Chương 25

Đỗ Kiến Vũ lại giới thiệu hai người với nam tử mắt hổ kia, thì ra là cư sĩ ở Thiên Sơn môn hạ đại đệ tử của Mặc Hán Vũ, A Liệt Cổ, bởi vì vốn là nhân sĩ của Tây Vực, màu đôi mắt cũng khác với người khác. Tiếng Hán của A Liệt Cổ cực kỳ không chuẩn, nói được vài câu liền không hiểu đang nói cái gì. Nhưng có Đỗ Kiến Vũ giải thích: “Vị huynh đài A Liệt Cổ này cũng vì chuyện mật thư mà đến.”

Nhiếp Cảnh đang muốn hỏi về chuyện này, lập tức nói: “Nói đến việc này, không biết Đỗ khanh chặn được bức thư này từ đâu?” Trong bụng nghĩ: “Chẳng lẽ Đỗ gia gã có bố trí ám trang* ở kinh thành, luôn quan sát kĩ càng chiều hướng trong triều? Nếu như vậy, Đỗ Kiến Vũ này… dã tâm không nhỏ.”

(*Ám trang (暗桩): căn cứ bí mật mật chuyên theo dõi và cài gián điệp bên đối phương)

Đỗ Kiến Vũ nhìn ra nghi ngờ của y, ra hiệu tất cả mọi người lui ra, ngay cả Liễu Tiêu và A Liệt Cổ cũng được mời ra ngoài hết. Bây giờ gã mới chậm rãi nói: “Bệ hạ chớ nghi ngờ. Đỗ gia ta nhà đông người nhiều việc, không dễ duy trì, hiển nhiên phải buôn bán sinh lời chút đỉnh. Trong đó những lần làm ăn, thăm dò đổi chác được đủ các loại văn kiện mật, bán cho những người có nhu cầu.”

Nhiếp Cảnh cũng không thấy gì, Nhiếp Hi nghe được chấn động: “Chẳng lẽ Thanh Phong Vọng Nguyệt trai là do Đỗ trang chủ mở?”

—— Thanh Phong Vọng Nguyệt trai là một chỗ cực kì thần bí trên giang hồ, nghe nói từ chuyện lớn như mật tấu trong triều đình, đến nhỏ như phu phụ trèo tường, chỉ cần chuyện có thể đổi được tiền, bọn họ đều có thể thăm dò được. Trước kia Nhiếp Cảnh xuất quân đánh Bắc Nhung, được Nhiếp Hi đề nghị, cũng từng bỏ số tiền lớn nhờ Thanh Phong Vọng Nguyệt trai dò la về con đường bí mật ở núi Thiết Sơn, sau này vào ban đêm tuyết rơi nhiều đội kỵ binh xông ra, đánh một trận đại thắng trong vòng bảy trăm năm, đó cũng có công tình báo của Thanh Phong Vọng Nguyệt trai.

Đỗ Kiến Vũ gật đầu: “Thứ kĩ năng mạt hạng trong cửu lưu*, bất đắc dĩ mà thôi, vốn không muốn nhắc đến. Nếu bệ hạ thấy nghi ngờ, dĩ nhiên phải nói ra sự thật. Thảo dân chặn được mật thư của Chu thái phó, thật ra do Chu thái phó uỷ thác dò la chuyện khác. Nhưng bởi vậy ta mới sinh lòng ngờ vực, âm thầm kiểm tra hành vi của Chu thái phó…” Gã nhìn hai người một chút, cười cười.

(*Cửu lưu (九流): Học thuật xưa chia ra 9 dòng: (1) nhà Nho, (2) nhà Đạo, (3) nhà Âm Dương, (4) nhà học về pháp, (5) nhà học về danh, (6) nhà Mặc, (7) nhà tung hoành, (8) nhà tạp học, (9) nhà nông.)

Vốn Chu thái nhờ vã dò la chuyện khác?

Nhiếp Cảnh bỗng nhiên cảm thấy nụ cười này hết sức mờ ám, hình như Đỗ Kiến Vũ đã sớm biết rõ khúc mắc từ trước đến nay của huynh đệ Nhiếp gia. Trên mặt y kích động cay cay một hồi đến nóng lên, sát khi âm thầm nổi dậy. Nhưng chuyện quốc gia là việc hệ trọng, dù khó chịu cũng phải cố gắng nhịn.

Nhiếp Hi thản nhiên nói: “Có phải Chu thái phó nhờ Đỗ tiên sinh thăm dò xem hoàng đế đi về hướng nào không?”

