Tấm Vé Số

Tác giả:

Làn khói mỏng ngoằn ngoèo bốc lên từ những cây nhang đang cắm trong cái lư bằng đồng trên bàn thờ. Ông Phú sì sụp lạy, miệng khấn thầm những gì không ai nghe rõ. Ông Phú vừa chiến thắng một cách oanh liệt với bà vợ già sau trận giằng co. Bà Phú thì cho rằng: có được ngày hôm nay là do phước đức của ông bà để lại. Ông Phú vùng lên phản đối: 

“Ông bà, Trời Phật tôi thờ trên đầu, tấm vé số tôi thờ trước mặt, còn bà thì tôi…
“Còn tôi thì sao?” – Bà Phú hỏi.
“Còn bà thì tôi thờ trên bụng”

Cái tính ưa nói cà rỡn cố hữu của ông Phú coi vậy mà đã xoa dịu phần nào sự căng thẳng của hai người trong mấy ngày qua. Người xưa thường nói phú quý sinh lễ nghĩa suy ra trúng ngay phốc. Sau ngày khắm khá, bà Phú tự nhiên trở nên một con người khác, bà bây giờ từ tốn, ăn nói chừng mực không chua ngoa như trước kia – ngồi chợ mỗi ngày. Bà Phú nguýt chồng lấy lệ rồi lặng lẽ xuống bếp. 

Hình như từ cái ngày chuyện may mắn đến với gia đình ông Phú thì trật tự cũng được vãn hồi. Bình thường bà Phú ưa lên mặt với ông lắm, bà mới là người quyết định mọi việc trong nhà nầy. Cái quy luật hầu như tất yếu trong xã hội – Hễ ai làm ra nhiều tiền hơn thì người ấy tự cho mình cái quyền lớn tiếng hơn. Gánh rau của bà Phú đem về lợi nhuận nhiều hơn khoảng tiền bố thí của bá tánh do ông Phú góp vào trong những bữa ăn đơn sơ thiếu vắng tiếng cười. May mắn vừa qua là do chính bàn tay ông Phú mang lại, ít nhất ông Phú tự nghĩ như thế, nên ông ta nghiễm nhiên tự khoác lên người phong thái đạo mạo để dành lại kỷ cương của một gia trưởng. Bà Phú có lẽ đã thấy điều ấy nên không biết tự bao giờ, bà đã âm thầm xếp mình vào bổn phận và dĩ nhiên rất tam đức (công, ngôn, hạnh – Xin lỗi, bà Phú không thể nào có dung, bởi diện mạo bà đã dưới điểm trung bình từ hồi còn con gái). Cái nề nếp phu xướng phụ tùy tự phát nên trong việc thờ cúng tại ngôi nhà mới, khang trang nầy dù bà Phú có đề nghị vài điều nghe thuận tai, nhưng tiếng nói đó chưa đủ mạnh để đi vào nghị quyết. Ông Phú đã thắng với tỷ số 1-0.

Thực tế thì như vậy, trên  bàn thờ nhà ông Phú không thấy hình ảnh người quá cố, cũng không thấy thờ Phật, Thánh, Thần gì cả. Nhưng để ý một tí, người ta sẽ thấy có một linh vị – Đó là bản chụp trắng đen một tấm vé số in đứng được lồng trong một khuôn hình mạ vàng xinh xắn, đang dựng nghiêng nghiêng sau chiếc lư đồng. Tại sao lại là tấm vé số? Trả lời cho câu hỏi ấy có lẽ chỉ có ông Phú mà thôi. Thật ra điều ấy ít người bận tâm, phần lớn những người đến dự tiệc hôm nay chỉ la cà ở hai tầng dưới. Cầu thang lên tầng ba nơi ông Phú thường ngồi lặng lẽ hàng giờ để chiêm nghiệm cuộc đời thì được chắn tấm phên thưa mà ông thường bảo: "không cho con Vện chạy lung tung lên trên ấy". 

