Chương 20

Xếp hàng ăn trưa, tôi nhìn thấy ở phía trước một chiếc khay bay vèo trong không khí, đám mây chất dẻo màu xanh trút xuống một trận mưa sữa, đậu cô ve và xúp rau. Sefelt đổ người ra khỏi hàng trên một chân, hai tay trắng hắn vung lên, thân hình cong ưỡn và ngã người ra sau, cặp mắt trợn ngược trắng dã. Đầu hắn đập xuống sàn gạch nghe như tiếng một tầng đá ném xuống nước, và người hắn vẫn cong lên cứng đờ như một chiếc cầu nhỏ, giần giật, lắc lư. Scanlon và Fredrickson nhào đến định đỡ hắn dậy nhưng tên hộ lý cao lớn gạt họ ra, lôi từ trong túi sau ra một cái que dẹt, quấn băng dính quanh nó và nhúng vào một thứ nước nâu nhờ. Gã vạch miệng Sefelt đút vào giữa hai hàm răng, và tôi nghe tiếng chiếc que keo lắc cắc vì bị Sefelt nhai vỡ. Miệng tôi còn nếm được những mảnh thủy tinh. Cơn co giật của hắn dịu đi rồi lại mạnh lên; đạp hai gót chân xuống đất sàn nhà, hắn uốn cong người thành chiếc cầu rồi lại ngã xuống – dựng lên rồi ngã xuống chầm chậm, từ từ, tới khi mụ Y tá Trường bước vào thì người hắn đã nhũn thành một vũng nhờn nhờm màu xám.

Mụ chắp hai tay trước ngực như đang cầm một ngọn nến, nhìn phần còn lại của Sefelt đang chảy ra từ ống quần, ống tay áo. “Đây là ông Sefelt?” mụ hỏi đứa hộ lý.

“Chính ông ta,” hắn vừa trả lời vừa gắng sức rút chiếc đũa ra. “Ông See-fel.”

“Vậy mà ông Sefelt đây vẫn khăng khăng mình không cần uống thuốc nữa ” mụ gật đầu mà lùi lại một bước vì Sefelt đã chảy ra gần đến mũi giày trắng của mụ. Ngẩng đầu nhìn các con bệnh đang tụ tập thành vòng tròn xung quanh, mụ gật đầu nhắc lại. “… không cần uống thuốc nữa ” Bộ mặt mụ cùng lúc mỉm cười, chua xót, kiên nhẫn và kinh tởm – một vẻ mặt đã được luyện kỹ.

McMurphy chưa bao giờ chứng kiến cảnh này. “Ông ấy làm sao?” hắn hỏi.

Mụ nhìn vũng nước nhờn, không quay lại McMurphy. “Ông Sefelt mắc bệnh động kinh, thưa ông McMurphy. Nếu không nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ ông ta có thể lên cơn co giật bất cứ lúc nào. Sefelt biết rõ điều này hơn ai hết. Chúng tôi đã báo trước với ông ta rằng nếu không tiếp tục uống thuốc ông có thể nguy đến nơi. Nhưng ông ta vẫn bướng bỉnh hành xử thiếu suy nghĩ.”

Fredrickson lông mày dựng ngược, từ trong hàng bước ra. Hắn người gầy gò, xanh xao như thiếu máu, máu tóc màu bạch kim, lông mày bạch kim như hai đường mảnh, cằm dài, và cứ đôi lúc lại lên cơn cau có, giận dữ như Cheswick thường cố gắng thuở nào – la hét như nữ y tá, quở mắng tụi hộ lý, dọa sẽ đi khỏi bệnh viện chết giẫm này! Chúng cứ để hắn chửi bới, để hắn dứ nắm đấm, cho đến khi chúng nguôi xuống chúng mới bảo nếu ông đã nói xong, ông Fredrickson, chúng tôi sẽ làm thủ tục xuất viện cho ông ngay; rồi đi cá cược ngay trong buồng kính, xem bao lâu sau hắn sẽ sẽ gõ gõ lên mặt kính với bộ mặt ủ dột và xin mụ Y tá Trưởng tha lỗi và mong bỏ qua những gì tôi đã nói trong lúc nóng,còn mấy cái đơn từ đó thì thôi cứ cất đi, được không?

