Sân Trường Xưa

Tác giả:

Chúng ta chắc phần đông đều nhớ một mái trường trung học, và kỷ niệm ở đấy xem ra đằm thắm. Tôi không muốn nói nó đằm thắm nhất, vì khó mà so sánh cam ngon hơn hay táo ngọt hơn, mỗi loại kỷ niệm có cái duyên dáng riêng của nó. Nhưng kỷ niệm về trường xưa đằm thắm đủ để hàng năm bạn trung học của tôi đều đều tổ chức họp mặt, với sự tham dự của các bạn đồng khóa từ bốn bể năm châu đổ về. Tất nhiên không phải là tất cả, nhưng ít ra mỗi kỳ cũng có từ khoảng 100 tới 200 bạn tham dự. Tình học trò quả thật thắm thiết ở tuổi già khi chúng tôi đã trải qua khá đủ những thăng trầm của cuộc sống, để thấy rằng đám bạn thuở hoa niên còn lại quý hoá. Và tiêu biểu cho tình học trò ấy là hoa phượng sân truờng, ít nhất là với học trò Huế khi loài hoa này gần như bắt buộc phải trồng trong các truờng công của cố đô bấy giờ.
Có lẽ có bạn vừa đọc đến đây sẽ tặc luỡi, “Lại chuyện sân cũ trường xưa, Phượng ơi Phượng hỡi.” Có lẽ có bạn sẽ kiên nhẫn vài phút đọc nửa trang, định sẵn trong đầu là nếu chán thì sẽ đổi ngay sang bài khác. Vậy thì tôi phải vào đề liền để thuyết phục độc giả là bông hoa học trò của sân trường cũ vẫn có duyên, có ý nghĩa, vẫn đáng trân quý, ít nhất cho chúng tôi đám cựu học sinh Khải Định (nay gọi là Quốc Học) gần nửa thế kỷ truớc.