Mùi thơm chiên xào từ nhà bếp đã bắt đầu bay lên làm cả phòng khách thơm phức. Tay cỗ có tiếng dưới phố được mướn về từ sáng sớm hôm qua. Những thợ săn khệ nệ khiêng tới một con nai tơ, hai con heo rừng và một con áo dà (hoẵng). Có vài tiếng xầm xì của mấy người hàng xóm: "Chắc gì heo rừng thật, chúng mua ở trại chăn nuôi…". Người khác nhún vai: "Có ăn là được, thời buổi nầy đòi heo rừng chính cống đâu dễ gi…". Người khác nữa xía vô: "Nghe đồn lão thợ nầy lâu lắm, hắn chuyên làm các món nhậu từ bộ đồ lòng heo, lòng bò ngon đáo để. Heo rừng mà gặp hắn thì ăn quên thôi, từ xào lăn đến nướng vỉ, từ cuốn lá lốt đến heo rừng hầm bát bửu mà ai may mắn được thưởng thức qua một lần cũng sẽ nhớ đời". 
Trong nhà, ông Phú đang ngồi uống trà với vài người khách đến từ hôm qua, hôm kia. Gớm "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau có khác". Ông Phú hân hoan vô kể, ông có nằm mơ cũng không tưởng tượng nổi có ngày hôm nay. Bạn bè cũ thời trung niên, thiếu niên… vài ba năm nay lần lượt từ gọi điện thoại thăm hỏi, đến cất công tìm kiếm vì "thương nhớ" ông. Những người bà con lâu đời đại bác có bắn không tới cũng tìm dịp tạt ngang qua thăm trong chuyến công tác rất gần, chỉ cách có vài trăm cây số. Tục ngữ có câu "một giọt máu đào hơn ao nước lã" mà lị. Tóm lại ông Phú vui, rất vui vì ông tìm lại được cái đầm ấm của thời xa xưa, cái thời mà chén rượu, cuộc cờ, súng đạn, giao thông hào, còn là sợi dây vô hình trói thân tình gia tộc, bằng hữu xa gần.
         

Khách hôm nay tại nhà ông Phú người nào cũng được cơm bưng, nước rót rất chi đàng hoàng. Một căn nhà ba tầng rộng thênh thang nay bỗng chật chội vì "thực khách". Ai ai cũng nói cười lễ phép, thân mật. Đã thế, ông Phú được nghe những câu tâng bốc đầy ý nghĩa, những ngợi khen rất vui tai, toàn là những chuyện xảy ra trước khi ông thành gã ăn mày tại cổng chợ Biên Hòa. Nhưng không sao, ông là người dễ tánh, khen bao nhiêu và bao giờ cũng được. Nhìn vào, quả nhà ông Phú xứng đáng là một tay hào sảng bậc nhất nơi đây. 

Bà Phú sai mấy người làm và hai đứa con lần lượt bưng thức ăn thịnh soạn đặt trên nhiều chiếc bàn kê nối đuôi nhau có phủ tấm nhựa trắng viền bông rất sang trọng. Trên lớp giấy nhựa trắng ấy, những đĩa thức ăn đang bốc khói, tỏa ra mùi thơm rất chi đói bụng. Dù chưa được mời, vài người khách đã tự tiện ngồi vào bàn và khui bia nghe lớp cớp,  pha lẫn tiếng kéo ghế rin rít trên sàn. Chẳng bao lâu, chung quanh mấy chiếc bàn dài bạn bè ngồi kín cả. Bữa tiệc có hai thứ rất đặc biệt: Thứ nhất, ông Phú chơi toàn thịt rừng như heo rừng, nai, áo dà… đặïc biệt thứ hai là chủ nhà không tuyên bố lý do. Mà không tuyên bố lý do cũng là một điều tốt. Đó chính là cái cớ đích thực để mọi người ởm ờ áp dụng câu "một mặt hơn mười gói", chẳng cần mua quà cớm gì cả. May mà ông Phú – một phó thường dân nam bộ – mời – chứ gặp xã trưởng, thủ trưởng – mời – cho lần sinh nhật thứ mấy trong năm của cậu ấm, mà đi tay không là coi chừng không thông minh cho lắm.