Sán đến mụ y tá Fredrickson giơ nắm đấm dọa: “À thế đấy! Thế đấy! Các người định hành quyết Seef cứ như hắn làm thế để chơi xấu các người hay sao?”

Mụ đặt bàn tay lên vai hắn vẻ dỗ dành và nắm đấm tự buông ra: “Không có gì đáng ngại, Bruce. Bạn ông sẽ qua khỏi. Chúng ta có thể thấy ông ta không chịu uống Dilantin. Tôi chỉ băn khoăn không biết ông ta đã làm gì với nó.”

Mụ ta biết rõ không kém ai là Sefelt thường ngậm thuốc vào mồm sau đó đưa cho Fredeickson. Sefelt không muốn uống vì hắn cho chúng có “những tác dụng phụ giết người”, còn Fredrickson lại muốn dùng những hai liều, vì hắn sợ động kinh hơn sợ chết. Mụ Y tá Trưởng biết hết, nghe giọng mụ là hiểu, nhưng nhìn kìa, mụ hiền lành, tốt bụng, thông cảm quá, ai cũng phải nghĩ là mụ chẳng biết gì chuyện của Fredrickson và Sefelt.

“Thế đấy,” Fredrickson nói, nhưng hắn không thể lên cơn thịnh nộ lần nữa. “Thế đấy, bà đừng có làm ra vẻ mọi sự chỉ đơn giản là uống hay không uống. Bà biết rằng Seef rất lo ngại về ngoại hình của mình và nghĩ đám phụ nữ coi anh ta là một quái thai, và biết Seef nghĩ, vì Dilatin…”

“Tôi biết,” mụ nói rồi lại sờ vào tay hắn. “Sefelt còn đổ tội cho thuốc khiến anh ta đang hói dần. Tội nghiệp ông bạn già.”

“Anh ta không phải là ông già!”

“Tôi biết, Bruce, sao ông giận dữ thế? Tôi không thể hiểu điều gì giữa hai người đã khiến ông bênh vực Sefelt đến thế?”

“A, khỉ gió!” Hắn nói và dúi mạnh hai nắm đấm vào túi.

Mụ gập người phủi sạch một chỗ dưới chân rồi quỳ xuống nắn lại Sefelt cho ngay ngắn. Mụ bảo đứa hộ lý ở lại trông ông bạn già còn mụ sẽ đi gọi cáng tới và khiêng Sefelt vào phòng ngủ để hắn có thể nghỉ ngơi cho tới chiều. Khi đứng dậy mụ vỗ vào tay Fredrickson, và hắn làu bàu, “Bà biết không, tôi cũng phải uống Dilantin. Và tôi hiểu Sefelt đang gặp phải loại gì. Theo nghĩa, vì thế, và…mẹ khỉ…”

“Tôi hiểu, Bruce, rằng cả hai đang trải qua chuyện gì. Nhưng dù có vất vả thế nào đi nữa thì cũng dễ chịu hơn thế kia. Ông thấy không?”

Fredrickson nhìn theo tay mụ chỉ. Sefelt đã được sắp xếp lại giống trước kia đến một nửa, thân thể phình lên, xẹp xuống theo nhịp thở, khò khè. Chỗ đầu bị đập xuống sàn sưng vù lên, từ miệng hắn sùi ra một thứ bọt màu đỏ quanh chiếc que của tên hộ lý, tròng mắt hắn từ từ trở về chỗ và hạt nhãn dần dần hiện ra. Hai cánh tay hắn bị đóng chặt xuống nền nhà, lòng bàn tay ngửa lên phía trên, các ngón co quắp hết nắm lại mở nom giống những đứa bị đóng vào bàn chữ thập trong phòng Đột Tử, khói bốc lên từ lòng bàn tay dưới tác dụng của dòng điện. Sefelt và Fredrickson chưa bao giờ vào phòng Đột Tử. Cả hai được lắp ráp để sinh ra dòng điện riêng và tích lại ở cột sống, có thể phát động từ xa nhờ một hệ thống điều khiển có nút bấm trên cánh cửa sát buồng kính mỗi lúc chúng đi chệch lối – đang tới đoạn hay nhất của cuộc chuyện đùa tục bỗng người chúng đờ ra, cứng lại như bị chọc vào xương cùng. Đỡ phải phiền phức đưa chúng vào phòng đó.