Đỗ Kiến Vũ ngẩn ra, ánh mắt sắc bén thoáng hiện lên một tia khâm phục, gật gật đầu: “Ngô vương quả nhiên nhạy bén. Liễu Tiêu khéo tay, giỏi về nguỵ tạo ấn tín, sau khi thảo dân nhận được văn kiện mật của Chu thái phó vốn muốn nhờ hắn nhanh chóng xử trí, nhưng không ngờ biết được chí muốn đoạt quốc của Chu thái phó. Ta không dám chậm trễ, trong đêm phát thiệp mời các anh hùng hảo hán triệu tập, tính liên minh ở Ngọc Môn quan, tổ chức dân binh, đề phòng đại quân của Hải Thất Lan xâm chiếm. Nhưng mà, nếu bệ hạ và Ngô vương đã ở đây, ta làm thế nào cũng phải đến yết kiến một lần, sau đó sẽ dẫn người đi Ngọc Môn quan.”

Đỗ Kiến Vũ thật sự biết rõ mọi thứ, thảo nào ánh mắt nhìn hai người lại quái lạ như vậy… Kỳ thật, cho dù không có lần kiểm tra này, gã làm sư huynh của Lâm Nguyên, làm sao lại không biết gì hết chứ? Nhưng đại địch trước mắt, những chuyện này chỉ có thể giả vờ hồ đồ che đậy cho qua.

Nhiếp Cảnh khẽ cắn môi, giả vờ nghe không hiểu, gật đầu hớn hở nói: “Thì ra là thế, lòng vì quốc gia của Đỗ khanh, hết lòng hết sức thật là tấm gương soi, trẫm vô cùng khuây khoả. Không biết A Liệt Cổ kia vì sao lại đến?”

Đỗ Kiến Vũ nói: “Gã là vương tử của bộ tộc Thiết Lặc ở Thiên Sơn, kế nghiệp Mặc Hán Vũ Mặc đại hiệp. Lần này ta gởi thư tín trong đêm, chính là nghĩ thông suốt rồi mới bàn với Mặc đại hiệp điều động bộ lạc Thiết Lặc xuất binh, tốt nhất có thể để cho A Liệt Cổ liên lạc với các bộ tộc nhỏ bản xứ, tổ chức liên quân, cùng nhau chống lại Hải Thất Lan.”

Nhiếp Cảnh suy nghĩ một hồi, thầm kinh ngạc. Một chiêu này của Đỗ Kiến Vũ thật sự hết sức khôn ngoan. Hải Thất Lan xuất chinh về phía đông, các bộ lạc Thiên Sơn đứng mũi chịu sào, nếu mình không nhanh chóng nắm lấy sử dụng, ắt sẽ trở thành mục tiêu ra roi của Hải Thất Lan, thậm chí trở thành quân tiên phòng đánh sâu vào vùng đất Trung Nguyên. Đỗ Kiến Vũ giành quan hệ với Mặc Hán Vũ trước thuyết phục được A Liệt Cổ, không chỉ có thể ổn định thế cục ở Thiên Sơn, còn có thể mượn sức của các bộ tộc của A Liệt Cổ, giảm bớt khổ sở và vất vả của triều đình khi hành quân xa. Như vậy, cho dù Chu thái phó nội ứng ngoại hợp, tác chiến ở hai chiến tuyến, binh lực ở triều đình cũng sẽ không phải lấy trứng chọi đá.”

Y gật đầu tán thưởng nói: “Trù tính của Đỗ khanh quá mực hợp ý trẫm. Nhưng mà A Liệt Cổ kia chưa chắc dễ đồng ý như vậy chứ?”

Đỗ Kiến Vũ nói: “Gã đáp ứng rất sảng khoái, sau khi nhận thư lập tức tự mình nhập quan gặp ta, cùng nhau thương nghị chuyện này. Thảo dân cho rằng, người Thiết Lặc từ trước đến nay giảo hoạt, người này ít nhiều gì cũng gió chiều nào theo chiều nấy, ý đồ lợi dụng thời cuộc. Hơn nữa đây cũng chính là thời gian bộ lạc Thiết Lặc của gã treo giá. Bệ hạ ban ân huệ cùng uy quyền, có thể lôi kéo được lòng của bộ lạc Thiết Lặc.”

Gã chậm rãi đáp, nói xong Nhiếp Cảnh khẽ gật đầu, chỉ cảm thấy kiến thức của người này cao minh, khí thế hùng hậu, quả nhiên là tài giỏi nổi bật. Hèn gì gã có thể dạy ra được một sư đệ Lâm Nguyên văn võ song toàn như thế. Nhưng mà Lâm Nguyên tiêu sái tuỳ cơ ứng biến có thừa, lại không có khí thế hùng hậu của Đỗ Kiến Vũ, bằng không cũng không đến mức sa vào bước đường cùng ở chốn tình trường, thiếu niên anh tài mất sớm. Đối với tên tình địch này, mặc dù Nhiếp Cảnh cực kì chán ghét, nhưng cũng mơ hồ có chút bội phục tâm tư và sự bén nhạy của gã.

