Chương 21

Tôi còn nhớ lại vào ngày thứ Sáu, ba tuần sau lần biểu quyết xem tivi, tất cả những đứa còn đi lại được đều bị lùa sang Nhà số Một, danh nghĩa để X quang vùng ngực xem chúng tôi có bị lao phổi hay không, nhưng thật ra tôi biết, để chúng kiểm tra mức độ hoạt động của các thiết bị trong người mỗi đứa.

Tụi tôi ngồi ngoài hành lang, trên chiếc ghế đá dài đến tận cửa phòng có biển X quang. Cạnh đó là phòng TMH mà mùa đông chúng tôi vẫn khám họng. Một chiếc ghế khác chạy dọc theo bức tường đối diện đến tận cánh cửa sắt đáng sợ ấy. Có hàng đinh tán. Không có số cũng chẳng có tên. Trên ghế giữa hai gã hộ lý da đen có hai đứa ngồi thiu thiu ngủ, đứa thứ ba đang chữa bệnh bên trong, tôi nghe thấy tiếng kêu của hắn. Cánh cửa bật mở vào trong đánh phụp, tôi nhìn thấy những bóng đèn vô tuyến sáng vàng yếu ớt. Chúng đẩy ra một con bệnh còn đang bốc khói, tôi nắm chặt lấy thành ghế để không bị hút vào trong cửa. Hai đứa hộ lý, một đen, một trắng, dựng một con bệnh nữa từ ghế lên, hắn bước xiêu vẹo, người lảo đảo vì đã được nhồi đầy thuốc. Trước khi vào phòng, con bệnh thường uống những viên con nhộng màu đỏ. Hắn bị đẩy vào cửa và hai đứa kỹ thuật viên xốc nách hắn lên. Trong khoảnh khắc tôi thấy hắn nhận ra mình sẽ bị đưa đi đâu, hắn cố miết hai gót giầy xuống nền xi măng để khỏi bị đặt lên bàn; rồi cánh cửa đóng sập lại – phùm, tiếng kim loại đập vào lớp đệm, và tôi không nhìn thấy hắn nữa.

“Này, chúng làm gì trong đấy?” McMurphy hỏi Harding.

“Trong ấy ư? À đúng rồi, đúng quá. Mày chưa được hưởng khoái cảm đó, tiếc thật. Một kinh nghiệm làm người không ai nên bỏ lỡ.” Harding đưa mấy ngón tay lên đỡ gáy, mắt nhìn vào cánh cửa. “Đó là phòng đột tử mà tao đã có lần kể cho mày, bạn thân mến ạ, LSĐ – liệu pháp gây sốc điện. Những kẻ may mắn vào đó được hưởng những chuyến du lịch lên mặt trăng mà không mất tiền. À không, suy cho cùng thì chẳng phải hoàn toàn được cho không. Thay cho tiền mày phải trả nơron thần kinh – ở mỗi bộ óc, thứ đó có dự trữ hàng tỷ. Mất mát một ít không đáng kể.”

Hắn cau mày nhìn ghế đá chỉ còn lại một đứa. “Thời buổi bây giờ ít khách hàng hơn xưa, không còn chen chúc như hồi nào nữa. Nhưng c’est la vie, mốt đến rồi mốt đi. Và tao sợ chúng mình là nhân chứng cho ngày tàn của LSĐ. Bà Y tá Trưởng đáng yêu của chúng ta là một trong số rất ít người có đủ can đảm đứng ra bảo vệ truyền thống cổ điển mang tính Faulker trong công nghệ chữa tê liệt lý trí: đốt cháy bộ não.”

Cửa mở. Một chiếc giường có gắn bánh xe kêu vo vo tiến ra, tự hành đến cuối hành lang thì rẽ ngoặt trên hai bánh và mất hút, nhả lại đằng sau một đám khói. McMurphy nhìn đứa cuối cùng bị hốt đi, cánh cửa đóng lại.

“Thê nghĩa là…” McMurphy lắng tai nghe “đưa con bệnh đến đây rồi phóng điện vào đầu?”