Mụ y tá lắc nhẹ vào tay Fredrickson như đánh thức hắn và nhắc lại, “Thậm chí, nếu tính đến cả những tác dụng không tốt, chẳng lẽ ông không nghĩ rằng uống thuốc vẫn hay hơn là nằm thế này?”

Nhìn xuống sàn, Fredrickson nhướng đôi lông mày trắng làm như lần đầu tiên trông thấy hình ảnh chính mình ít nhất một lần mỗi tháng. Mụ cười và vỗ nhẹ vào tay hắn rồi bước ra, đến cửa còn ngoái lại nhìn tụi Cấp tính bằng một cái nhìn quở trách vì chúng tụ tập lại và nhòm ngó một việc như thế; khi mụ đã đi Fredrickson run lẩy bẩy cố nhếch mép cười.

“Không hiểu sao tao lại nổi nóng với bà ấy… ý tao là bà ấy có làm điều gì khiến tao phải khùng lên như thế đâu, phải không?”

Hắn không phải muốn người khác trả lời, mà đúng hơn đó là tự hiểu ra mình không thể tìm ra nguyên nhân của sự giận dữ. Hắn lại run rẩy và tìm cách chuồn khỏi đám đông. McMurphy bước ra hỏi nhỏ xem chúng đã dùng thuốc gì.

“Dilantin, thuốc chống co giật, nếu mày muốn biết.”

“Nhưng không tác dụng sao?”

“Tao nghĩ là có, vẫn có nếu mày chịu uống.”

“Thế việc gì phải họp chợ, cãi nhau uống hay không?”

“Nhìn đây, nếu mày quá tò mò! Đây, vì sao lại phải họp chợ,” Fredrickson dùng hai ngón tay kéo môi dưới xuống, lộ ra những chiếc răng dài, trắng, cắm trên cái lợi mềm nhẽo đã mất hết máu. ” Lợi đây này”, hắn nói, không thả môi ra, “phị giữa gia phì dilantin. Phà mỗi lần lên cơn nghiến giăng là giụng hết (1), chưa kể…”

Có tiếng sột soạt trên sàn nhà. Tất cả quay nhìn Sefelt đang phì phò rên rỉ, gã hộ lý vừa lúc đó lôi được chiếc que cùng với hai cái răng ra khỏi miệng Sefelt.

Scanlon cầm lấy khay thức ăn rời đi và nói, “Cuộc đời khốn nạn, uống cũng chết, không uống cũng chết. Cùng đường rồi, tao nói vậy đấy.”

McMurphy đáp, “Ừ, tao hiểu mày”, và hắn nhìn khuôn mặt đang dần lấy lại hình dạng của Sefelt. Chính mặt hắn cũng bắt đầu nhuốm đầy nỗi kinh hoàng méo mó.

__________

1. bị rữa ra vì dilantin. Và mỗi lần lên cơn nghiến răng là rụng hết.

Sau một vài ngày không biết hỏng hóc gì, hệ thống thiết bị lại được chúng sửa lại như cũ. Thời gian biểu lại chạy đều răm rắp: sáu giờ ba mươi báo thức, bảy giờ ăn sáng, tám giờ phát tranh xếp hình cho tụi Kinh niên và bài cho tụi Cấp tính. Trong phòng kính tôi lại thấy những ngón tay màu trắng của mụ y tá lướt trên bảng điều khiển.

