Chương 12

Thời gian vẫn dằng dặc tiếp nối. Máy tạo hóa luôn cần mẫn xoay vần. Lớp sóng phế hưng cứ tái diễn không ngừng nghỉ. Thăm thoắt mà tám năm trời trôi qua.

Ông Năm Tảo vẫn tiếp tục nghề xem mạch hốt thuốc. Bà Năm Tảo ngoài việc nội trợ, thương viếng thăm hai cô con gái và hai chàng rể để có dịp hủ hỉ với lũ cháu ngoại. Ông Chín Thẹo qua đời. Bà Chín Thẹo tuy có buồn đôi chút nhưng rất hãnh diện vì lũ con trai mình ăn nên làm ra, còn cô con gái út của bà được làm vợ một bực ăn học, trở nên ngươi đàn bà trung lưu có tư cách. Bà Mười Thiệp và ông bà Mười Hai cất am bên bờ rạch Tân Giai tu hành, ra công giúp đỡ người trong làng, trong xóm.

Cô Út Ngọc An sanh cho chồng một trai hai gái. Cô càng sanh đẻ, máu huyết càng thay đổi, càng lồ lộ vẻ tươi mát nuột nà. Ông Đốc học Hạnh xoay qua viết biên khảo về kinh điển Phương Đẳng Đại thừa. Cô Hai Túy Ngọc sanh cho chồng ba cậu con trai. Vóc vó cô vẫn thanh cảnh, thần thái cô vẫn giữa vẻ xán lạn tươi tỉnh. Ông Huyện Khải vẫn trẻ trung và dẻo dai. Ông giữ vẹn nếp thanh liêm cho nên lương bổng ông không đủ trang trải những nghi thức hào nhoáng cần thiết. Mấy năm sau này, song song với việc làm quan, hễ rảnh rang là ông viết tiểu thuyết loại nghiêng về giải trí, rất ăn khách, riết rồi cô Hai Túy Nguyệt coi sóc luôn việc xuất bản sách cho chồng. Ông bác vật Cảnh dắt vợ lên Sài gòn cư ngụ, lập trường tư thục Kiến Thiết, chủ trương tờ Khuyến Nông nguyệt báo nhắm mục đích khuyến khích nông nghiệp và cổ võ việc canh tân nếp sống mới cho dân quê. Cô Ba Túy Nguyệt sanh cho chồng một trai hai gái. Cô được người chồng cô truyền dạy các món môn bánh xưa, nghệ thuật thêu xưa. Rồi cô còn được dì phước Marie vốn là chị con nhà bác bên chồng dạy các Ôn thêu đan kiểu Tây và các món bánh nay. Sau đó cô mở nữ công học hiệu để dạy các lương gia nữ tử các món nữ công phụ xảo. Cô cũng xin bà Mười Thiệp cho hai cô Kim Liên và Kim Huệ lên Sài gòn theo học trường cô để rồi sau này hai cô trở thành giáo sư nữ công trẻ tuổi, được hai thầy giáo lớp nhứt tiểu học Cầu Kho cầu hôn.

Cô Thiệt Nguyện từ khi làm vợ bác sĩ Lê Thạnh Mậu rồi thì được chồng cưng như trứng mỏng. Cô tận tụy săn sóc chồng, coi sóc mọi việc trong nhà châu đáo. Hễ có thời giờ rảnh rang là cô đi săn sóc trẻ em mồ côi, đi làm công quả cho chùa, lo việc đúc tượng in kinh. Cô sanh cho chồng hai cô con gái xinh như mộng, đẹp như tranh.

Hai cô Agnès Thuận và Isabelle Định thỉnh thoảng có về thăm cô Ba Cẩm Tú và cô Tư Cẩm Lệ. Họ đã đứng tuổi, tuy chưa phấn lạt hương phai nhưng họ sớm lo liệu trước. Cô Agnès Thuận làm vợ kế một thương gia Huê Kiều ở Tân An, đối xử với lũ con chồng tử tế nên chiếm được cảm tình của họ. Còn cô Isabelle Định lấy thầy giáo góa vợ dạy lớp nhứt cở Gò Đen. Cô sanh cho chồng một cậu con trai xinh đẹp.

Hai Dần cưới cô Sáu Bạch Huệ, cọn về chợ Phú Quới cách chợ tỉnh sáu cây số. Cô sanh cho chồng cặp hổ bôn hổ bịch kháu khỉnh.

Đã liếc qua gia đạo kẻ hiền lương hoặc bình thường, thì chúng ta nên ghé mắt nhìn qua gia đạo những kẻ vì vô minh mà gây ác nghiệp… cho công bình.

Cậu Hai Luyện tuy trở thành phế nhơn nhưng không vì vậy mà trách trời oán đất và giận ghét người đời. Hồi tưởng lại bao chặng đời dĩ vảng, cùng ngắm nhìn thói tham lam tàn ác của gia đình mình, cậu giựt mình kính sợ cho lẽ thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cho nên cậu ăn năn lung lắm. Cậu tìm kiếm cô Ba Hưởng, giúp đỡ đứa con rơi của cậu ăn học. Cậu cũng tìm cô Hai Thiều, cất am cho cô ở gần nhà tía má cô để cô có kẻ săn sóc. Cậu ăn chay trường, làm nhiều công quả và Phật sự cho các chùa chiền. Cậu cộng tác với cô Thiệt Nuyện giúp đỡ trẻ mồ côi, đóng góp tiền cho trường mù, cho nhà thương cùi ở cù lao Rồng, Mỹ Tho. Đều đều cậu tụng kinh cầu siêu cho vong linh cha mẹ sớm thác sanh vào cõi An bang Tịnh độ.