Nhưng mà, thân là hoàng đế, đối với bất kỳ sự lấy lòng nào cũng đều phải cân nhắc ba lần, Đỗ Kiến Vũ này vồn vã lập kế hoạch như vậy, rốt cuộc có tâm tư khác ở bên trong hay không? Nghe Nhiếp Hi kể rằng, thế lực của Thanh Phong Vọng Nguyệt trai vô cùng hùng hậu, thiên hạ ngày nay đã loạn lạc đến mức này, lẽ nào Đỗ Kiến Vũ không nhân cơ hội này, có lòng tranh giành Trung Nguyên sao?

Nguy cớ tứ phía, bên cạnh lại không có một người nào có thể tin tưởng, không có một người có thể uỷ thác chuyện này, ngay cả đệ đệ của mình cũng… Nhiếp Cảnh hút một ngụm khí dài, trong lòng đắng chát lạnh lẽo một trận, ý chí chiến đấu lập tức dâng lên mãnh liệt.

Đỗ Kiến Vũ nhìn sắc mặt và lời nói mà thăm dò ý tứ, thấy y hình như có vẻ cảm động, thừa cơ chắp tay nói: “Chuyện này quan hệ trọng đại, nếu bệ hạ không chê bỏ, thảo dân nguyện thay mặt thúc roi ngựa, tập kết võ lâm hào kiệt ở Ngọc Môn quan, tiếp tục hợp nhất trú quân ở địa phương, liên hợp các bộ tộc ở Thiên Sơn, cùng chống lại Hải Thất Lan. Mọi người đồng tâm hiệp lực, cho dù Hải Thất Lan lợi hại hơn nữa, chúng ta dù đánh đến người cuối cùng, cũng không để gã phóng ngựa ở Trung Nguyên!”

Lời nói này hết sức hùng hồn khích lệ, có ý khiêu chiến rất mạnh. Thần sắc Nhiếp Hi vẫn luôn lãnh đạm, lúc này cũng không nhịn được mà nhìn Đỗ Kiến Vũ một hồi, hiển nhiên có hơi kích động.

Theo ý của Nhiếp Cảnh, cho phép thứ dân tự mình tổ chức cường hào, tụ tập với quân đội, chắc chắn sẽ là một uy hiếp rất lớn đối với triều đình, huống gì Đỗ Kiến Vũ rõ ràng là người ôm hoài bão, đến lúc đó chỉ sợ đánh đuổi xong Hải Thất Lan, nhưng lưu lại một đội quân của Đỗ gia khó giải quyết.

Y vốn định úp úp mở mở từ chối cho qua, nhưng nghĩ lại lần nữa, trong triều có Chu thái phó làm loạn, đến lúc này mình rất khó đối phó với hai đợt chiến sự, muốn tập trung tinh lực ổn định kinh sư, chỉ sợ khó mà xuất binh Tây Cương. Nếu buông tay để Đỗ Kiến Vũ thi triển, kết quả xấu nhất là quân của Đỗ gia chiếm giữ một phương. Dù sao Đỗ Kiến Vũ cũng là con dân Trung Hoa, coi như Đỗ gia lớn mạnh, cũng tốt hơn vó sắt của Hải Thất Lan san bằng Ngọc Môn quan.

Nhiếp Cảnh nghĩ tới đây, đã có chủ định. Bèn mỉm cười nói: “Lời này thật hay. Nếu Đỗ khanh và Ngô vương đều nhất trí khiêu chiến, chi bằng phái cả hai vị cùng đi. Ngô vương làm Chinh Tây đại nguyên soái, Đỗ khanh làm Bình Lỗ tướng quân, có quyền tập hợp nhân mã ở địa phương, chỉ huy quân đội.” Nghĩ thầm: Dù sao hai người đều có dã tâm, cho dù liên thủ tạm thời, ngày sau ắt sẽ tách ra, hạn chế lẫn nhau, còn tốt hơn một người lớn mạnh.

Nói xong lời này, Nhiếp Cảnh không khỏi có chút ưu thương, biết lần này Nhiếp Hi xuất quan, hoặc là chết trận, hoặc là chiếm cứ một phương, chỉ sợ từ nay về sau huynh đệ như người dưng nước lã. Thứ cướp đoạt từ trên tay Nhiếp Hồi ngày trước… có lẽ… cứ như vậy mà trả lại cho hắn.