Ngược giòng thời gian, không ai nhớ tự bao giờ. Một gã ăn mày xuất hiện gần cổng chợ Biên Hòa với cây đàn guitar cải biên. Cải biên vì nó là loại dùng đệm ca tân nhạc nay phím được khoét sâu để làm đàn cổ nhạc. Gả ăn mày coi cây đàn như một trợ thủ đắc lực. Nó cũng ra sức réo rắt du dương theo từng câu ca mà từ bà già nhà quê đến anh phu xe tỉnh thành ai cũng biết: Chuyện Tình Lan và Điệp, Tình Anh Bán Chiếu, Võ Đông Sơ, Bạch Thu Hà v.v…khiến ông đi qua bà đi lại mủi lòng bỏ vào chiếc mũ lật ngửa năm ba đồng. 

Dễ chừng đã mười năm qua, ngồi tại cổng chợ  Biên Hòa ông Phú sống lây lất bằng tình thương của bá tánh. Nhiều khi ông nhận ra một vài người bạn thân chạy xe gắn máy ngang qua, họ nhìn ông rất nhanh rồi phóng như bay vì sợ ông "thấy sang bắt quàng làm họ". Chao ôi! Cha mẹ ông đã cẩn thận đặt cho ông cái tên nghe rất giàu có, thế mà ông vẫn cứ bần là thế nào. 

Nhưng một hôm trời mưa nặng hạt, con bé độ mười tuổi, tay cầm túi nylon trong có đựng cọc vé số. Nó bảo rằng sáng đến giờ nó chưa bán được tờ nào cả, kiểu nầy nó không dám về nhà vì ba nó sẽ cho một trận đòn chí tử như những lần trước. Ông thương hại hỏi:
“Sao ba lại đánh cháu, bán không được vì không có ai mua chớ phải tại cháu đâu?”
“Ba cháu không cần biết điều đó, chỉ bán được thì nhà có ăn còn không thì chẳng có gì ăn.”
Ông Phú xúc động, móc trong túi ra mấy ngàn bạc đưa cho con bé:
“Mầy cầm lấy đem về cho ba, nói là tiền bán vé số.”
Đôi mắt con bé sáng lên, nó chìa tay cầm tiền nhưng ngần ngại:
“Nhưng ba cháu sẽ kiểm tra vé số, thấy không bán mà có tiền ổng nói cháu móc túi người ta thì cũng khổ cho cháu. Hay là bác lấy đại mấy tấm vé nghen.”
Ông Phú miễn cưỡng cầm mấy tờ vé số. Từ xưa đến giờ có khi nào ông đánh số đâu, nên cứ lật qua lật về không biết chơi như thế nào.
Con bé lanh lợi:
“Bác cứ chờ đến cuối tuần nầy, đài phát thanh sẽ sổ xố, báo đăng số trúng, bác dò thử, nếu may trúng thì đỡ cho đời bác.”
“Trúng…hừ.  Tao mua là giúp cho mày chứ đời tao không hy vọng khá được.”
Cơn mưa đã tạnh, con bé lo về nhà, ông Phú cũng bỏ cây đàn guitar vào bọc khệnh khạng bước theo những chỗ khô ráo ra đón xe về nhà.