Hơn lúc nào hết, ba anh em cậu Hai Luyện sát cánh nương tựa nhau sau bao tai biến. Trong năm đầu chịu tàn phế, cậu Hai Luyện có cho người dò la tin tức Bửu. Mãi tới ba năm sau cậu mới nhận được tin tức về người em cùng cha khác mẹ kia. Bửu tu hành trên núi Cô Tô, dưới mái thảo am của pháp sư Chơn Huệ, bên Điện kín, pháp danh Thiệt Tánh. Trong thư viết cho cậu Hai, sư Thiệt Tánh cho biết năm tới sư sẽ đi Anh Quốc để diễn thuyết tại các cơ sở và các trung tâm Phật giáo cùng với Paul Carlson, một ký giả người Anh rất am tường Phật pháp.

Cậu Hai Luyện bảo hai cô Cẩm:

– Dòng họ mình chỉ có ba người đáng kể. Đó là pháp sư Chơn Huệ, anh Đốc học Hạnh và sư Thiệt Tánh.

Cô Ba Cẩm Tú và cô Tư Cẩm Lệ nhìn nhau dửng dưng. Thiệt tình hai cô cũng sợ quả báo, nhưng không vì lẽ đó mà họ thích chuyện tu tâm dưỡng tính, bởi nghiệp tham dục của họ còn nặng lắm. Tuy thương yêu anh mình, sát cánh với đương sự để chống chỏi với hoạn nạn tai ương, nhưng làm sao họ bỏ được chuyện làm giàu cùng thú vui nhục dục! Năm nay cô Ba Cẩm Tú đã ba mươi lăm tuổi, còn cô Tư Cẩm Lệ đã ba mươi bốn. Cô Ba chuyền từ tay ông Chánh tham biện Leblond qua ông Cò mi Carrière khi ông Chánh tham biện về Pháp. Còn cô Tư ăn ở với ông Biện lý Beauregard được bốn đứa con, đứa nào cũng chưa đầy ba tuổi là vong mạng.

Mỗi khi cấn thai, cô đi xin bùa phép trừ tà ếm quỉ để đứa con trong bụng cô không phải là con ranh, nhưng làm sao cô cải được cái ác nghiệp hiện hành! Khi đứa con thứ hai chết đi, trước khi chôn, cô thử lấy mực đỏ vẽ một vết nhỏ cỡ hột đậu ở háng nó. Đứa con thứ ba vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã có vết son đó. Rồi khi đứa con thứ ba từ trần, cô vẽ thêm một chữ thập nhỏ bằng mực đen trên mông nó. Thế là đứa con thứ tư chẳng những mang vết son ở háng mà còn mang chữ thập đen trên mông. Rõ ràng đây là đứa con ranh đầu thai qua năm kiếp.

Đau đớn vì trải qua năm lần chửa đẻ con ranh con lộn nên lần có chửa thứ sáu, cô Tư Cẩm Lệ đi phá thai trong căn nhà một mụ xẩm già có nhà đâu đít với trường học Huê kiều, giáp với miễu Quốc công. Mụ dùng chiếc đũa sắt bọc dây thun ở đầu, bôi lên đầu một chút dầu cho trơn rồi thọc sâu vào tử cung cô. Dây thun quấn vào bào thai vừa tượng hình trong bụng mẹ, bị rút ra khỏi cơ thể của mẹ nó. Cuộc phá thai không quá đau đớn như cô tưởng. Cô thầm mong rằng từ đây về sau, bởi trận phá thai kia cô sẽ bặt luôn đường chửa đẻ. Nhưng hai ngày sau, trong cơn chiêm bao cô thấy Cô Tư Thục hiện về, mắng:

– Đồ khốn nạn! Mầy tưởng đâu phá thai là hết chuyện sao! Thai nhi dù có chết đi thì cũng kể như mầy đã sanh lần thứ sáu rồi vậy. Còn thêm ba lần sanh nữa là đủ chín lần, đứa con ranh con lộn kia sẽ vật mầy chết tươi. Khi nó vừa ra đời là mầy sẽ bị băng huyết xối xả, đố ai cứu được!!

Cô Tư Cẩm Lệ sầu não lắm, thường cùng chị thì thầm than thở rồi khóc sụt sùi. Cậu Hai Luyện khuyên dứt cô em út:

– Nấu mầy sợ sanh đẻ thì cữ kiêng việc chung chạ với chồng. Mầy đã gây ác nghiệp thì chi bằng lo tụng kinh sám hối, dứt chuyện tham dục, bình tĩnh mà trả quả. Có lý đâu mầy cứ huê kia nguyệt nọ hà rầm, lo chạy áp phe chơn không bén đất. Mầy cũng đã trải qua hai tên bạn chăn gối, thôi thì dứt hết nợ phong tình nguyệt trái đi cho khỏe thân…

Và cậu quay qua trách cô Ba Cẩm Tú:

– Còn em, em đã dùng đủ mưu đen chước đỏ để kiếm được người chồng thuộc hạng thượng lưu trong xã hội, vậy mà em không chịu giữ vững hạnh phúc, để rồi giờ trở thành thứ vợ ngày vợ bữa cho bọn ngoại kiều! Em cứ coi cặp chơn cụt của anh đây mà hành xử sao cho khỏi vướng vào vòng tai kia họa nọ.

Cô Ba khóc lóc:

– Ai cũng muốn đẹp mặt nở mày chớ ai có muốn làm bia cho miệng đời chê cười sỉ nhục đâu! Bởi em dại dột, nên giờ có muốn kiếm một ông chồng tử tế cũng như mò kim đáy biển mà thôi!

Cô Tư Cẩm Lệ tuy đồng ý với anh mình, nhưng cô đang độ trẻ trung sung sức, lẽ nào cô chịu cảnh cám treo để heo nhịn đói cho được! Bởi đó phá thai chưa trót năm mà cô đã có chửa lần thứ bảy. Cô sợ quá, thỉnh kinh Từ Bi Thủy Sám và Lưong Hoàng Sám Pháp về tụng ra rả.

