Chương 135: Tống Biệt

Dương Thu Trì đối với hình phạt “Lưu tam thiên lý, cự dịch tam niên, phụ tịch đương địa” dành cho mẹ con Bạch phu nhân thật ra chẳng có khái niệm gì. Tống tri huyện cà lăm cà lặp giải thích cho hắn cả buổi hán mới biết các hình phạt chủ yếu trong xã hội phong kiến Trung quốc có si (đánh roi), trượng (đánh hèo/gậy lớn, thường gây tàn phế hoặc chết), đồ (bắt làm tôi tớ. Thật ra chia làm hai loại: tội đồ có ký – phạt giam, và tội đồ không có ký – bắt làm khổ), lưu (lưu đày, đay đi biệt xứ hoặc có thời hạn) và tử (bắt chết). Tron đó hình phạt lưu đày gần như là một hình phạt tử hình, chính là việc đày ra biên cương hoặc ra những nơi hoang vu ma thiên nước độc để làm khổ dịch.

Quan niệm về cố thổ trong xã hội Trung quốc cổ đại rất mạnh, rời tỉnh ly hương là chuyện khiến người ta thống khổ tột cùng. Hình phạt lưu đày chính là vì muốn người ta chịu cảnh thống khổ này, đồng thời còn chịu sự khổ dịch ở nơi bị lưu đày đến, rất giống với chuyện đày ải đến các nông trường ở hoang mạc vùng Tân cương để cưỡng chế lao động. Tuy nhiên, so với những loại tù có kỳ hạn hay tù chung thân thì loại lưu đày ở thời cổ đại này ngắn hơn rất nhiều.

Trong năm loại hình phạt, thì “đồ” không phải là loại giam giữ bát đoạt tự do trong tù như thời hiện đại, mà là hạn chế sự tự do nhân thân trong một phạm vi khổ dịch nhất định kèm theo cưỡng bách lao động. “Lưu” chính là dựa trên cơ sở này, có điều đưa phạm nhân rời khỏi quê hương cách đó tới mấy nghìn dặm để tiến hành xử phạt.

Như vậy, cái gọi là “Cư dịch tam niên, phụ tịch đương địa” có ý tứ là, trong thời hạn lưu đày ba năm phải chịu khổ dịch, sau khi mãn kỳ hạn này thì có thể khôi phục tự do, nhưng hộ khẩu vẫn ghi ở nơi đó.

Tuy hình phạt “Lưu” và “Đồ” ở Minh triều có thể dùng cách nạp tiền chuộc để được miễn, nhưng nhưng trong tình huống những người chịu hình phạt có liên quan đến phản loạn này, thì không ai được phép được dùng. Do đó, tử tội của mẹ con Bạch phu nhân tuy được miễn, nhưng tội sống khó tránh.

Trong thư của Lý công công có nói địa điểm đày hai mẹ con Bạch Tố Mai là ở Vân Nam, còn nơi cụ thể thế nào thì án chiếu theo quy định chờ đến Vân Nam mới do quan đề hình án sát ở đó xác định.

Tối hôm ấy, trong trạch viện của Tống phu nhân, Dương Thu Trì bày mấy bàn tiệc mừng nên duyên tần tấn với Tống Tình, rồi cùng Mã Độ, Ngưu bách hộ, Tống tri huyện và mọi người thân cận ăn uống no say một trận, sau đó mới tiến vào cùng Tống Tình động phòng.

Đêm tân hôn, Tống Tình quả nhiên dùng máu đào tươi nguyên chứng minh cho thân phận thanh bạch của mình, càng khiến cho Dương Thu Trì yêu thương nàng hơn.

Dương Thu Trì đề xuất với Tống phu nhân là sẽ tiếp rước bà cùng về sống với hai vợ chồng. Tuy nhiên, Tống phu nhân kiên quyết không chịu, nói theo con gái về nhà chồng thì còn ra thể thống gì nữa.

Vấn đề này thì Dương Thu Trì cũng không hiểu, vì ở thời cổ đại, con gái xuất giá rồi như là bát nước tạt đổ đi. Chỉ cần con gái gả về nha chồng, coi như không còn liên hệ cơ bản nào về pháp luật và nghĩa vụ với nhà cha mẹ (ngoại trừ phục tang). Nếu như Tống phu nhân muốn ở chung với con rể và con dâu, thì sẽ bị xã hội chê cười.

Tống tri huyện cũng cảm thấy lưu Tống phu nhân già cả một mình ở lại Ứng thiên phủ là không phù hợp, nên đề xuất bà về ở chung nhà với mình. Đối với kiến nghị này, Tống phu nhân không phản đối gì mấy, bởi vì bà gả cho ca ca của Tống tri huyện, coi như là người trong một nhà, coi như là quyến thuộc của phu quân, cũng là chuyện nằm trong tình lý.