“Đó là cách miêu tả ngắn gọn điều đang xảy ra.”

“Để làm khỉ gì?”

“Sao lại để làm gì? Vì lợi ích của bệnh nhân. Tất cả ở đây chỉ vì lợi ích của bệnh nhân. Mới chỉ sống ở mỗi khoa chúng ta, có thể mày sẽ đi đến kết luận rằng, bệnh viện này là một nhà máy khổng lồ có thể vận hành một cách tuyệt hảo nếu như không bị tống cho bệnh nhân, nhưng đâu phải thế. LSĐ không phải lúc nào cũng được sử dụng vào mục đích tra tấn, như bà Y tá Trưởng của chúng ta vẫn làm, và các nhân viên LSĐ cũng không phải là công cụ chủ yếu của chủ nghĩa bạo lực. LSĐ đã trả lại một số người tưởng chừng không chữa nổi, giống như giải phẫu não hay thay bạch huyết. Phương pháp sốc điện có nhiều ưu việt: rẻ, nhanh, hoàn toàn không đau. Nó chỉ gây co giật thôi.”

“Cuộc sống thật kỳ lạ,” Sefelt rên rỉ. “Kẻ thì phải uống thuốc để chống co giật, người thì phải gây sốc cho co giật.”

Harding chồm tới chỗ McMurphy giải thích: “Họ nghĩ ra là vì thế này: hai bác sĩ thần kinh đến lò mổ, Chúa biết để làm cái trò bệnh hoạn gì, và được quan sát búa tạ nện vào trán bầy gia súc. Họ nhận thấy không phải con nào cũng chết, có vài con ngã xuống sàn nhà trong trạng thái rất giống cơn co giật của người bị chứng động kinh. ‘À, đúng rồi,’ viên bác sĩ thứ nhất nói. ‘Đó là điều chúng ta cần cho các bệnh nhân co giật chỉ đạo!’ Đồng nghiệp của ông ta dĩ nhiên là nhất trí. Ai cũng biết rằng những người hết cơn động kinh sẽ hiền lành và trật tự một thời gian dài, còn những kẻ hung hãn không thể tiếp cận được sau một cơn co giật sẽ nói chuyện tương đối tỉnh táo. Ngày đó không biết tại sao, đến giờ vẫn chưa ai biết. Nhưng rõ một điều là nếu gây được cơn sốc cho những người không mắc chứng động kinh thì có khi thu được những kết quả rất tốt. Và đấy, trước mặt chúng là một con người có khả năng thường xuyên gây sốc – bùm, bùm – một cách không hề run tay.”

Scanlon bảo hắn tưởng chúng dùng búa để nện chứ không phải dùng bom, nhưng Harding bảo hắn không có thời gian để ý chuyện đó, và tiếp tục giải thích. “Lão đồ tể thì dùng búa. Và ở đây đẻ ra một vài thắc mắc cho các chuyên gia. Dù sao thì con người cũng không phải là một con bò. Ai biết được chả có lúc búa trượt và đập vỡ mũi hắn, hay choảng hết cả hàm răng? Phí tổn nha khoa giờ quá đắt, chúng sẽ thu hoạch được gì? Thành thử cần phải dùng thứ khác đáng tin cậy hơn búa. Và điện được đưa vào sử dụng.”

“Khỉ gió, chúng không nghĩ là làm thế có thể gây hại thế nào ư? Mà sao công chúng không làm ầm lên vì chuyện này?”

“Hình như mày không hiểu rõ công chúng lắm thì phải. Ở nước ta mỗi khi có chuyện gì không ổn thì phương pháp nhanh nhất đưa nó trở lại bình yên sẽ là phương pháp tốt nhất.”

McMurphy vò đầu. “Trời đất! Bị phóng điện vào đầu! Có khác nào phải ngồi lên ghế điện vì tội giết người?”

“Về mục đích thì hai biện pháp đó quan hệ máu mủ hơn mày tưởng: kiểu gì thì cũng là điều trị.”