Đôi lúc chúng đưa tôi đi cùng tụi Cấp tính, đôi lúc thì không. Một lần chúng cho tôi theo khi tụi kia đến thư viện, tôi đi thẳng vào gian kỹ thuật, đứng ngắm đầu đề những quyển sách về điện tử mà tôi đã quen thuộc từ những năm trong trường cao đẳng; tôi nhớ, trong đó là những sơ đồ, phương trình, công thức…- những thứ vững chắc, đáng tin cậy và an toàn.

Muốn giở một cuốn ra nhưng tôi lại sợ. Tôi sợ không dám làm bất cứ chuyện gì. Tôi thấy mình đang bơi trong lớp không khí vàng bụi bặm của gian phòng, lơ lửng giữa trần và sàn. Những chồng sách đung đưa ngay trước mặt, lộn xộn, ngoằn ngoèo, mỗi cái ngả về một hướng. Một chiếc giá nghiêng sang phải, chiếc khác lại lắc sang trái. Một vài giá sách như chực đổ về phía tôi, chẳng hiểu sao không có quyển nào bị trượt ra cả. Các kệ sách thi nhau dâng lên, dâng lên đến hút tầm mắt; những chồng sách chênh vênh đóng đinh vào nhau nhờ những mảnh ván, được chống bằng những cây sào hay tựa vào thang xếp, ngổn ngang xung quanh. Nếu tôi lấy một quyển, có giời biết sẽ xảy ra thảm họa gì.

Tôi nghe có tiếng chân người bước vào, đó là tên hộ lý ở khoa tôi dẫn vợ Harding tới. Chúng vừa đi vừa chuyện trò đùa cợt với nhau.

“Dale”, gã hộ lý gọi Harding đang dán mắt vào một quyển sách. “Ông nhìn xem ai đang đến thăm ông này. Tôi nói với cô ấy đang ngoài giờ viếng thăm nhưng cô ấy cứ nài tôi dẫn tới đây.” Để ả lại với Harding, gã để lại một câu bí ẩn, “Em đừng quên nghe!” rồi bước ra.

Gửi cho gã một cái hôn gió, ả ngoáy mông quay lại với Harding. “Chào Dale!”

“Chào em yêu!” Harding nói nhưng đứng, không nhấc một bước nào đến chỗ vợ chỉ cách một chút. Hắn nhìn quanh đám khán giả đang theo dõi mình.

Hai đứa cao ngang nhau. Cô vợ đi giày cao gót, mang chiếc ví đầm màu đen, không xách quai mà cầm nó như cầm một quyển sách. Móng tay đỏ tươi tựa những giọt máu trên nền lớp da đen bóng loáng.

“Mack!” Harding gọi McMurphy lúc này đang ngồi ở góc phòng đằng kia đọc một cuốn sách tranh. “Nếu cậu chịu dừng những đam mê văn học lại một tí, mình sẽ giới thiệu với cậu đối bản và cũng là oan gia của mình; mình cũng muốn nói một cách tầm thường ‘phần nửa tốt hơn của mình’, nhưng rõ ràng là công thức này ám chỉ một trạng thái bình đẳng về căn bản, đúng không?

Harding cố bật lên tiếng cười, hai ngón tay ngà mảnh mai đút vào túi áo lần tìm thuốc lá, một lúc mới rút được điếu cuối cùng trong bao. Điếu thuốc rung rung khi Harding đưa nó lên miệng. Cả hắn lẫn vợ đều chưa nhúc nhích.

McMurphy đứng dậy, bỏ mũ và đi lại phía chúng.Vợ Harding nhướng mày nhìn hắn và cười. “Xin chào, bà Harding,” McMurphy nói.

Ả cười tươi hơn và đáp, “Em không thể chịu nổi ‘bà Harding’, ông Mack, cứ gọi em là Vera, được không?”