Một sáng kia, cô Ba Cẩm Tú và cô Tư Cẩm Lệ, kẻ từ nhà ông Cò mi, người từ nhà ông Biện lý, không hẹn mà cùng về Cầu Đào để thăm anh. Bà Năm Đặng dọn lên bàn bữa đểm tâm ê hề, nào bánh canh giò heo, nào bánh đúc tôm khô, nào cà phê sữa, nào khoai luộc, bắp luộc.

Giũa lúc đó, một tăng sĩ mặt mũi thanh tú, dáng dấp oai nghi, từ ngoài cửa thung dung bước vào. Ba anh em chưng hửng, ngờ ngợ là ai rồi. Tăng sĩ chiếu cặp mắt sáng như sao nhìn họ, sang sảng bảo:

– Chắc anh chị không nhận ra em. Bửu đây mà. Bây giờ em là Đại đức Thiệt Tánh rồi.

Cậu Hai Luyện cảm động:

– Mừng thầy về thăm nhà sau tám năm tầm sư học đạo.

Cô Ba Cẩm Tú cảm xúc quá, vừa khóc vừa bệu bạo:

– Thầy ôi, gia đình mình tai nạn cứ tới dập dồn. Thầy về đây thăm nhà và ở chơi được bao lâu?

Sư Thiệt Tánh nén xúc động:

– Em ở chơi được hai tháng. Anh ký giả Paul Carlson hiện đang ở bên Tịnh Liên am với ông Đạo Chuối. Tuần tới ổng sẽ cùng em lên Sài gòn để lo giấy tờ và mua vé tàu qua Hồng Kông, từ đó mới đáp tàu đi Luân Đôn.

Cô Tư Cẩm Lệ cũng giọt vắn giọt dài nhưng cô nén được ngọn trào lòng sớm hơn anh và chị mình. Cô xuống bếp đốc thúc con Lài, con Lý dọn mâm chay cho Bửu. Ông bà Năm Đặng và tôi tớ trong nhà cùng kéo ra chào sư Thiệt Tánh, mừng mừng tủi tủi dạt dào.

Sư Thiệt Tánh nói:

– Em sẽ lập đàn cầu siêu cho ba, má lớn, má ruột của em cùng là những kẻ quen biết có bài vị đặt tại Tịnh Liên am.

Đêm đó, quanh bàn tròn, bốn anh em kể lể đủ mọi chuyện tai biến trong gia đình. Cô tư Cẩm Lệ than thở:

– Thầy ôi, cứ theo cái vèo nầy, tui đẻ thêm ba đứa nữa thì còn gì tánh mạng tui? Xin thầy nghĩ tình chị em, cứu vớt tui với!

Sư Thiệt Tánh nhìn anh chị mình thong thả và êm ái bảo:

– Em về đây biết được anh chị có ý định cải ác tùng thiện thì điều đó còn quí hơn là cảnh nhà con đàn cháu đống, tiền của dư muôn. Em sẽ giúp anh và hai chị thoát khỏi tai họa rình rập để an lòng qui y Tam Bảo. Vậy anh Hai cần cầu siêu thêm những ai, xin biên tên cho em. Người sống nào cần ban bùa tặng niệc, xin cũng cho em biết luôn.

Khi tiễn sư Thiệt Hạnh ra ngủ ở nhà thủy tạ và cắt đặt thằng Đực túc trực để lo cho sự xong, cậu Hai Luyện về buồng riêng, chong đèn ngồi nhìn bóng mình in trên vách. Ngoài song cửa sổ đêm mùa hè oi bức và đen như nhuộm mực. Trên nền trời, sao sáng hiện như rải gạo rắc tấm. Đêm ngoại ô chưa tới giữa canh hai mà bắt đầu yên lặng. Bên hàng xóm có tiếng xay lúa rào rào. Ngoài xa nữa là tiếng giã gạo cắc cum. Ngoài ra không có tiếng nào khác, họa chăng là tiếng dế rỉ rả khóc sương.

Rồi vầng trăng hạ huyền méo xẹo như miệng con cá lưỡi trâu hiện lên phía trên mấy ngọn cau hòn dừa lửa, in trên nền trời chàm đậm. Ngọn đèn lạnh ở trong này, bóng tà nguyệt ngoài kia làm cho tâm trí cậu Hai Luyện bát ngát bao cảm khái về cuộc đồi dâu bể, về thế sự mị thường.

Khi Sáu Tốt gở các lá bùa trấn ếm xong, thần Hắc Giao đại vương vào buổi chiều hôm sau, nổi cơn lốc lớn, xoáy một vực không khí lớn cỡ cái gò đất kéo từ vàm rạch tạt qua nhà ông Hương sư Chiêm, cuốn hết nóc nhà, rui kèo. Con lốc kéo dài 3 phút, cũng đủ cho lối xóm thấy trên thinh không, chỗ con lốc đương lộng hành, một con sấu đen bay lượn, miệng há toác hoác, đuôi vùng vẫy đùng đùng như sấm nổ. Khi con lốc ngưng thì ngôi nhà hương hỏa một căn hai chái của ông Hương sư Chiêm sụp đỗ tan hoang, còn ông bị cây đè nằm chết nhăn răng.

Riêng thầy Mười Khói, một đêm nọ thầy nằm chiêm bao thấy một con quỉ cụt đầu, một tay bưng thủ cấp, một tay chỉ vào mặt thầy hét lớn:

– Mầy dùng bùa trấn ếm tao. Để rồi mầy coi, con cháu tao sẽ báo thù thay cho tao!