“Mày biểu không đau?”

“Tao lấy kinh nghiệm bản thân cam đoan điều đó. Hoàn toàn không đau đớn gì cả. Một cú sốc và mày ngất đi. Không cần kim châm hay búa tạ. Không đau chút nào. Nhưng vấn đề ở chỗ là chẳng đứa nào muốn thử lại lần hai. Mày sẽ… đổi khác đi. Mày quên nhiều thứ. Cái đó như là…” Harding ấn ngón tay lên thái dương, nhắm mắt lại, “…cái đó cũng như là ấn nút mở máy cò quay đánh tung hình ảnh, cảm xúc, ký ức. Mày đã thấy những bàn cò quay ở các quán giải trí lưu động rùi đó; gã chủ trò cầm tiền của mày rùi ấn nút. Đinh! Cái đĩa quay tít mù, ánh sáng và âm thanh các con số nhảy loạn bậy. Con số rơi vào chỗ mày có thể là con số được, cũng có thể là số thua và mày phải chơi lại từ đầu. Xì ra mấy xu quay lại lần nữa, xì ra, con ạ!”

“Bình tĩnh, Harding.”

Cửa mở và cái giường đẩy có người nằm phủ tấm vải trắng lăn ra, tụi kỹ thuật viên bỏ đi uống cà phê. McMurphy vuốt tóc nói, “Tao chịu không hiểu nổi những thứ này.”

“Thứ nào? Chữa bệnh bằng sốc điện?”

“Ừ. Mà không. Không chỉ cái đó. Mà tất cả,” hắn khoa tay một vòng. “Tất cả những gì xảy ra ở đây.”

Harding đặt tay lên đầu gối McMurphy. Bạn ơi, hãy để cho cái đầu óc mệt mỏi của bạn được nghỉ ngơi. Chín mươi phần trăm mày không phải qua phòng sốc. Nó đã hết mốt, chỉ được sử dụng trong trường hợp tối cần thiết thôi, khi không còn cách giả quyết nào nữa, như giải phẫu óc ấy.”

“Lại còn giả phẫu óc, nghĩa là người ta cắt đi một phần não?”

“Hoàn toàn đúng. Mày sắp thành chuyên gia về thuật ngữ rồi. Đúng đấy – cắt một phần não, thiến bỏ thùy trán. Vì không thể hoạn mắt phần dưới rốn của mày, bà ta sẽ cắt phần trên.”

“Mày đang nói về Ratched.”

“Hoàn toàn đúng.”

“Tao đâu biết bà ta có quyền quyết định điều đó.”

“Chính bà ta.”

McMurphy làm ra vẻ vui vì đã lái câu chuyện từ giải phẫu óc và sốc điện sang mụ y tá. Hắn hỏi vì sao Harding lại nghĩ mụ độc ác vậy. Mỗi đứa đưa ra một ý kiến về chuyện này. Cả bọn tranh cãi xem mụ có phải là cội nguồn của mọi khổ ải không, và Harding nói rằng phần lớn những khổ ải ở đây là do mụ gây ra. Hầu như cả bọn đồng ý với hắn, nhưng McMurphy không còn tin như vậy nữa. Hắn bảo trước đây hắn đã từng nghĩ thế nhưng bây giờ thì hắn không biết. Hắn không cho rằng loại bỏ mụ thì nhiều điều sẽ đổi thay; đằng sau cái cảnh lộn xộn này còn có một thế lực nào đó to lớn hơn, mạnh mẽ hơn, và hắn cố tình tìm ra cách diễn đạt xem mình nghĩ đó là cái gì nhưng không ra. Thế là hắn thôi không nói tiếp nữa.

McMurphy không biết, nhưng đã bắt đầu linh cảm thấy điều tôi đã rõ từ lâu: sức mạnh chính đâu phải nằm ở một mình mụ y tá mà là ở Liên hợp, một tổ chức trải rộng trên toàn đất nước, mụ chỉ là viên chức quan trọng ở đó mà thôi.