*

Tôi xin kể ngay đây một sự việc về hoa phuợng đã làm tôi cảm động, mặc dù ở cái tuổi mà chuyện cảm động mỗi ngày một hiếm hoi. Sự việc liên hệ đến bài “Định mệnh” tự sự của Trương Quang Cảnh đăng trong đặc san lớp tôi, nhân lần họp mặt thứ 8. Như nhiều bạn đồng khoá biết, Cảnh rời trường khá sớm, mới xong tú tài 1 đã lấy học bổng sang Phi du học. Tôi nghe nói tốt nghiệp ở Phi về, Cảnh dạy trường canh nông Bảo Lộc. Về sau đi du học tiếp tại Mỹ, lấy bằng Master và PhD. Cuối cùng anh đổi ngành sang ngân hàng. Khi Cảnh về lại Sài Gòn, thì đến lần tôi cũng ra khỏi nước, nên không được chứng kiến thời thăng tiến của anh trong Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt Nam. Cộng sản thống nhất hai miền, anh đi cải tạo hơn một năm, làm bán công dân một năm, và nằm đợi thời dài dài thêm nhiều năm nữa. Vận may rồi cũng trở về, anh được thu dụng bởi một ngân hàng quốc tế có trụ sở tại Manila, nhờ liên lạc lại được với một anh bạn cũ có chức phận trong cơ quan tài chánh này khi anh ta cầm đầu phái đoàn của cơ quan sang thăm viếng Sài Gòn.
Tôi không đọc “Định mệnh” ngay sau khi nó xuất hiện. Thú thật là bài hơi dài, ngót trăm trang tự sự không có cái cám dỗ của gói mì ăn liền. Nhưng gần đây, nhân có bạn thân nhắc đến, tôi tò mò lấy ra đọc. Càng đọc càng thấy hấp dẫn. Và trong đời sống thăng nhiều mà trầm cũng không hiếm của bạn, tôi tìm được đoạn văn chờ mong để bênh vực hoa phượng và sân truờng cũ.
Cảnh kể sống ở Phi, anh không nhớ những ngày hè nóng bức hay những tháng mưa dầm dề của cố đô. Anh không nhớ gia đình. Anh dành cái nhớ cho bạn, cho chuyện bơi qua sông Hương (chắc với Tôn Thất Thiều, Tôn Thất Ngự, Lưu Văn Thăng, Đồng Sĩ Tiềm, và Trương Như Thung… những tay bơi lội cừ khôi mà tôi vẫn thán phục), cho cuộc đá ban sân sau trường Khải Định, cho trời mưa đạp xe lông bông qua các phố Huế. Và anh nhớ những cây phượng sân trường như biểu tượng cho cảnh đời ấy:
“Những năm tháng ở Phi, tôi ít nhớ nhà mà nhớ nhiều hình ảnh những hàng cây phượng đỏ trong khuôn viên của trường, nhất là hàng cây phượng trên con đường chia đôi trường Khải Định và trường Đồng Khánh. (Vào năm 1997 tôi có dịp về Huế, đem qua Phi được 5 cây phượng con, tôi trồng trên lề đường trước mặt nhà, 4 cây sống được và đúng 5 năm sau, vào mùa hè năm nay, tất cả 4 cây đều nở hoa. Nhìn vào những bông hoa phượng đó tôi thường nhớ đến cảnh cũ người xưa, cảnh cũ thì còn, nhưng người xưa nay phân tán khắp nơi trên thế giới…”
Tôi biết Cảnh không định văn vẻ, nhưng đặc biệt là những cây phượng con được anh đem đối chiếu với những kinh nghiệm khác suốt gần một đời nguời. Thời tôi ở Huế hình như các tiệm ương cây là của Sở Lục lộ, và cây non không có bán bên ngoài dễ dàng. Nếu sự việc vẫn còn như vậy, tôi đoán Cảnh trong một lần về thăm đã vào sân trường và bứng năm cây phượng non của anh lên để mang chúng đi. Tôi bỏ qua những lặt vặt kỹ thuật, như anh có ra Bộ Canh nông trước để tìm mua cây hay tới thẳng Khải Định, và khi bứng cây anh có xin phép hiệu trưởng hay không, tóm lại những tiểu tiết chỉ làm loãng câu chuyện.
Chuyện đáng lưu ý là năm ấy là năm 1997, chỉ 8 năm trước mà thôi, khi Cảnh không còn trẻ nữa. Qua những hàng anh viết, tôi xin dựng lại cho độc giả một quang cảnh thú vị. Phượng ra hoa vào hè, cuối thu trái già rụng hạt, và cây non nẩy mầm khoảng giữa xuân. Và một ngày xuân nọ, Cảnh đã vào trường để bứng những cây phượng con ấy. Tôi tưởng tượng sân trường mùa xuân đầy học sinh đang ra chơi. Có lẽ các cháu hoàn toàn cho là kỳ dị khi thấy ông già Việt kiều lịch lãm béo tốt lại phảng phất chút hương xa, lúi húi đào mấy cây phượng con. Các cháu đang trực tiếp sống cuộc sống học đường mà bạn tôi đang hồi tưởng lại. Chỉ có khác là cuộc sống học đường của các cháu còn ở thì hiện tại, chân phương như cơm rượu mới đồ, chưa có quá khứ để lên men thành hoài niệm. Các cháu chắc không thể hình dung nổi bài luận đang làm, câu chuyện đang nói, lá thư xanh vừa gửi cho bạn gái, trận túc cầu vừa dự với một đội ban khác trong tỉnh, sẽ trở thành những đồ đạc quý giá để trang trí cho cuộc sống nửa thế kỷ sau khi các cháu tìm lại được bạn đồng khóa trong những tháng năm cuối đời. Quả thật, tuổi trẻ quá đẹp mà bị lãng phí quá, vì người trẻ chưa già để biết quý nó.