Tỉnh dậy thầy kinh sợ lắm, lền cùng đứa con chèo ghe lườn từ sông Long Hồ ra sông Cổ Chiên để đi Mỹ An. Thầy tính phen nầy sẽ dùng thứ bùa mạnh hơn để trấn ếm thần sấu đen kia. Khi ghe gần đến An Hương thì thầy thấy có khúc cây vỏ xủ xì xám mốc nổi lập lờ bên hông ghe. Thầy liền ngưng chèo, thò tay toan vớt. Ai dè đó là con sấu. Nó lẹ như chớp, quãy đuôi há miệng táp cụt hai bàn tay thầy. Máu ra quá nhiều nên giữa đường, thầy trút linh hồn.

Chú Bảy Bảnh từ khi thiên cư về Mỹ An thì được sự chiều chuộng ngọt bùi. Năm sau chú bị bịnh bạo, được vợ săn sóc châu đáo cho tới ngày từ trần. Thím Bảy có lên Cầu Đào thăm cậu Hai Luyện, yêu cầu cậu nối lại duyên xưa nhưng cậu dùng lời trong kinh kệ để cảm hóa thím, được thím nghe lời, tìm đến am Huệ Tịnh làm kẻ trợ tu cho sư cô Diệu Trí.

Cô Ba Hưởng từ khi lấy chồng khách trú thì được chồng cưng lắm. Cô sanh cho chồng hai trai ba gái. Còn thằng con đầu lòng của cô, cũng là con cậu Hai Luyện, vẫn được tía ghẻ nó coi như trưởng nam. Anh chàng khách trú về sau thấy cậu Hai thành tâm cải hối nên cho đứa nhỏ tới lui với cậu, làm cho cậu được an ủi nhiều. Thịnh, tên đứa nhỏ, tỏ ra hiếu hạnh với cha ruột lẫn cha nuôi, nên lối xóm khen ngợi lắm.

Hai đứa con ông Mười Hai là cậu Hai Thanh và cô Ba Hồng về sau ăn nên làm ra, có gia đình hạnh phúc. Cả hai vâng lời mẹ, tìm kiếm những cô gái trước kia bị bà Mười Hai dụ dỗ làm nghề buôn hương bán phấn, giúp họ làm lại cuộc đời. Đó cũng là cách báo hiếu để ác nghiệp của đấng sinh thành ra họ mỗi ngày một mỏng, và phúc quả của họ càng lúc càng tròn đầy.

Cai tuần Xướng, thằng Yêm, thằng Xiêm, thằng Đực, con Lý, con Lài vẫn ở với cậu Hai, được cậu trả công xứng đáng. Vợ Cai tuần Xướng qua đời, anh xin cưới con Lài. Thằng Đực thì cưới con Lý. Thằng Yêm và thằng Xiêm vì mê cậu Hai thuyết pháp nên xin cùng tu với cậu, không chịu cưới vợ để bận bịu tấm thân.

Ông bà Năm Đặng từ khi thấy cậu Hai bị tai nạn thì lòng tràn ngập thương xót. Rồi khi thấy cậu Hai tu hành tinh tấn, họ noi gương thằng Xiêm, thằng Đực, sanh lòng mộ đạo nên không chịu nuôi thứ cá bằng máu kinh nguyệt cho hai cô Cẩm nữa. Họ cũng không ăn cắp tiền bạc của cháu mình mà còn để dành, giúp đỡ người cùng khó.

Còn hai chị em cô Bảy Cẩm Thạch thì sao? Dù có thương cậu Hai Luyện cách mấy, cô Bảy vẫn không thể vì đó mà hy sinh làm vợ hay làm người tình cậu được. Cho nên năm sau cô kết hôn với thầy thông ngôn Lương Phùng Xuân hóa vợ mà không con. Cô sanh cho thầy một con trai kháu khỉnh. Niềm vui duyên mới cùng tấm tình chơn thật của chồng đã giúp cô bứng hết gốc rể kỷ niệm những ngày tò tí với cậu Hai. Còn cô Tám Cẩm Vân thì làm bé ông Quận Dần.

Ngồi ôn qua bao nhiêu chuyện của những người trong tỉnh lỵ nầy, cậu Hai nhớ lại thầy kiện Trần Hảo Hiệp. Thầy ta đã tái hôn với cô Hai Tú Trinh, đã cho hai cô gái lớn xuất dương du học bên Pháp, nhưng cô Hai cứ son sẻ hoài, không chịu đẻ cho thầy một cậu con trai để nối dõi tôn đường. Nghe nói cô Hai hiền quá hóa ra trơ, không biết thủ đoạn nào để nịch ái chồng nên thầy mèo mỡ tùm lum.

Riêng vợ chồng Cai tuần Hạp đi tha phương cầu thực ở Bạc Liêu vậy mà nhờ đất lạ đãi người dưng, họ thoát khỏi cảnh eo nghèo ót ngọt, lìa phận tá điền tá thổ để làm chủ tám chục mẫu đất. Cai tuần Hạp dùng tiền mua chức hương thân. Chị vợ khéo tay làm thêm đủ thứ mắm, thứ khô để đếm cho các ghe thương hồ nên kiếm được khá tiền. Họ vẫn còn nhớ ơn cô Thiệt Nguyện nên thường viết thơ hỏi thăm cô. Hôm được tin cô sanh con trai, họ lặn lội về Vĩnh Long để dự tiệc ăn mừng. Họ còn mừng cho mẹ con cô Thiệt Nguyện chiếc khánh vàng và cho riêng đứa nhỏ chiếc lắc vàng cỡ nửa lượng để khi lớn sẽ đeo.