Tụi còn lại không tán thành với McMurphy. Chúng bảo là chúng biết rõ tai họa từ đâu tới, và sau đó chúng bắt đầu cãi lộn với nhau. Cuộc cãi lộn sẽ không chấm dứt nếu McMurphy không chen vào.

“Ớn lắm,” hắn nói. “Rác cả tai vì nghe tụi bay ca cẩm. Tụi bay kêu ra rả, kêu ca hộ lý, kêu ca cả bệnh viện, Scanlon muốn làm nổ tung cả tòa nhà, Sefelt thì đổ tại thuốc, Fredrickson thì đổ tại những trục trặc trong nội bộ gia đình. Tụi bay đứa nào cũng chỉ tìm cớ để thở than.”

Hắn nói mụ y tá đơn thuần chỉ là một mụ già độc ác vô lương tâm và thật vô ích khi chúng muốn đẩy hắn đối đầu với mụ; đó chỉ là chuyện trẻ con, chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cả, nhất là cho hắn. Thoát khỏi mụ thì dễ, nhưng còn tác nhân đang ẩn náu đằng sau, nơi sinh ra mọi khổ nhục thì không thoát nổi.

“Mày nghĩ thế?” Harding hỏi. “Vậy thì nếu mày đột ngột hiểu cặn kẽ về vấn đề thần kinh đến mức đó, thử nói xem đâu là nguồn gốc của sự bất hạnh? ‘Tác nhân còn ẩn náu’ theo cách nói bóng bẩy của mày là gì?”

“Tao không biết, mày hiểu không. Và cũng chưa thấy gì lớn cỡ đó cả.” Hắn ngồi im một lúc, lắng nghe tiếng rú từ buồng X quang, rồi tiếp, “Nhưng theo tụi bay, tất cả chỉ tại mẹ già Y tá Trưởng và những phiền toái giới tính của bà ta thì hãy vật mẹ nó bà ta xuống và giải quyết các phiền toái ấy đi. Thế là xong, bà ta sẽ không làm khổ tụi bay nữa.”

Scanlon vỗ tay, “Mẹ khỉ. Chính thế. Mày được ủy quyền làm việc đó, Mack, chỉ có mày là xứng đáng thôi.”

“Quên tao đi. Không đời nào. Tụi bay chọn nhầm rồi.”

“Tại sao lại nhầm? Tao nghĩ mày là con ngựa đực tốt giống giỏi xáp lá cà.”

“Người anh em, tao đang tính chuyện tránh con diều hâu cái già nua đó càng xa càng tốt.”

“Tao biết rồi, tao biết rồi,” Harding cười nói, “chuyện gì đã xảy ra giữa hai người thế? Đã một thời mày siết thòng lọng, giờ lại nới ra. Phải chăng đó là nỗi xót thương bất ngờ đối với nữ thần hảo tâm của chúng ta?”

“Không, tao đã hiểu ra vài chuyện, thế thôi. Sau khi thăm dò nhiều nơi. Tao hiểu tại sao tụi bay bợ đỡ, van lạy bà ta, phải lê gót hay phủ phục dưới chân cho bà ta giẫm lên. Tao đã mở mắt thấy tại sao tụi bay sử dụng tao để chống bà ta.”

“Mày nói gì? Thật thú vị.”

“Ờ thú vị lắm. Tao thấy thú vị vì chúng mày, những thằng ăn bám lại không nói cho tao biết là tao đang mạo hiểm cái gì khi chọc tức bà ta. Tao không yêu quý bà ta không có nghĩa là tao muốn dụ bà ta bắt mình cầm tù thêm một năm hai năm. Đôi lúc phải biết giấu lòng tự ái vào túi quần và nhìn xem cái phòng số Một chứ?”

“Ồ các bạn, chúng mày không nghĩ rằng có cơ sở cho những tin đồn là McMurphy chấp nhận trật tự ở đây đơn thuần chỉ để mau chóng được xuất viện?”