Hôm sau, ông Phú nặng đầu, sổ mũi và hắt hơi liên tục. Điệu nầy ông không ra chợ được, nghỉ một bữa cũng chẳng sao. Nhưng ông Phú chợt nhớ ra anh chàng thương phế binh ngồi bên kia góc chợ, biết đâu anh ta không lợi dụng sự vắng mặt của mình mà đặt đít xuống vị trí mười năm ăn xin của ông. "Không sao! mai ta đi sớm hơn thì đâu lại vào đấy". Thế nhưng, những ngày liên tiếp ông Phú ngã bệnh, nhà không còn gì để ăn, gánh rau muống của bà vợ èo uột quá. Nhìn mấy nhỏ ăn khoai lòng ông như dao cắt. Bây giờ thì cho dù ai chiếm vị trí ăn mày của ông, ông cũng đành chịu vì cả người ê ẩm, tay chân rã rời.

Mặt trời vừa lên khỏi mái nhà bên kia đường, ánh nắng đã lọt qua các lỗ trống của những tấm cót ông Phú dùng làm vách. Con bé bán vé số cầm tờ báo chạy hổn hển vào nhà. Thật ra gọi nhà nghe cho sướng miệng nhưng đó là cái chòi trốn nắng chứ không trốn được mưa. Con bé phóng vào nhà, miệng oang oang.
“Trời ơi bác ‘đờn’, bác ở đây làm cháu kiếm muốn chết.”
“Tao kẹt lắm đừng xúi tao mua vé số nghe mày!”
“Đâu có, trong xơ-ri cháu bán có người trúng độc đắc bác ạ.”
“Hi.hi…” – Ông Phú trề môi.
“Chắc người nào đó may mắn không phải tao đâu.”
“Thì bác cứ dò thử xem.”
Ông Phú thọc tay vào túi áo móc ra mấy tấm vé số đã nhàu, sau nhiều lần ông định liệng đi. Những con số trên tờ nhật trình hoàn toàn nằm thứ tự giống như tấm vé của ông khiến con bé nhảy đùi đụi, ôm đại cổ ông Phú rồi reo lớn: 
“Trúng, trúng rồi bác ơi, trúng rồi.”
Ông Phú như chưa tin, ông gắng dậy, bước ra phía cửa cho sáng hơn để xem cho rõ. Tay ông bắt đầu run, ông mở luôn hai tờ nằm dưới đều cùng một số. Lúc nãy con bé chỉ dò tờ trên, giờ thấy hai tờ dưới trúng luôn, nó ngã xuống sàn cái đạch, mặt nó xanh như trúng gió. Ông Phú nhét ba tờ vé số vào túi, cài thêm mấy cây ghim rồi lấy dầu gió thoa lên trán lên cổ cho con bé. Một lát sau nó tỉnh lại, cười toe toét:
“May quá bác ơi,  Phật Trời đã thương gia đình bác rồi.” 
Vừa nói dứt câu, cô bé quay mặt hướng khác buồn rầu nghĩ thầm, ‘hay thế mình không năn nỉ bác đờn mua dùm’.
Nó quay lại nói:
“Khi lãnh bác nhớ cho cháu ít.”
“Tao đâu có quên mầy được, nhưng không biết là bao nhiêu?”
Con bé ranh mãnh:
“Mỗi vé là 800 triệu, bác trúng cặp ba 2400 triệu.” 
Bây giờ đến phiên ông Phú, mặt ông biến sắc. Ông không ngờ có được ngày hôm nay. Miệng ông cứ lảm nhảm câu ‘cảm ơn Trời Phật, cảm ơn Trời Phật’.