Cả ba cùng ngồi xuống đi văng, và Harding bắt đầu kể cho vợ nghe về McMurphy, về những lần hắn xỏ mụ y tá, và ả chỉ cười nói rằng chẳng lấy làm ngạc nhiên. Trong lúc vui chuyện, Harding hứng khởi quên khuấy mất đôi tay của mình, chúng được thể hươ lên trong không khí thành hình những bức tranh, rõ đến mức có thể thấy bằng mắt, nhảy múa theo giai điệu của giọng nói như hai vũ ba lê vận đồ trắng. Đôi tay hắn có thể trở thành bất cứ gì. Nhưng vừa kết thúc câu chuyện, Harding nhận ra là cả McMurphy lẫn vợ hắn đều đang nhìn đôi tay hắn, hắn bèn nhốt chặt chúng giữa hai đầu gối. Hắn cười, còn cô vợ nói, “Dale, bao giờ anh mới học được cách cười, chứ không phải cứ chi chí như chuột?”

Lần đầu tiên gặp nhau, McMurphy cũng nói với Harding một câu như thế; nhưng nếu lời lẽ của McMurphy có phần nào an ủi Harding thi lời lẽ của cô vợ càng làm hắn thêm lúng túng.

Ả xin thuốc lá, Harding lại đút mấy ngón tay vào túi nhưng ở đó trống rỗng. “Người ta phát cho bọn anh theo định lượng,” hắn nói và so đôi vai gầy như muốn giấu đi điếu thuốc đang hút dở. “Mỗi ngày một gói. Không còn chừa lại chút nào, Vera, em yêu của anh, để đàn ông có thể lịch sự với phụ nữ.”

“Ôi Dale anh không bao giờ biết đủ hay sao?”

Hắn nhìn ả và cười, hấp háy đôi mắt tinh ranh. “Em muốn hỏi theo nghĩa bóng hay nghĩa đen là chuyện thuốc lá trước mắt? Nhưng thôi, không quan trọng. Em biết rõ cả hai câu trả lời dù em lồng vào đó nghĩa nào.”

“Qua lời em nói không ám chỉ gì hơn, Dale…”

“Qua lời em nói em không ám chỉ gì, em yêu, ‘qua lời em nói không ám chỉ’ là một câu thiếu chủ ngữ. McMurphy, đánh giá theo mức độ tối tăm về chữ nghĩa thì cậu và vợ mình ngang nhau. Em hiểu không, em yêu, ‘qua’ chỉ bắt đầu một trạng…”

“Thôi được, đủ rồi! Em nói theo cả hai nghĩa đấy. Anh thích em nói theo nghĩa nào cũng được. Em nói với kiểu anh không bao giờ biết đủ, chấm hết!”

“Với kiểu anh thì anh không bao giờ biết đủ, em bé bỏng rất mực thông minh của anh.”

Ả nhìn Harding mất một lúc rồi quay sang McMurphy đang ngồi bên cạnh. “Còn ông, Mack? Ông có thể giải quyết được một việc đơn giản như mời phụ nữ một điếu thuốc được không?”

Bao thuốc đã nằm trên đầu gối hắn. Hắn nhìn xuống như ân hận và nói, “Tất nhiên, tôi luôn có thuốc trong người. Tại sao? Tại vì tôi hay xin, tiện lúc nào xin lúc đó, nên với một bao thuốc tôi hút được lâu hơn Harding. Anh ta chỉ hút thuốc của mình. Thế nên cô có thể hiểu là anh ta rất chóng hết…”

“Anh bạn, xin đừng biện hộ sự yếu đuối của tôi theo kiểu đó.Nó không phù hợp với phong cách của anh, cũng không tô đẹp phong cách của tôi.”

“Đúng, không được đâu,” cô vợ nói. “Ông chỉ cần mỗi việc là đánh cho em que diêm.”

Ả nghiêng hẳn người về phía que diêm đang cháy đến mức từ đằng kia căn phòng tôi vẫn thấy bên trong cổ áo ả.