Chỉ có phần tình cảm này, Nhiếp Cảnh đã tích trữ quá sâu cũng quá nhiều… Không cách nào trả lại được.

Nhiếp Hi nghe vậy, nhướng mày, nhìn Nhiếp Cảnh thật sâu sắc, ánh mắt luôn luôn mang theo một lớp sương mù, cũng mơ hồ gợn sóng. Nhưng Nhiếp Cảnh chỉ đáp lại một nụ cười điềm tĩnh thản nhiên.

Nhiếp Hi nhìn nụ cười của y, thoáng cái giống như bị kim đâm, không chút do dự ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Trong lòng Nhiếp Cạnh đau đớn một trận, nhưng vẫn mỉm cười bình tĩnh.

Đỗ Kiến Vũ nghe được cũng ngẩn ra, dường như không ngờ Nhiếp Cảnh lại thả Nhiếp Hi uy hiếp lớn nhất đối với y ra quan ngoại, lờ mờ quét mắt nhìn Nhiếp Hi, ánh mắt của hai người giao nhau, dường như vang lên tiếng kim loại bén nhọn của kiếm va chạm nhau. Đỗ Kiến Vũ lập tực chậm rãi dời mắt đi chỗ khác, chắp tay tạ ơn.

Một phen thương nghị xong xuôi, đã đến buổi trưa. Đỗ gia được thiên tử giá lâm, đã sớm chuẩn bị đồ ăn thật hoành tráng, vô cùng tỉ mỉ chu đáo. Nhiếp Cảnh có ý muốn thân thiết, muốn cùng ăn cơm với mọi người, vì vậy đám người Nhiếp Hi, Đỗ Kiến Vũ, A Liệt Cổ, Liễu Tiêu đều hậu hạ ở một bên.

Trong bữa tiệc Đỗ Kiến Vũ hết sức ân cần, phong thái của gã trời sinh cương ngạnh lãnh khốc, nói cười êm đềm dịu dàng như vậy, trái lại có vẻ hơi mất tự nhiên. Nhiếp Cảnh nhìn thấy, liền cảm giác lòng cầu quyền thế của người này rất nặng. Hôm nay muốn cầu cạnh mình, mới miễn cưỡng làm bộ. Nếu một khi đã toại nguyện, không biết ai chết vào tay ai với Nhiếp Hi.

Y nghĩ tới đây, thầm than một tiếng.

Thật sự không muốn để Nhiếp Hi rời đi, nhưng thời cuộc như vậy, hai huynh đệ ở cùng một chỗ chỉ sợ khó có thể bảo toàn, mỗi người ứng phó một phương, có lẽ là biện pháp tốt nhất để khống chế đại cục. Bất kể Nhiếp Cảnh hay Nhiếp Hi làm chủ nhân của thiên hạ này, giang sơn này nhất định không thể bị cướp đoạt. Vô luận từ nay về sau thế nào, tư tình thế nào… Làm chủ của một quốc gia, hiển nhiên phải đặt quốc gia đại sự lên trên hết.

Đạo lý là như vậy? Nhưng vì sao vẫn cảm thấy trái tim bị đục khoét đến đau đớn như vậy.

Người kia, theo non sông ba nghìn dặm, hai mươi năm bên nhau, về sau chỉ sợ… không bao giờ có thể nữa. Có lẽ, giữa hai huynh đệ luôn có một người, phải trầm luân trong thế cục loạn lạc của mưa máu và khói lửa. Y chỉ sợ sẽ không thể quên được Nhiếp Hi, nhưng trong lòng Nhiếp Hi, Nhiếp Cảnh có thể nào đoán được gì chứ…

Sự tồn tại xa vời giống như bụi bặm, ngoại trừ chán ghét và nhạt nhoà, còn có cái gì khác sao?

Khoé miệng Nhiếp Cảnh khẽ động, muốn cười một cái, nhưng không cười nổi. Vì vậy yên lặng lại uống một ly, ngón tay nhịn không được mà run, rượu trong ly mới vào một nửa khổ tâm của nửa đời đã đổ xuống.

Y đột nhiên cảm giác được đầu có chút choáng váng, đang muốn rời chỗ đi nghỉ, không ngờ lại mềm nhũn không đứng nổi, nhất thời cả kinh.

Nhiếp Hi bỗng vứt ly xuống, trầm giọng nói: “Trong rượu có độc.” Bàn tay vung lên, một cột gió như thanh long đột ngột cuốn về phía Đỗ Kiến Vũ!