Hôm nay một buổi sáng mùa đông, mưa đêm đã tạnh, con đường đất trước nhà ông Phú bùn nổi lên lầy lội. Hai đường lằn bánh xe và các lổ chân trâu đầy nước đục ngầu.  Từng cơn gió lạnh hắt lên từ cánh đồng lúa trước nhà. Lúc đầu ông Phú định đi một mình, sau muốn vợ cùng đi. Vợ chồng ông Phú và hai đứa con đều chọn những bộ đồ lành lặn nhất để đi lên thành phố. Dĩ nhiên ông Phú đã dặn dò các con tuyệt đối bí mật việc trúng số. Ông Phú nghĩ bụng là sau khi lãnh, phải đưa tiền ngay đến ngân hàng, ông dự trù để lại một ít – ít  gì? Chắc cũng mấy trăm ngàn, ông sẽ cho gia đình ăn cơm hiệu một bữa cho hả hê.  Ra tới bến xe, vợ chồng ông Phú và hai con rón rén leo lên. Tài xế còn đợi thêm hành khách nhưng ông Phú bảo cứ chạy, ông sẽ bao luôn cả chuyến khiến bà Phú cứ tặc lưởi tiếc tiền:
“Cả chuyến bao nhiều tiền hả ông?”
“Tui có biết đâu, từ hồi nào đến giờ ai thuê bao đâu mà biết!”
“Sao ông liều vậy, rủi người ta ‘ăn’ nhiều quá tiền đâu mà trả” – Bà Phú nói nhỏ vào tai chồng. 
Ông Phú nhún vai, đưa ngón trỏ chỉ vào túi áo. Đến bến, gia đình ông Phú kêu taxi thẳng tới sở xổ số. Dường như nơi đây, người ta đã đoán lô trúng lớn sẽ có người lãnh nên đâu đó chuẩn bị, giám đốc sở xổ số ứng trực, nhân viên phục dịch niềm nở, phòng tiếp tân trang hoàng lộng lẫy để chờ đón thượng khách. Gia đình ông Phú xuất hiện, mọi người trong sở xổ số ngạc nhiên với lối ăn mặc thô sơ của một người đi lãnh lô độc đắc. Thật ra muốn không thô sơ cũng không được, bởi đó là những bộ đồ tươm tất nhất của một gia đình khó khăn như ông Phú. Điều ngạc nhiên thứ hai là khi ông Phú trình ra ba tấm vé có cùng một số. Như vậy đó là lô trúng cặp ba lớn nhất cho một người kể từ trước tới nay. Sau một hồi giảo nghiệm bằng máy có sự chứng kiến của nhiều người. Những tấm vé ông Phú mang đến được xác minh là do Sở Xổ Số thành phố phát hành. Thủ tục lãnh tiền tuy có đơn giản nhưng phải mất cả tiếng mới xong, khiến gia đình ông Phú ngồi chờ sốt ruột ở phòng đợi. Đôi lúc mặt ông tái nhợt vì nghĩ đến sự đánh đổi những tấm vé thật của ông bằng những tấm vé giả. Ông Phú toan đứng dậy, nhưng vừa nhớm đít ông lại ngồi xuống. 
Sau đó mươi phút, giám đốc Trần Văn An dẫn theo một số nhân viên mang ra một khay nhỏ, trên khay có chai Champaign và mấy cái ly. Người tùy tùng khui chai rượu rót đầy vào mấy cái ly. Những ống kính đưa về hướng gia đình người may mắn. Ông Phú đang khúm núm nâng chén, những chiếc máy hình thi nhau lắc cắc, ánh chớp đó đây, làm ông Phú cứ cố tình xoay mặt đi hướng khác. Tuy nhiên công tác quảng bá cho hệ thống xổ số không sao không thực hiện.  Nhận xong tấm ngân phiếu, giám đốc Trần Văn An đề nghị một câu thừa thãi:
“Tôi đề nghị ông bà nên bỏ ngay chi phiếu vào ngân hàng cho an toàn”
“Vâng! Cám ơn ông, chúng tôi đã có nghĩ như vậy” – Ông Phú cúi đầu trả lời.
“Trong tòa nhà nầy cũng có chi nhánh của Ngân Hàng Ngoại Thương, ông bà có thích bỏ vào đấy không?”
Bà Phú vọt miệng hỏi:
“Ngân Hàng Nội Thương gì gì đó có an toàn không hở ông?” 
Mọi người túm tím cười. Ông Phú chữa:
“Bà nầy thật, Ngân Hàng Ngoại Thương mà bảo Nội Thương là thế nào. bà làm như đây là bệnh viện”
Giám đốc Trần Văn An đưa hai tay giải thích:
“Ngày nay, chính phủ ta có những quy định rõ ràng, tất cả ngân hàng đều phải đóng bảo chứng, rũi ro nào đó mà ngân hàng ấy khai phá sản thì nhà nước sẽ trả tiền lại cho thân chủ đã ký thác chứ không thể nào mất được. Nhưng mất làm sao được, ngân hàng nào cũng là công, tư hợp doanh cả đấy”
Giám đốc Trần Văn An nói thế để tạo sự tin tưởng cho ông Phú, không ngờ nghe đến có nhà nườc trong đó ông Phú đổi ngay ý định bỏ vào Ngân Hàng Ngoại Thương, là bởi vì những vụ quan chức lớn của nhà nước đã nổi tiếng ăn hối lộ mà báo chí rần rật lên tiếng mấy tháng nay. Cuối cùng ông mang thẳng tới Bank of America cho chắc ăn. Không phải ông Phú vọng ngoại, nhưng ‘đồng tiền gắn liền khúc ruột’, ông rất sợ sự léo lận của cán bộ nhà nước.