Cái thành tâm tu hành của cậu Hai Luyện lẩm rẩm vậy mà chinh phục được nhiều người. Cô Bảy Cẩm Thạch và cô Tám Cẩm Vân thường đến thăm cậu, hỏi ý kiến cậu lúc hai cô gặp chuyện trặc trẹo nan giải. Cô Thiệt Nguyện cũng thường đàm đạo với cậu trong những công việc trùng tu chùa am trong vùng hay đúc chuông, tạc tượng, in kinh.

x
x x

Sư Thiệt Tánh có đưa ký giả Paul Carlson lại thăm anh mình. Anh ta độ bốn mươi ngoài, mặt mũi khôi ngô hiền hậu, thái độ điềm đạm, cử chỉ thong dong. Paul nói được tiếng Pháp nên có thể đàm đạo với cậu Hai Luyện về Phật pháp, về đất nước Hậu Giang, về vùng Năm Non Bảy Núi, và nhứt là về các ông đạo gốc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương hay gốc Hòa Hảo tu theo Mật Tông.

Paul Carlson bảo:

– Con sông Vàm Cỏ ở miền đông và con sông Cửu Long chảy qua miền tây xứ Nam kỳ là hai con sông thiêng. Nhánh Vòm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây chảy tới đâu thì đạo Cao Đài lưu hành tơi đó. Rất đỗi một con kinh ráp vào nhánh Vàm Cỏ Tây là kinh Bà Bèo khi đâm qua vùng Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho mà cũng có giáo dân Cao Đài cư ngụ. Còn sông Cửu Long bắt nguồn từ dãy Tuyết Sơn thuộc Tây Tạng nên hai bên lưu vực nó có biết bao tu sĩ tu theo Mật Tông. Khi sông chảy qua Miến Điện, Lào Cao Miên, khí thiêng mang từ nguồn không phát tác, không hiện hành. Phải đợi khi nó chảy qua vùng Năm Non Bảy Núi, khí thiêng nó mới hiện hành bành trướng. Tôi tu ở Tây Tạng bốn năm, thầy tôi là một vị lạt ma áo đỏ. Khi ông viên tịch có dặn tôi đi hành đạo theo sông Cửu Long về vùng Thất Sơn và sẽ gặp người điểm đạo cho tôi. Từ nguồn men theo sông ra cửa biển, tôi tốn mất mười năm để rồi sau hết gặp pháp sư Chơn Huệ. Ông là vị thầy thứ hai của tôi, truyền ấn chứng và pháp môn cho tôi. Tôi có pháp danh là Thiệt pháp.

Sư Thiệt Tánh nói với cậu Hai Luyện:

– Gần ngày rằm tháng bảy, em sẽ cho lập đàn tràng ở Tịnh Liên Am để cầu siêu cho người chết và cầu an cho người sống. Xin anh Hai hiệp cùng cô Thiệt Nguyện lo giùm cho.

Sư đi viếng mộ cô Hai Kim. Trước đây bốn năm. cậu Hai Luyện đã bốc mộ và cải táng cô trong cuộc đất của dòng họ cậu. Sư thắp nhang cho mộ mẹ, mộ cha và mộ bà đích mẫu, nước mắt đoanh tròng, nhớ lại tuổi thơ mà nếu chép lại chắc phải dùng nước mắt pha mực mới nói hết tình ý. Sư cũng đi viếng bà con họ hàng, dùng chánh pháp để khuyên họ ăn hiền ở lành. Sau đó sư cùng ký giả Paul Carlson đi Sài gòn lo giấy tờ.

Khi trở về Vĩnh Long, sư Thiệt Tánh bảo anh mình lập một bàn hương án chưng ngũ hoa ngũ quả và thắp đèn bảy ngọn. Sư cũng bảo hai cô Cẩm tắm rửa sạch sẽ, tụng cho xong hai bộ kinh Lương Hoàng Sám và Từ Bi Thủy Sám cùng chú tâm phát nguyện.

Cô Ba Cẩm Tú khấn vái:

– Lạy thập phương chư Phật. Xin phù hộ cho con thành tâm mến đạo, chí thành tìm về ánh đạo vàng. Con sẽ đem tiền của giúp đỡ kẻ cô thế, lo làm Phật sự, săn sóc anh con cho tới ngày anh nhắm mắt từ biệt cõi đời.

Cô Tư Cẩm Lệ cũng nguyện:

– Lạy thập phương chư Phật, lạy chư Bồ tát, lạy chư hiền thánh tăng, cho con đủ sức kham nhẫn trả ác quả. Xin Đức Quan Thế Âm Bồ tát ban cho con tấm lòng vô úy, con sẽ tu tại gia.

Hôm sau nữa, sư Thiệt Tánh đặt lên hương án tấm kiếng mà sư đã chú nguyện 108 biến Chuẩn Đề Phật Mẫu Đà La Ni bên cạnh hai chén nước mưa. Sư thắp nhang rồi bảo hai chị em mình quì trước bàn thờ. Sư đọc thần chú Mật Tông một hồi rồi bảo mỗi người bưng một chén nước uống cạn.

Cô Ba Cẩm Tú sau đó cảm thấy ruột gan mình như được gột rửa Những tham dục trong cuộc sống dật lạc như lắng xuống dần. Cùng với ý hướng hoàn lương đang manh nha, chén nước như giúp có thần lực làm lại cuộc đới sau mọi đổ vỡ. Ngày xưa khi còn học ở trường Áo Tím, cô cũng đã từng suy nghĩ về huyền thoại một con phụng hoàng tái sanh từ tro than của hài cốt nó. bây giờ, nhờ tha lực của thần chú Mật Tông, cô cảm thấy mình sẵn sàng làm theo thiên lương với niềm phấn khởi kỳ diệu. Thì đó, hai hôm sau, cò mi Maurice Carrière cho cô biết hắn sẽ đổi lên Hà Tiên. Vậy mà cô vẫn dửng dưng khi thấy hắn không rủ cô theo, không cảm thấy hờn giận tủi thân trước thói ăn ở bạc bẽo của hắn.

