho bộ đội của Võ Nguyên Giáp, lực lượng được huấn luyện, trang bị, có kỷ luật nhất của họ. Mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao, họ trưng bày các vũ khí mới một cách hãnh diện, lúc trong tư thế đứng nghiêm, lúc nghỉ.

Ở đó còn có các đơn vị tự vệ – dân quân mặc áo lẫn lộn quần áo nhà binh Pháp, Nhật hoặc quần áo ngắn xanh hay đen, mang theo một loạt các vũ khí cũng lộn xộn từ súng kíp, gươm, dao rựa, mã tấu có cán gỗ dài và cả gậy tày… Có thứ hình như họ mới lấy ở các đình, chùa ở làng ra.

Tất cả dựng lên một cảnh tượng sinh động với khoảng 500.000-600.000 người (theo không ảnh của Mỹ chụp ngày hôm đó).

Lê Xuân, nguyên là người liên lạc của chúng tôi, đã đi một vòng và cho rằng quần chúng hết sức tò mò và quan tâm đến vị lãnh đạo “mới” của Chính phủ. Mọi người đều muốn biết “ông Hồ Chí Minh bí ẩn” này là ai. Ông ở đâu về?

Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu “Cụ Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ ngồi yên mỉm cười, nhỏ nhắn về dáng vóc, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản tuyên ngôn, nay thành nổi tiếng của ông với những lời: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

 

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ không?”, quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ”! Thật là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy. Từ lúc đó, quần chúng lắng nắm lấy từng lời. Chúng tôi không hiểu ông Hồ đã nói gì.

Lê Xuân phải cố gắng lắm để dịch nhưng cũng rất khó khăn. Nhưng cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm áp và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới quần chúng.

Ông Hồ tiếp tục: “Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Quay về bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói bản tuyên ngôn đã công bố: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Đến khoảng hai giờ, ông Hồ kết thúc bản tuyên ngôn, tiếp sau đó là Võ Nguyên Giáp nói về vai trò của Việt Minh, nhấn mạnh công tác của đảng trong lĩnh vực chính trị – quân sự, phát triển kinh tế – xã hội, chương trình giáo dục và văn hoa. Sau bài diễn văn, các bộ trưởng mới được chỉ định, từng người một được giới thiệu ra mắt nhân dân. Buổi lễ kết thúc bằng việc các bộ trưởng tuyên bố nguyện trung thành và triệt để ủng hộ Chính phủ lâm thời nước VN dân chủ cộng hòa.

ARCHIMEDES L. A. PATTI

“Là một sĩ quan tình báo của Mỹ, Archimedes Patti đã có mặt và can dự vào những biến động lịch sử ở VN vào thời điểm quyết định của cuộc Chiến tranh thế giới lần hai, cũng là bước ngoặt quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc VN.

Những ấn tượng tốt đẹp của ông đối với những người cách mạng VN mà ông đã cộng tác, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã giúp đỡ viên sĩ quan tình báo Mỹ nhận ra được cái điều mà sau này ông đã giữ trọng trong cuộc đời mình, đó là tình hữu nghị cần có giữa hai dân tộc…”.

(Nhà sử học Dương Trung Quốc viết trong lời giới thiệu cuốn sách Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) của Archimedes L.A.Patti).

(theo báo Tuổi Trẻ)

Người kéo cờ trong ngày lễ Quốc khánh 2/9/1945

Có hai nhân vật được vinh dự kéo cờ trong ngày lịch sử đó và lại là hai cô gái. Một trong hai người đó là Bà Dương Thị Thoa, bí danh: Lê Thi. Khi đó bà 19 tuổi.

Hiện nay, bà là GS.TS Triết học, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình, Viện KHXH Việt Nam và cũng nguyên là Cán bộ đoàn phụ nữ cứu quốc có mặt trong Ngày độc lập lịch sử đó.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên website ĐCSVN, bà Lê Thi cho biết:

“Hôm đó, tôi đứng trong đoàn phụ nữ cứu quốc mặc áo dài trắng. Bên cạnh chúng tôi là đoàn nữ dân quân ngoại thành mặc quần đen áo nâu rồi đến đoàn công nhân mặc áo xanh… Đang đứng đó thì tôi thấy các anh bảo là đoàn tôi cử một người lên kéo cờ. Các chị trong đoàn bảo tôi: Đồng chí lên đi! Lúc đó, tôi rất run và sợ vì không được chuẩn bị tinh thần trước và tôi lại chưa kéo cờ bao giờ.

Khi lên đến nơi thì có một chị nữa cùng kéo cờ với tôi. Hôm đó, hai chị em còn chưa kịp hỏi tên nhau. Về sau tôi mới biết, đó là vợ của Trung tướng Hoàng Văn Thái. Cả hai chị em đều rất lo, nhìn xuống dưới không biết bao nhiêu người. Tôi tự nhủ: hôm nay kéo cờ mà tắc thì sẽ là điều không may cho ngày độc lập. Vì vậy, mãi đến khi nhìn thấy lá cờ vút bay cao trong gió, nghe thấy tiếng vỗ tay hoan hô ở phía dưới, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm và biết là mình đã hoàn thành nhiệm vụ. “

Thảo luận cho bài: "QUỐC KHÁNH 2/9/1945-Lễ quốc khánh tại Hà Nội"