“Harding, mày hiểu tao nói gì. Tại sao chúng mày không bảo trước là bà ta có thể giữ tao lại đây cho tới khi hiền từ mà buông tao ra?”

“Tao đã quên là mày bị gửi tới đây, có thế thôi,” mặt Harding méo xệch giữa nụ cười. “Thế đấy. Mày đang trở thành một đứa ranh ma. Như tất cả chúng tao.”

“Tao sẽ thành ra thế, tụi bay không cần nghi ngờ điều đó. Tại sao chính là tao phải đứng ra che chở khi tụi bay rên rỉ nào là thuốc lá bị thu, nào là phòng ngủ bị khóa? Thoạt tiên tao không thể hiểu tại sao chúng mày cứ tìm đến tao như một vị cứu tinh. Sau đó tình cờ tao mới biết việc cho đứa nào ra hoàn toàn phụ thuộc vào bà Y tá Trưởng. Và tao hiểu ra lòng dạ tụi bay nhanh chóng ra phết. Tao tự nhủ, ‘ồ, tụi bạn nham hiểm đã mua mình như một con ngựa thồ để chất lên lưng gánh nặng của chúng, bạn già R.P.McMurphy đã bị mắc lừa.’ ” Hắn hơi ngả đầu ra sau và cười cợt với hết lượt chúng tôi. “Hiểu cho tao, tao không nghĩ là do lỗi tụi bay, nhưng quên mẹ chuyện ấy đi. Tao cũng muốn rời khỏi đây như bất cứ ai. Cãi lộn với con diều hâu già ấy thì tao cũng thiệt thòi y như tụi bay.”

Hắn cười, nheo mắt, thúc ngón tay cái vào sườn Harding, cứ như thế là giải quyết xong mọi chuyện mà không buồn bực gì, nhưng Harding liền nói với hắn:

“Không, bạn ạ, dây với mụ cậu thiệt thòi hơn bọn tớ nhiều.”

Harding lại toét miệng cười, liếc xéo sang McMurphy như một con ngựa cái đang giậm giật, đầu hơi cúi xuống rồi lại hất lên. Cả bọn lùi xuống một ghế. Martini rời máy chiếu X quang, vừa mặc áo vừa làu bàu, “Không thể tin được nếu không tận mắt nhìn thấy,” và Billy Bibbit thế vào chỗ nó sau tấm kính đen.

“Mày thiệt thòi hơn tao,” Harding nhắc lại. “Tao ở đây tự nguyện, không phải là bị gửi vào.”

McMurphy lặng thinh. Vẻ mặt hắn lại như những lần trước, đầy phân vân như có gì đó bất thường, mà hắn không tài nào xác định được. Hắn cứ ngồi đó nhìn trân trân vào Harding, làm nụ cười nghịch ngợm trên môi Harding biến mất, và thằng kia cựa quậy như ngồi trên đống lửa vì McMurphy cứ nhìn hắn bằng đôi mắt quá lạ lẫm. Harding nuốt nước bọt nói: “Thực ra trong phân khoa chỉ có vài người bị gửi đến chữa bệnh. Chỉ có Scanlon và… ờ, tao nghĩ vài đứa Kinh niên nào đó. Và mày. Cả bệnh viện chỉ có vài thằng ở trên gửi đến. Không nhiều.”

Hắn đứng lại, giọng yếu đi dưới cái nhìn của McMurphy. Im lặng một giây, McMurphy hỏi khẽ, “Mày nói láo phải không?” Harding lắc đầu. Trông hắn chết khiếp. McMurphy đứng dậy hỏi oang oang cả hành lang. “Tụi bay nói láo phải không?”

Không đứa nào có ý định trả lời. Hắn đi đi lại lại dọc theo hàng ghế, thọc tay vào mớ tóc rối tung. Hắn đi tuốt đến đầu kia, rồi lại tuốt đến đầu này, đến trước chiếc máy chiếu X quang. Chiếc máy rít và nhổ phì phì vào hắn.

“Billy… mày chắc chắn bị ép tới đây, mẹ khỉ!”