Sau đó ả kể về tụi bạn của Harding cứ suốt ngày lượn qua nhà tìm Harding khiến ả phát ngán. “Ông có biết hạng người này không, Mack?” ả nói. “Những chàng trai điển hình với mái tóc dài chải mượt và cánh tay gầy luôn vung vẩy một cách yểu điệu?” Harding hỏi có phải tụi bạn hắn chỉ muốn biết tin tức về hắn thôi không. Nhưng ả trả lời là những người đàn ông thật sự đến thăm ả còn có thứ khác để múa may ngoài đôi tay gầy.

Rồi ả đột ngột đứng dậy nói là phải đi ngay bây giờ.Bắt tay McMurphy, ả nói rằng rất hy vọng được gặp lại hắn rồi bỏ ra. McMurphy chẳng biết nói gì cả. Khi tiếng guốc bắt đầu gõ lọc cọc xuống sàn, cả bọn quay lại nhìn theo cho đến lúc ả khuất sau chỗ ngoặt cuối hành lang.

“Mày thấy thế nào?” Harding hỏi.

McMurphy giật mình. “Hai trái bầu to quá cỡ trên ngực,” đó tất cả là những gì hắn nghĩ ra. “Không hề bé hơn của lão phu nhân Ratched.”

“Tao không muốn mày bình về phần xác, Mack ạ, tao muốn hỏi…”

“Quỷ bắt mày đi, Harding!” – McMurphy bỗng quát lên. “Tao không biết nói gì cả! Mày muốn gì ở tao? Tao là nhà tư vấn hôn nhân chắc? Tao chỉ biết một điều: ngay từ đầu vốn dĩ đã chẳng ai vĩ đại gì cho cam, nhưng hình như trong suốt cuộc đời ai cũng làm mỗi một việc là dìm kẻ khác xuống thấp. Tao biết mày muốn gì ở tao; mày muốn tao thương cảm mày, muốn tao nói rằng vợ mày chỉ là con quỷ cái. Mẹ nó, còn mày thì đối xử với nó như là một bà hoàng đấy. Cút mẹ đi với ‘thấy thế nào’ của mày! Tao cũng đang rối lên tận cổ, còn hơi đâu xỏ mũi vào chuyện kẻ khác. Chấm dứt đi! Để tao yên, rõ chưa, mẹ khỉ!”

Rồi chụp cái mũ lên đầu, băng về góc của mình, tiếp tục với những trang sách tranh. Tụi Cấp tính há hốc mồm nhìn nhau. Sao lại quát chúng nó? Chẳng đứa nào không để hắn yên cả. Không ai yêu cầu hắn điều gì từ ngày hiểu ra là hắn quyết định sống ôn hòa vì sợ sa lầy ở đây. Cả bọn ngạc nhiên bởi cơn giận hắn trút lên Harding và không thể hiểu tại sao hắn vớ lấy quyến sách trên ghế, dựng lên ngay trước mặt – để người ta không thấy hắn hoặc để hắn không phải thấy ai.

Buổi tối sau bữa ăn, McMurphy xin lỗi Harding và nói rằng chính hắn cũng không hiểu tại sao mọi sự lại diễn ra như vậy. Harding bảo là có lẽ vì sự có mặt của vợ hắn, ả thường xuyên khiến người khác nổi sùng. McMurphy nhìn tách cà phê của mình và nói, “Tao không biết, bạn ạ. Hôm nay tao mới gặp cô ta. Vậy không phải tại cô ta, mẹ khỉ, khiến cả tuần nay tao toàn thấy những giấc mơ ớn.”

“À, ông McMurphy.” Harding kêu lên cố bắt chước gã bác sĩ thực tập trẻ tuổi vẫn tham dự đều các cuộc họp. “Ông phải lập tức kể cho chúng tôi về những giấc mơ đó. Đọi một tí để tôi lấy bút chì và sổ tay.” Harding đang cố làm trò vui để bớt phải căng thẳng khi xin lỗi nhau. Hắn vớ lấy miếng giấy chùi miệng và chiếc thìa giả vờ viết. “Thế chính xác ông thấy gì trong những… ờ… giấc mơ đó?”