Cô Tư Cẩm Lệ cũng vậy. Chén nước đã làm ngọn lửa thân xác cô tắt rụi. Cô chợt thấy hơn lúc nào hết. cuộc sống thế tục đầy bon chen sao mà vô nghĩa quá. Đồng thời sự hướng thượng bừng sáng mạnh mẽ trong cõi tâm linh cô. Tuần lễ sau, cô cảm thấy đau bụng. Từ cửa mình cô, huyết từng cục, từng lọng thoát ra làm cái bụng chửa bảy tháng của cô xẹp hẳn đi. Lấy làm lạ, cô hỏi sư Thiệt Tánh.

– Bộ thầy trộn thuốc phá thai trong chén nước hay sao? Bây giờ cái thai hóa huyết chui ra, vậy kể như tui đã sanh lần thứ bảy rồi.

Sư Thiệt Tánh mĩm cười:

– Làm gì có chuyện sát nhơn đó! Thai của chị là quái thai. Em đã đọc thần chú khuyến dứt nó thoát khỏi vòng oan oan tương báo. Em chỉ hỏi gặng nó, nếu nó bằng lòng làm con chị thì để cho chị sanh nó bình thường và nuôi nó tới ngày khôn lớn. Còn nếu nó không chịu thì nên hóa huyết mà chui ra ngoài và vĩnh viễn không theo chị báo oán nữa. Việc hóa huyết là do nó chọn lựa đó thôi.

Lật bật mà ngày rằm đã tới. Cô Thiệt Nguyện, ông Đốc Hạnh, sư cô Diệu Trí, hiệp với ông Hương cả Hành lập đàn tràng, tổ chức lễ Vu Lan trọng thể tại Tịnh Liên am. Vợ chồng ông Đốc Hạnh, vợ chồng ông Huyện Khải từ Tiểu Cần sang, vợ chồng ông Bác vật Cảnh từ Sài gòn về. Bác sĩ Lê Thạnh Mẫu bỏ ra một số tiền lớn để nhà trù dọn tiệc chay đãi thiện nam tín nữ đến dưng hương. Các bà các cô bận rộn lo việc bánh trái, cỗ bàn túi bụi.

Chiều ngày mười bốn là lễ tụng kinh Vu Lan và kinh Địa Tạng. Tối đến là lễ huê đăng. Thiện nam tín nữ đi dưng hương thả xuống rạch quanh am những búp đèn hoa sen. Sáng ngày rằm, lễ phóng sanh chim cá, lễ tụng kinh cầu an và kinh cầu siêu bắt đầu. Sau đó là lễ thí thực. Dùng cơm trưa xong, các Phật tử dự buổi thuyết pháp do sư Thiệt Tánh đảm nhiệm.

Tới ba giờ chiều, mọi lễ lạc chấm dứt. Các Phật tử lần lượt ra về. Sư Thiệt Tánh mời anh và hai chị em mình ở lại am đêm nay để xem chuyện lạ.

Khoảng 5 giở chiều, trai tráng thu dọn đàn tràng xong xuôi, ai về nhà nấy. Các bà các cô rửa chén dĩa nồi niêu và lau chùi căn bếp xong cũng rút lui hết. Cô Ba Cẩm Tú nấu một nồi cháo chay để mọi người giải lao. Trong am giờ đây chỉ còn ông bà Hương cả Hành, ông Đạo Chuối, sự Thiệt Pháp, sự Thiệt Tánh cùng anh em cậu Hai Luyện. Sư Thiệt Tánh lại đặt bàn hương án ở giữa am, bày hương đăng trà quả. Sau đó sư bước vào trung đường bảo mọi người:

– Hôm nay tôi sẽ cùng sư Thiệt Pháp triệu thỉnh những vong hồn có bài vị thờ tại am về đây luận việc tội phước báo ứng cùng việc nhơn quả trả vay. Xin quí vị chớ có kinh hãi khi thấy điều lạ.

Rồi đó sư Thiệt Pháp và sư Thiệt Tánh bắt đầu làm lễ chiêu hồn, triệu thỉnh âm binh. Trên nền trời màu xanh nước biển, trăng tròn và sáng vàng vặc. Trong khuôn viên của am, bốn bề quạnh quẽ, tàn cây, khóm chuối tô những khối bóng bí mật trong biển trăng. Gió lúc đầu reo từng đợt phơi phới. Nhưng rồi câu thần chú, lời kinh, tiếng hú đầy âm vang rờn tợn làm cho ánh trăng trở nên lạnh lẽo, tiếng gió hóa ra thê thiết và cảnh vật chung quanh như huyền ảo và rờn rợn bóng âm hồn…
Khi cuộc chiêu hồn chấm dứt, nhị vị pháp sư trở về bàn tròn với mọi người. Ông Đạo Chuối tắt ngọn đèn măng- sông trong chánh điện, rồi cùng mọi người chong mắt ngó ra sân, chỗ đặt bàn hương án.

Một trận gió tanh nồng mùi máu thổi tới, một người mặc áo đen cụt đầu, tay xách thủ cấp mình, hổn hển nói:

– Tôi là thần Hắc Giao đại vương. Bởi ông Kinh lý Luyện tham vàng nên tôi bị cụt đầu. Nay nhờ nhị vị pháp sư cầu siêu nên tôi sẽ được đầu thai làm con Nam Hải Long Vương.

