Chương 11 – 12

Một ngày trôi qua, một đêm rồi lại một ngày nữa, bọn chúng vẫn phóng vội vã về phương Nam, chỉ dừng lại trong các khe cạn nghỉ những đợt ngắn để không làm bọn lạc đà quá mệt, cho chúng uống nước và ăn, đồng thời chia nhau thức ăn nước uống. Vì sợ bị đuổi theo, chúng quành nhiều hơn nữa về phía Tây, còn nước thì trong một thời gian nhất định chúng không phải lo lắng nữa. Dù mưa kéo dài không tới bảy tiếng đồng hồ, nhưng rất to, cứ như là mây bị đổ xuống sa mạc vậy, nên cả Iđrix, Ghebơrơ lẫn bọn người Bêđuin đều biết rõ rằng, dưới các lòng khe cạn và tại những chỗ mà đá tạo thành các hõm thiên nhiên, trong vòng vài ngày tới, vẫn có thể tìm thấy đủ nước không những cho người và lạc đà uống, mà còn để dự trữ nữa. Như thường lệ, sau cơn mưa lớn, thời tiết lại đẹp vô cùng. Bầu trời không một gợn mây, không khí trong suốt đến nỗi mắt thường có thể trông được rất xa. Về đêm, trời đầy sao long lanh và nhấp nháy như hàng ngàn viên kim cương. Cát sa mạc phả làn hơi lạnh tỉnh người.

Nhữ ng cái bướu lạc đà đã trở nên nhỏ hơn, nhưng vì chúng được nuôi ăn tốt, nên chúng vẫn”harde” nói theo ngôn ngữ Ả Rập, nghĩa là vẫn sung sức và vẫn chạy rất hăng, khiến cho đoàn người tiến về phía trước với tốc độ chỉ chậm hơn không đáng kể so với ngày đầu tiên rời khỏi Garắc Xuntani. Xtas ngạc nhiên nhận thấy rằng, trong một số khe cạn, trong các hẽm đá tránh được mưa, bọn Bêđuin lấy ra những bọc ngô và chà là dự trữ. Em liền hiểu ra rằng, trước khi bắt cóc chúng, bọn kia đã tiến hành một số công việc chuẩn bị nhất định và mọi việc đã được thoả thuận ngay từ đầu giữa mụ Phátma, Iđrix và Ghebơrơ cùng bọn Bêđuin. Cũng dễ đoán ra rằng, hai tên Bêđuin vốn ủng hộ và ngưỡng mộ Mahơđi, chúng muốn đến với y, nên đã bị bọn Xuđan kéo tham gia vào âm mưu này. Chung quanh vùng Phaium và gần Garắc Xuntani có rất nhiều dân Bêđuin, họ cùng với trẻ con và lạc đà đi du mục trên sa mạc, và thường tới Mêđinét cũng như các ga xe lửa để kiếm ăn.

Song trước đó, Xtas chưa lần nào gặp hai tên này, và bọn chú ng có lẽ cũng chưa hề tới Mêđinét, vì chúng không biết Xaba.

Cậu bé có nghĩ đến việc thử mua chuộc chúng, nhưng chỉ nhớ lại những tiếng kêu thét đầy nhiệt tình của chúng khi nghe nhắc tới tên Mahơđi, cậu bé liền hiểu ngay rằng đó là chuyện không thể thực hiện được. Tuy nhiên, cậu bé không chịu buông xuôi tay bất lực tuân theo mọi sự rủi may, vì trong tâm hồn non trẻ này tàng trữ một nghị lực đáng kinh ngạc, do những thất bại vừa rồi hun đúc thêm lên. “Tất cả mọi chuyện mình định làm, – em tự nhủ, – đều kết thúc bằng việc mình bị chúng nó nện. Nhưng dù cho ngày ngày chúng nó quật mình bằng roi, thậm chí chúng có giết mình đi nữa, mình sẽ không ngừng tìm cách cứu Nen và bản thân mình ra khỏi tay lũ khốn nạn này. Nếu như những người đuổi theo tóm được thì càng hay, nhưng còn mình, mình sẽ hành động như hoàn toàn không hề trông đợi vào họ”. Và nhớ lại những gì đã phải chịu đựng, nghĩ tới bọn phản bội và tàn ác, sau khi đã giằng được khẩu súng còn đấm đá em, tim em sục sôi căm phẫn và cay cú. Em cả m thấy không những bị thua cuộc mà còn bị bọn chúng làm nhục.

Song, trước hết, em cảm thấy Nen bị xúc phạm, và cảm giác này cùng với nỗi đắng cay thiêu đốt lòng em sau sự thất bại vừa rồi, biến thành lòng căm thù không khoan nhượng đối với hai tên người Xuđan. Em nhiều lần nghe cha nói, rằng lòng căm thù khiến cho người ta mất tỉnh táo, và chỉ có những tâm hồn không thể làm được điều gì tốt hơn mới chịu sự điều khiển của lòng căm thù mà thôi, song hiện tại em không sao chế ngự nổi tình cảm ấy trong lòng và không thể che giấu người ngoài.