Tại Bank of America, ông Phú nảy ra một sáng kiến, tại sao mình lại bỏ vào một chỗ mà không bỏ vào nhiều chỗ. Thí dụ như năm 75 Mỹ cuốn gói bỏ chạy, biết ngõ nào mà rờ. Ông quyết định bỏ vào nhiều ngân hàng khác nhau, sau khi nhờ Bank of America thối lại cho những ba, bốn ngân phiếu và dĩ nhiên một số tiền mặt. 
Như đã hứa với vợ và các con, ông Phú đưa gia đình đến Làng Nướng Nam Bộ, người bồi bàn đưa thực đơn ra, ông choáng váng, chẳng biết kêu món nào. ông đưa miệng vào tai một người bồi bàn:
“Cháu hãy cho những món nào ngon nhất ở đây”
Người bồi bàn trẻ nghi ngờ:
“Có những món đắt tiền lắm, bác thực sự muốn cháu tự chọn”
“Ừ, mày cứ chọn đi, tao đói lắm rồi”
Tuy nói thế nhưng anh bồi bàn sợ khách ăn quịt nên vẫn phải vào trong trình cho quản lý. 

Bữa ăn thịnh soạn mà có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới. Gia đình ông Phú kêu một chiếc taxi để về lại Thủ Đức. Ông Phú cẩn thận dặn đi, dặn lại các con và bà vợ những câu thừa:
“Bà với mấy đứa bay hãy kín miệng, tuyệt đối không được hé môi về vụ trúng số nghe chưa!”

Sau nhiều đêm mất ngủ vì trúng số, hai vợ chồng ông Phú cứ lăn qua trở lại mãi. Rủi ro hay may mắn bất ngờ, người ta cũng có những trạng thái choáng váng như nhau. Quyết định cuối cùng là vợ chồng ông Phú sẽ từ bỏ túp lều lý tưởng trong một con hẽm dơ dáy gần chợ Biên Hòa dọn lên cao nguyên, nơi đó ông sẽ mua đất làm vườn cà phê để giấu đi chuyện trúng số. An cư xong, một bữa tiệc thết đãi bạn bè, bà con xa gần, bởi ông vẫn thèm khát những kỷ niệm thân thiết xa xưa. Cũng có thể ông muốn xoa dịu phần nào tự ái của ’bao năm tình lận đận’.  Tấm vé số là sợi dây vô hình có khả năng kéo những người thân trở lại, ông trang trọng đặt nó lên bàn thờ. 

Thủy Lâm Synh
Feb. 28, 2007

 

 

Thảo luận cho bài: "Tấm Vé Số"