Ông ta ráp đầu vào cổ rồi biến đi. Một người đàn bòa mặc áo trắng, mặt mày xanh chành, theo gió hiện đến, bảo:

– Tui là Đỗ thị Thoại Huê, vì uống lầm thuốc phá thai của ba người con ông Bang biện Hưỡn mà vong mạng. Nhờ pháp sư Thiệt Tánh khuyên dứt nên tui dẹp bỏ oán thù, sẽ theo đức Thiên Hậu chùa Minh Hương cứu nhơn độ thế để mai sau thác sanh vào cảnh giới tốt lành.

Hình bóng chị mờ dần để thay vào là một người đờn bà trạc ba mươi tuổi, dáng dấp yêu kiều. Bà ta thở khò khè một cách khó nhọc:

– Tui tên Nguyễn Trinh Thục, con gái ông Huyện Tịnh ở Phú Nhuận. Chồng tôi là thầy kiện Trần Hảo Hiệp. Bởi con vợ bé của chồng tui là con Tư Cẩm Lệ ghen ngược, mướn Thạch Lọn thư da trâu vô bụng tui nên tui chết tức tưởi. Suốt tám năm nay tui a tòng với đứa ma ranh báo oán nó. May nhờ có nhị vị pháp sư soi rõ, tui mới vỡ lẽ rằng hồi kiếp trước tui đã ác độc dùng bột tì sương đầu độc con Tư nên kiếp này nó hại mạng tui để báo thù. Vậy để chấm dứt chuyện oan oan tương báo, tui xin tìm nẻo đầu thai, chớ làm oan hồn thì thường chịu đói khát, lạnh lẽo.

Hồn cô Tư Thục vừa biến mất thì gió lốc nổi lên, một áng sương như khói đặc thoảng qua mang theo tiếng khóc tỉ tê. Rồi khi sương tan thì một cặp vợ chồng trung niên hiện ra. Ông chồng nói:

– Tui là Bang biện Vương Văn Hưỡn, vợ tui là Trịnh Thị Thiệt. Bởi vợ chồng tui ăn ở ác đức nên bị sa địa ngục, chịu khổ hình qua một tiểu kiếp rồi mới đi đầu thai được. May nhờ có thằng con trưởng tui cải tà qui chánh, thường tụng kinh Vu Lan và kinh Địa Tạng cho cha mẹ nó. Lại nữa thằng con út tôi xuất gia, thường tụng thần chú Mật Tông cho vợ chồng tui nên nghiệp ác của tụi tui tiêu bớt khá nhiều. Tụi tui chỉ phải chịu khổ hình chừng 5 năm nữa rồi sẽ được đầu thai.

Ông bà Bang biện Hưỡn biến mất. Trăng sáng vằng vặc bỗng chiếu xuống sân một luồng như dải lụa bạch. Một người đàn bà mặc áo trắng, sắc diện phúc hậu đoan trang hiện ra, kể lể:

– Tui là Phùng thị Kim, nàng hầu ông Bang biện Hưỡn và là mẹ của pháp sư Thiệt Tánh. Sau khi phù hộ con tui lên núi Cô Tô tu hành, đáng lẽ tui được đầu thai vào gia đình lương thiện, nhưng đức Cứu Thiên Huyền Nữ cảm thương thói nhẫn nhục của tui, cho tui làm thị nữ hầu hạ ngài để rồi kiếp sau tôi sẽ thác sanh vào quốc độ tốt lành hơn cõi uế độ hồng trần nầy.

Luồng sáng mờ dần để từ bóng tối bước ra một người đàn ông mặt thỏn, râu ngạnh trê. Đương sự khai:

– Tui tên Bùi Văn Khói tức Mười Khói, chuyên làm bùa chú. Bởi tôi ếm trấn Hắc Giao Đại Vương nên ổng sai con sấu ở sông Cổ Chiên táp cụt tay tui khiến tui mất máu chết. Hồn tui không thể đi đầu thai được mà phải lẩn quẩn theo phò con sấu đó. May nhờ nhị vị pháp sư lập đàn giải oan nên đêm nay tui sẽ tới quán cháo lú của Mạnh Bà bên cầu Nại Hà ăn cháo xong mới đi đầu thai.

Thầy Mười Khói vừa biến mất thì một luồng gió tanh tưởi thổi đến. Mặt trăng bị cụm mây đen án ngữ nên cảnh vật tối sầm lại. Khi cụm mây trôi đi thì một người mập mạp, mình mây ướt sũng hiện ra, nói:

– Tui là con cá nược đực thành tinh, thường gây chứng bịnh mắc đàng dưới cho các bà các cô bên lưu vực sông Bà Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, trong đó có cô Út Ngọc An nữa. Vì ông bà Chín thỉnh ông Đạo Chuối và cô Thiệt Nguyện tụng kinh Dược Sư nên tui bị các tướng Dược Xoa đánh đuổi rồi bị Nam Hải Long Vương đánh chết, hồn sa vào địa ngục A Tì.. May nhờ tui đã từng cứu vớt ông Đạo Chuối và sư Thiệt Tánh hồi kiếp trước khỏi chết chìm trên sông nước nên họ tụng kinh cho tui thường xuyên. Giờ tui đã thoát khỏi địa ngục A Tỳ chỉ còn ở ngục phanh thây chừng mười năm nữa sẽ được đi đầu thai.

Hồn con thủy quái biến đi thì một người đàn ông ở trần, tay và ngực đầy lông lá khét nghẹt hiện đến, buồn rầu nói:

– Tui là con chó ngao thành tinh, đêm đêm lén vô phòng cưỡng dâm bà Bành Thị Mười Hai, nhưng rồi bị ông Đạo Chuối đào mả khiến tui phải chết luôn. Hồn tui bị đọa địa ngục phân dơ, đàm nhớt tanh hôi. May nhờ được nghe kinh nên tui đã thoát khỏi địa ngục, sẽ đầu thai làm chó nhà nghèo hai kiếp, kiếp thứ ba làm chó nhà giàu cho sung sướng tấm thân.