McMurphy chẳng buồn nhếch mép. “Tao không biết. Chẳng có gì cả ngoài những khuôn mặt… đúng, toàn những khuôn mặt.”

Sáng hôm sau Martini đóng vai lái máy bay phản lực sau bệ điều khiển trong phòng tắm. Mấy con bạc dừng bàn poker, vừa cười vừa xem hắn trình diễn.

“I – I – I – a – o – o – u – u – m. Mặt đất gọi bầu trời, mặt đất gọi bầu trời: phát hiện mục tiêu, bốn trăm – à không- một nghìn sáu trăm, có thể là tên lửa đối phương. Tấn công lập tức! I – I – a – o – o – u – u – m.”

Và quay cái đĩa kim loại, gạt tay cầm về phía trước, nghiêng người như một phi công thực thụ khi thực hiện vòng cua. Hắn vặn nút điều khiển về vị trí “max” nhưng các vòi nước sắp xếp quanh ngăn tắm hình vuông trước mặt không rỉ ra giọt nào. Phương pháp thủy liệu không còn được áp dụng nữa, nước đã bị cắt từ lâu. Những thiết bị mạ crôm sáng bóng và bệ điều khiển bằng thép chưa được sử dụng lần nào. Ngoài lớp mạ crôm chúng giống hệt như những thiết bị cách đây mười lăm năm, ở bệnh viện cũ: tia nước phun ra từ những chiếc vòi con có thể chạm tới bất kỳ phần nào của cơ thể, dưới mọi góc độ; gã kỹ thuật viên mặc áo choàng bằng chất dẻo đứng ở góc phòng sau bảng điều khiển, gạt cần, ấn nút, điều chỉnh các ống dẫn phun vào đâu, nóng hay lạnh, mạnh hay yếu: tia nước phun nhè nhẹ và êm ái trên da, rồi bỗng đau như kim chích, con bệnh bị treo lên bằng những dây đai bạt, nhăn nhúm và ướt như chuột lột, còn gã kỹ thuật viên khoái chí đùa nghịch với đồ chơi của mình.

“I – I – I – a – o – o – u – u – m – mm… Bầu trời gọi mặt đất, bầu trời gọi mặt đất: phát hiện ra tên lửa, đang lấy điểm ngắm…”

Martini cong người, ngắm lên trần nhà qua vòng tròn giữ các vòi nước. Hắn nheo một mắt và nhìn qua vòng bằng mắt kia.

“Sẵn sàng? Chuẩn bị… ngắm… bắ…”

Hắn rụt tay khỏi bệ điều khiển và đứng dậy, mái tóc bay phất phơ, cặp mắt lồi nhìn lên ngăn tắm dại đi như đang sợ hãi khiến các con bạc quay mình trên ghế, nhìn xem hắn vừa thấy gì; nhưng ngoài mấy chiếc khóa nịt treo trên chùm dây đai mới tinh giữa các vòi chẳng còn gì khác.

Martini quay lại và nhìn thẳng vào McMurphy. Hắn không nhìn ai khác. “Mày nhìn thấy chúng không? Thấy không?”

“Gì hở Mart? Tao chả thấy gì cả.”

“Quấn đầy đai đấy. Thấy không?”

McMurphy quay mình nhíu mắt nhìn buồng tắm. “Không, không thấy gì.”

“Đợi tí. Chúng muốn mày thấy chúng,” Martini nói.

“Kệ mẹ mày, Martini, tao đã bảo không thấy ai! Hiểu không? Chả có ma nào cả!”

“Thế à,” Martini nói. Hắn gật đầu và rời mắt khỏi chùm dây đai. “Tao cũng không thấy chúng. Tao đùa mày thôi.”

McMurphy vỗ hai nửa cỗ bài đánh bốp. “Ra thế?… Tao không ưa những chuyện đùa kiểu này, Mart.” Hắn cầm cỗ bài lên và xáo, những lá bài bay tung tóe khắp nơi như bộ bài vừa nổ tung giữa hai bàn tay run rẩy.