Billy đang đứng quay lưng lại chúng tôi, chân kiễng lên, cằm áp vào màn chiếu. Không, nó nói với cái máy.

“Thế mày tới đây để làm gì? Làm gì?Mày còn trẻ! Có thể lái xe mui trần vi vu chim gái. Còn những thứ này…” hắn khoa tay xung quanh, “mang lại cho mày cái gì?”

Billy không trả lời, McMurphy quay sang những đứa khác.

Tụi bay nói coi, để làm gì? Than thở, rên rỉ suốt hàng tuần liền rằng không thể chịu nổi chỗ này, không chịu nổi mụ Y tá Trưởng và những việc làm dơ dáy của mụ ta. Hóa ra chả ai giữ tụi bay lại đây cả. Với mấy lão già thì tao còn hiểu. Họ là một đám khùng. Nhưng còn tụi bay, tụi bay không hẳn là những thằng bình thường nhất quả đất, nhưng tụi bay đâu có khùng.”

Không đứa nào cãi lại hắn. Hắn sán lại Sefelt.

“Sefelt, còn mày thì sao? Không có gì ngoài tật động kinh, mẹ khỉ! Cậu tao cũng bị chứng co giật hành hạ tới mức mày mơ không thấy và đến lúc lên cơn thì toàn nhìn thấy quỷ hiện hình, nhưng ông đâu thèm nhốt mình trong nhà thương điên. Mày vẫn có thể sống bên ngoài nếu đủ can đảm…”

“Tất nhiên!” Đó là Billy, quay lại khỏi máy chiếu mặt đầy nước mắt. “Tất nhiên!” Hắn lại la lên. “Nếu bọn tao đủ c… can đảm! Tao có thể ra viện ng… ngay hôm nay nếu đủ can đảm. M… m… mẹ tao và bà Ratched là bạn cũ của nhau, người ta có thể ký giấy xuất viện cho tao trước bữa cơm nếu tao đủ can đảm!”

Billy vớ lấy chiếc áo sơ mi trên ghế, cố mặc vào nhưng hai tay run rẩy. Cuối cùn hắn ném chiếc áo đi và lại quay về phía McMurphy:

“Mày nghĩ là tao muốn ở… ở… ở lại đây! Mày nghĩ là tao muốn lái xe v… v… vi vu ch… ch… chim gái?

Nhưng mày đã bao giờ bị người ta giễu cợt chưa? Chưa, vì mày khỏe mạnh và không ngán thằng nào! Còn tao, tao không khỏe mạnh và thằng nào tao cũng ngán. Và Harding cũng thế. Và F… F… Fredrickson. Và Se… Sefelt. Mày nói nh… như thể bọn tao thèm được s… sô… sống ở đây! Vô… vô ích…”

Billy òa khóc, lưỡi líu lại đến nỗi không nói được nữa, gã đưa tay chùi nước mắt để nhìn được rõ. Cái vẩy kết ở mu bàn tay bật ra, Billy càng chùi thì máu càng chảy ra đầy mặt và trong mắt. Rồi gã bưng mắt loạng choạng lao ra hành lang, hết va vào bức tường bên này lại đập vào bức tường bên kia, gã hộ lý đuổi theo sát gót.

McMurphy nhìn tụi còn lại, há miệng như muốn hỏi gì nữa, nhưng lại ngậm miệng khi thấy chúng nhìn mình ra sao. Hắn đứng đó cả phút trước một hàng đinh tán trông như một chuỗi những con mắt dương dương, rồi bật thốt lên: “Mẹ kiếp!” một cách yếu ớt, và cầm lấy mũ kéo sụp xuống đầu, ngồi vào chỗ của mình trên ghế. Hai gã kỹ thuật viên uống cà phê xong đang quay lại, đi vào phòng đối diện; khi cánh cửa mở phụp một cái, mùi axít như mùi từ chiếc bình ắc quy đang nạp xông ra. McMurphy ngồi đó nhìn cánh cửa.

“Tao nghĩ là tao không thể hiểu nổi…”