Gió càng lúc càng mạnh, cuốn lá vàng trên sân lào xào, xua tan mùi hôi hám, tanh tưởi của các thú vật thành tinh kia đi. Trăng đã ngả về tây, sáng long lanh ánh nước. Rồi một cụm tường vân đẹp như ren thêu ôm quanh mặt trăng. Một mùi hương lạ sực nức khắp khuôn viên am. Một mỹ nhân áo trắng vàng đeo ngọc khảm chấp chới, hương xông xạ ướp ngạt ngào, tay cầm bình ngọc xanh hiện ra:

– Tui trước kia là con tinh cây cẩm lai, có làm một vài việc thiện nên tui được thác sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương làm cây quỳnh trổ bông ngũ sắc cho chư tiên cúng Phật. Giờ, tui hiện về đây để chúc mừng các con ông Bang biện Hưỡn đã quyết tâm phá mê trừ khổ.

Mỹ nhơn kê miệng vào bình ngọc uống một ngụm nước rồi phun thành một áng sương thơm mát càng lúc càng tỏa rộng. Khi sương tan thì đương sự cũng biến mất. Trên không trung văng vẳng tiếng nói trong trẻo và vang lộng như chuông ngân:

– Ngày mai các huê kiểng trong khuôn viên này sẽ thạnh phóng, báo hiệu Phật pháp nơi vùng đất Vãng được lưu hành xa rộng dài lâu.

Khi tiếng nói im thì pháp sư Thiệt Tánh hỏi vọng ra:

– Còn ai nữa không? Xin mời ra hội kiến!

Một giọng nói non nớt trổi lên:

– Có tui đây!

Một đứa nhỏ cỡ bốn, năm tuổi hiện ra, nhìn về phía cô Tư Cẩm Lệ:

– Có một kiếp nọ tui là con cô Tư đây. Tía tui vừa chết, cổ tái giá với một tên hào phú kia. Gã này không thích vợ có con riêng nên cô Tư trấn nước cho tui chết. Bởi đó nên tui theo báo oán cổ hoài. Giờ đây, cô Tư đã quyết tâm cải tà qui chánh nên tui cởi bỏ oán hận, hóa huyết chui ra, kết thúc mối thù truyền kiếp cho xong.

Nói xong đứa trẻ vói tay cười khanh khách rồi biến mất. Lúc đó gà trong xóm bắt đầu lác đác gáy hiệp nhứt. Trên trời sao sáng vẫn nhấp nháy. Mặt trăng sáng quạnh hiu treo lơ lửng ở phương tây. Mùi bông lài vẫn thơm sực nức bên thềm.

Bỗng một cặp vợ chồng tuổi trạc ba mươi ngoài, dắt một đứa nhỏ cỡ mười tuổi, mặt mày tươi rói. Người chồng bảo:

– Tụi tui là gia đình người thợ rèn ở gần Cầu Lầu bị sét đánh chết. Bởi tui có làm chút ơn với sư Thiệt Tánh nên sư thường giải kinh Thập Nhị Nhơn Duyên cho tụi tui nghe, giờ tụi tui sắp thác sanh lên cung trời Đao Lợi để hưởng ngũ dục cùng dân quốc độ ấy.

Gió lốc nổi lên, cả ba biến mất. Trời trong trăng tỏ hơn bao giờ hết. Sư Thiệt Tánh dẹp bàn hương án, khiêng vào trong. Ba anh em cậu Hai Luyện chắp tay niệm Phật không ngớt. Cô Tư Cẩm Lệ nước mắt ràn rụa bảo sư Thiệt Tánh:

– Bạch đại đức, gia đình mình gặp bao tai biến mà cuối cùng còn có thể nương theo đạo pháp chính là nhờ đại đức vậy. Chị em tui từ đây sẽ vững lòng tu hành và làm kẻ trợ tu cho anh Hai.

Sư Thiệt Tánh chỉ chắp tay niệm Phật. Ông Đạo Chuối bảo:

– Dưới nhãn quan người đời thì gia đình ông Bang biện Hữu suy sụp, ba người con dòng chánh xuống dốc thảm thê. Nhưng qua cặp mắt giác ngộ, chưa chắc có gia đình nào hơn gia đình ông kể từ đây.

Ông Hương cả Hành tiếp lời:

– Cô Thiệt Nguyện thì từ đạo trở về đời, côn hai cô Cẩm đây từ đời trở về đạo. Thiện tai! Thiện tai!

Trời sáng trắng bên ngoài. Nắng bắt đầu lên. Bỗng sư Thiệt Pháp chỉ ra sân:

– Quí ông quí bà xem kìa!

Bồn hoa giữa sân gồm bông cúc, sao nhái, nở ngài, móng tay, huệ lan tưng bừng nở. Bên thềm những khóm ngọc đơm trắng hoa thơm ngát. Ngoài xa, các cây sứ cùi, cây dành dành trổ bông trắng, bằng lăng trổ hoa tím, ô môi hoa hường, điệp tây hoa đỏ. Và kìa những khóm trang đỏ, trang hường, trang vàng, trang trắng trồng giáp mé vườn cũng trổ bông ê hề. Nơi vòm cổng, màu vàng bông huỳnh anh chói rực giữa màu trắng và đỏ của giàn bông giấy. Ông Hương cả Hành theo chân ông Đạo Chuối và nhị vị pháp sư bước ra sân, tới mấy gốc quỳnh trồng trong chậu thì thấy mỗi cây đã trổ bảy búp lớn cỡ bụm tay. Ông Đạo Chuối niệm Phật rồi bảo:

– Đây là nhờ thần lực của tinh linh cây quỳnh trên cõi trời Tứ Thiên Vương vậy.