Việc Cảnh mang cây về Phi chắc cũng vất vả. Tôi không nghĩ nó gian khổ như vụ thuyền trưởng tầu Bounty trong xi-nê chở một loại cây khác, với Marlon Brando đóng vai chỉ huy phó đứng về phe thủy thủ đoàn nổi loạn vì phải nhịn uống chịu khát để có nước ngọt tưới cây. Tuy nhiên nó cũng không dễ. Anh chắc đã lúng túng không ít trên máy bay. Tôi thú vị tưởng tượng ra những câu chuyện làm quà có duyên hay những nụ cười tươi rói và đầy thiện cảm anh phải cấp thời sản xuất ra để chinh phục mấy cô chiêu đãi viên cũng như người bạn đồng hành ngồi bên, để họ chấp nhận cái vườn ươm cây tí hon anh mang theo. Khi nhân viên phục vụ đẩy chiếc xe giải khát qua, vì lo lắng cho cây anh có thể đã mua thêm 5 ly nước cho 5 cây con khi mua rượu cho mình. Tôi nghi anh đã lầm rượu với nước, và cây phượng con thứ năm không mọc được bên Phi vì đã uống lầm ly Henessy anh gọi cho chính mình.
Muốn hiểu hết sự tha thiết anh dành cho mấy cây phượng con, phải nhìn qua toàn bài “Định mệnh” của anh. Đối chiếu nó với những kỷ niệm khác, hoa phượng là đối tượng hoài niệm êm đềm nhất trong tâm khảm anh, một vết tỳ ố cũng không vẩn.
Anh đã không nhớ lại gia đình một cách tích cực như vậy. Anh kể lại tuổi thơ tại sinh quán Hòa Viên, một làng nhỏ ven sông thuộc tỉnh Thừa Thiên, và tuổi thơ đó không hoàn toàn êm đềm. Ngoài những trò chơi của trẻ quê như đánh vụ, trốn bắt hay cỡi trâu ngoài đồng, hay mượn truyện của hàng xóm đọc, nó có những trận đòn nặng nề hơn là thương cho roi cho vọt của giáo huấn cổ truyền khả kính. Bạt tai hay đá đít để trừng phạt những lỗi lầm trẻ thơ như tắm sông hay leo cây bắt chim, nghe như phản ứng của cảm tính buông thả hơn là sự dậy dỗ có suy nghĩ của bậc cha chú. Anh viết về những phản ứng ấy như sau:
“Nhớ những chuyện này, tôi thường tự hỏi sao phản ứng của ba tôi và ông dượng tôi kỳ lạ thế. Tại sao không an ủi, lo chăm sóc cho đứa trẻ bị tai nạn trước, rồi dạy bảo sau. Có phải chăng đó là phản ứng thường tình của người Việt Nam?”
Anh cũng nhớ lại gia đình nhỏ của mình nhưng năm tháng hậu “giải phóng” khi anh “cải tạo” trở về. Anh viết khơi khơi như viết về chuyện người khác, phân tích nhiều hơn phê phán, nhưng nhất định không êm ả như anh viết về năm cây phượng con tượng trưng cho đời sống học đường. Anh viết về phản ứng tiêu cực của người thân khi chuyện xuất ngoại để làm việc tại ngân hàng quốc tế bên Phi bị trở ngại:
“Con đường tôi tính đang sáng sủa tự nhiên bị tắc nghẽn, gây khủng hoảng lớn không những cho riêng tôi mà ảnh hưởng đến cả tình nghĩa vợ chồng của chúng tôi. Nghĩ cho kỹ, bạn bè và những người thân thích trong gia đình có lý do chính đáng để cho rằng tôi là người sống trong mộng. Bà xã tôi bắt đầu đi làm về trễ, càng ngày càng trễ rồi lại ít khi nói chuyện với tôi. Có những buổi chiều buồn quá, tôi chở hai đứa con gái bằng xe Honda chạy lang thang trong thành phố, có khi xuống tận Thủ Đức hay Biên Hòa. Đi Thủ Đức tôi tránh đi xa lộ, chạy theo con đường cũ, ít xe, để hưởng gió chiều thổi tạt vào mặt và mùi lúa chín phảng phất trong không khí. Chạy như vậy tôi thấy tinh thần bớt căng thẳng, lại có dịp nói chuyện bâng quơ với hai cháu, nhưng vẫn suy nghĩ lung tung, lo và buồn cho thân phận của hai cháu. Về phần tôi, tôi chỉ cầu xin một điều:

Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

như thi sĩ Nguyễn Công Trứ từng mong ước.
Tôi đành phải nghĩ đến một kế hoạch ra đi khác để làm lại cuộc đời, nhất là vì tương lai của hai đứa con. Kế hoạch này cần thời gian, nhưng có còn hơn không. Năm 1983 chị tôi lúc đó đã trở thành công dân Mỹ lập hồ sơ bảo lãnh đoàn tụ gia đình cho tôi. Con đường này chắc, nhưng phải chờ đợi năm này qua năm khác. Nhưng một lúc nào đó sẽ đến phiên mình.
Nhân đây cũng nên nói đến tình trạng của một người đàn ông sống nhờ vợ. Hồi tôi còn làm ra tiền, lãnh lương bao nhiêu tôi đưa hết cho vợ, chỉ giữ một ít tiền túi. Mình là chủ gia đình đôi khi vợ có cằn nhằn gì cũng xem như không quan trọng. Đến khi mình trở thành người phụ thuộc trong nhà, lương không đủ ăn sáng, muốn mua gì, nhất là muốn đi nhậu với bạn bè phải hỏi tiền của vợ thì tự nhiên thấy mặc cảm. Cũng với giọng nói đó, cũng những lời trách móc đó, cằn nhằn đó, trước kia mình không để ý, nhưng nay thấy sao khó chịu nhức nhối xốn xang. Nhưng biết làm sao bây giờ, khi sa cơ thất thế? Chắc có một số bạn sau khi học tập trở về với gia đình cũng đã gặp phải trường hợp tương tự như tôi.
Càng ngày tôi càng mất lòng tin, nhất là không còn tự tin vào sự suy diễn về con đường ra đi của mình, và cả vào đạo lý con người. Khi mất hết hy vọng và lòng tin, con người rồi ra phải bấu víu vào một cái gì đó để sống. Lần này tôi tin vào số mạng mà trước kia tôi xem là chuyện nhảm nghe qua rồi bỏ…”
Cảnh còn viết về những người tốt (khá nhiều) đã ân cần giúp đỡ anh trên đường đời, và những người xấu (rất ít) đã lừa lọc đôi điều lặt vặt. Anh cũng viết về những may mắn và không may mắn đã gặp. Anh viết rất thật về những chuyện ấy, nhưng cũng rất phẳng, tựa hồ như viết về ai khác. Thật ra anh viết như người đã miễn nhiễm với vui buồn thế sự và không còn ngạc nhiên với tình đời ấm lạnh. Vậy mà con người ấy vẫn thiết tha với mấy cây phượng của Khải Định ngày xưa và quãng đời học đường liên hệ.
Riêng tôi, Cảnh làm tôi nhớ lại những cây phượng con chính tôi đã gặp trong sân trường cũ. Chúng thường mọc trên các kẽ nứt của lối đi tráng xi-măng quanh sân. Chúng còn mọc lẫn trong cỏ, không xa gốc cây bao nhiêu, trong tầm văng khi hạt rớt xuống. Như những cây non, chúng mảnh dẻ nhưng xanh tươi và đầy hứa hẹn. Nhưng tôi biết chúng yểu mệnh. Chúng thường sống sót lai rai ít lâu rồi bị rẫy đi cho sạch mắt. Mấy bác làm vườn không có nhu cầu giữ chúng, vì loài phượng tương đối thọ và những cây lớn có sẵn trong sân trường xem như không có ý định già cỗi để bị thay thế. Tôi vẫn hay tư lự như vậy với những cơ hội lỡ làng, những tiềm năng bị phí phạm. Tôi đã hơi tiếc rẻ khi thấy cuộc sống ngắn hạn của đám cây non. Chúng không bao giờ có dịp trưởng thành để biểu dương một mùa hoa rực rỡ. Hồi làm báo lớp khi còn học Khải Định, tôi nhiều lần toan viết về chúng.
Với xu hướng thời thượng bấy giờ đang từ Tây lan sang ta, tôi toan dùng chúng làm ẩn dụ để chở những sứ điệp trình độ học trò của tôi. Tôi nhớ đã phân vân giữa hai loại đề tài. Đề tài xã hội là những em bé đánh giày thường gặp tại quán Lạc Thành lúi húi dưới gầm bàn, mà tương lai chưa bắt đầu đã thui chột vì không được cắp sách đến trường. Đề tài tình cảm là niềm luyến ái thuở ban đầu của các anh nam chị nữ cùng lớp (chị nữ thường dưới một lớp, nhưng có trên một hai lớp cũng không sao), cái luyến ái thường không có cơ may sống quá mùa hè cho tới kỳ nhập học năm sau. Khai giảng thường là sự thật phũ phàng khi cố nhân đã nóng ruột mà ôm cầm sang thuyền mới với một người đàn ông đã truởng thành sẵn và đã có sẵn chức phận, thay vì đợi cậu tình lang bé con của mình lớn thêm 4 hay 5 năm, hay lâu hơn nữa.
Tôi nghiêm túc loay hoay giữa hai loại đề tài trên, thú thật bấy giờ không thấy ngộ nghĩnh sự vận hành tâm thức của mình để xử lý các chị nữ sinh và các em bé đánh giày như những đối tượng trao qua đổi lại được. Bận chuyện nọ chuyện kia, tôi đã không hoàn tất những tùy bút xã hội hay tình cảm ấy, sau cùng quên cũng bẵng đi. Về sau tôi cũng có những dự tính, những mơ ước khác không bao giờ thành hình, nhưng đó là chuyện khác. Chúng có thể to rộng hơn, nhưng không còn thơ ngây trong trắng đủ để ví với những cây phượng con xinh xắn của sân trường cũ.
Dù sao phải công nhận là Cảnh mát tay hơn tôi, bốn cây phượng con của anh đã sống đã lớn và đã nở hoa trước cửa nhà anh bên Manila, trong khi tất cả những cây phượng con ẩn dụ của tôi, dù tình cảm hay xã hội, đã chết đi không để lại dấu tích. Rồi tôi thắc mắc, bao nhiêu bạn cũ đồng khóa đã mang theo những cây phượng con sau khi rời mái trường, nhưng cây non bằng lá bằng cành, hay bằng ẩn dụ, và chúng có nở hoa đỏ thắm như bốn cây phượng của Trương Quang Cảnh trong cuộc sống xa xứ bên Manila.
Hè 2005
© 2005 talawas

Thảo luận cho bài: "Sân Trường Xưa"