Chương 31

Những cái đinh trên cửa sắt nom như những con mắt nhìn tôi.

Cửa mở và hút luôn tên thứ nhất vào. Gã cứu đắm không động cựa. Một tia sáng như khói nê ông từ tấm bảng điều khiển đen trong phòng bay ra tóm lấy cái trán đầy những hốc của hắn và kéo vào như kéo một con chó ở đầu xích. Đến lúc cửa đóng thì tia sáng đó đã quay hắn được ba vòng và mặt hắn đầy vẻ kinh hoàng. Đếm một,” hắn rên ư ử. “Đếm hai! Đếm ba!”

Tôi nghe thấy chúng bẩy trán hắn lên, như mở nắp cống ngầm, các răng bị kẹt nghiến ken két.

Khói hất toang cửa, chiếc xe đẩy cùng với tên thứ nhất lăn ra, liếc tôi sắc như dao. Trời, bộ mặt hắn! Chiếc xe lại lăn vào và chở gã cứu đắm ra. Tôi nghe thấy đội cổ vũ viên gọi to tên hắn.

Gã kỹ thuật viên nói, “Nhóm tiếp theo.”

Sàn nhà lạnh, đầy sương giá, phát ra tiếng kêu lạo xạo dưới chân. Phía trên, ánh sáng rít lên trong cái ống dài màu trắng lạnh. Có mùi dầu graphit, như trong ga ra ô tô. Có mùi sợ hãi chua chua. Qua cái cửa sổ, nhỏ, sát trần nhà, tôi thấy những con chim sẻ xù lông trên dây điện, như những hạt cườm màu nâu. Đầu chúng giấu trong đám lông vì lạnh. Gió lùa trong những ống xương của tôi mỗi lúc một rít lên Báo động phòng không! Báo động phòng không!

“Đừng có hét toáng lên, Thủ lĩnh.”

Báo động phòng không!

“Yên nào. Tao sẽ đi đầu. Sọ tao dày lắm, chúng không đánh thủng được đâu. Và nếu không đánh thủng được sọ tao thì cũng chẳng đánh thủng được sọ mày.”

Tự bò vào bàn, dang tay xếp cho khít cái bóng trên đó. Rơle đóng vòng đai và cổ tay, mắt cá và ép hắn lại vào cái bóng. Một bàn tay vươn ra lột cái đồng hồ mà hắn đã thắng được của Scanlon, vứt xuống cạnh tấm bảng điều khiển, nó vỡ tung, các bánh răng và đinh vít lăn lóc khắp nơi, một cái lò xo văng tới tận tấm bảng điều khiển và nằm chết gí ở đấy.

Dường như không mảy may sợ hãi, hắn nhoẻn miệng cười với tôi.

Chúng bôi dầu graphit lên hai thái dương hắn. “Cái gì đấy?” hắn hỏi. “Dầu dẫn điện,” gã kỹ thuật viên trả lời. “Xức dầu cho tao cơ đấy, dầu dẫn điện à. Thế tao có được lĩnh vương miện bằng gai không?”

Bọn chúng xoa dầu. Hắn hát cho chúng nghe làm tay chúng run lẩy bẩy.

“Chọn lấy kẽm Rễ Rừng dùng nhé Cholly…”

Khoác lên đầu McMurphy những vật trông như cái tai nghe, vương miện bạc đầy gai lên hai thái dương đã được phủ graphit. Chúng tìm cách bịt tiếng hát bằng một đoạn ống cao su bắt hắn cắn vào.

” Làm từ li-no-lin nát lạnh.”

Xoay núm điều khiển và cỗ máy rung lên, hai cánh tay máy tóm lấy các mỏ hàn và cúi xuống trên đầu hắn. Hắn nháy mắt với tôi và lúng búng nói chuyện với tôi, không thành tiếng trong cái miệng vướng víu, muốn nhắn tôi điều gì qua cái ống cao su khi hai cái mỏ hàn tiến sát tới đai bạc trên thái dương hắn – vòng lửa sáng chói, đốt hắn cứng đờ, nâng hắn khỏi bàn tới khi chỉ còn đôi cổ tay và mắt cá sát xuống bàn và qua ống cao su sắp nát thoát ra một tiếng nghe như là ô hô! rồi hắn đã đóng sương giữa luồng tia sáng.

Ngoài cửa sổ những con chim sẻ bốc khói rơi khỏi đây.

Bọn chúng đưa hắn ra trên xe đẩy, người hắn vẫn còn run giật, mặt phủ đầy sương muối trắng. Bị ăn mòn. Axit trong bình ắc quy. Tên kỹ thuật viên quay qua tôi.

Cẩn thận với tên này. Tôi biết hắn. Giữ lấy!

Nghị lực gì nữa lúc này.

Giữ lấy hắn! Quỷ tha ma bắt bọn mày đi! Lần sau thì chớ có nhận những tên không uống thuốc ngủ từ trước.

Vòng đai đóng vào cổ tay và mắt cá tôi.

Có mạt sắt trong lớp dầu graphit, chúng nghiến vào thái dương.

Khi nháy mắt, hắn đã nói gì đó với tôi. Đúng là hắn muốn nói gì đó.

Một đứa cúi xuống, đưa hai cái mỏ hàn vào đai bạc trên đầu tôi.

Cái máy cong hai cánh tay lại.

BÁO ĐỘNG PHÒNG KHÔNG!

Trúng đạn giữa đường chạy, đang lao xuống sườn núi. Chẳng thể chạy lên trước hay lùi lại, nhìn vào đầu ruồi trên họng súng là mi chết, chết, chết.

Chúng tôi đi ra theo lối mòn, băng qua bãi sậy tới đường sắt. Tôi áp tai vào đường ray, thanh sắt nóng bỏng chà lên má.

“Chưa có gì,” tôi nói, “trong vòng một trăm ki lô mét, cả phía này lẫn phía kia.”

“Hừ,” bố tôi chỉ nói.

“Chẳng phải chúng ta đã từng nghe bò rừng như vậy sao? Cắm dao xuống đất, ngậm răng vào cán, nghe được tiếng cả đàn từ rất xa.”

“Hừ!” Ông nhắc lại, nhưng lại có vẻ buồn cười. Bên kia đường sắt là một đống lúa mạch lép từ mùa đông năm ngoái. Trong đầy chuột, con chó bảo vậy.

“Đi lên hay đi xuống đường ray, con?”

“Đi sang bên kia bố ạ. Con chó bảo thế.”

“Chó không đi cạnh ta.”

“Chẳng sao. Đằng kia có chim, con chó bảo thế.”

“Còn bố con thì bảo rằng chúng ta nên đi lên dọc đường.”

“Tốt nhất là băng qua đường, đến chỗ đụn thóc lép ấy, con chó nói vậy.”

Qua đường – và thình lình từ trên trời rơi xuống một đám người chạy đầy trên đường ray, bắn túi bụi vào bầy chim trĩ. Hình như con chó đã chạy quá xa về phía trước và xua hết cả chim khỏi đụn thóc ra chỗ đường ray.

Con chó bắt được ba chú chuột.

… Con người, Con người, CON NGƯỜI, CON NGƯỜI… cao lớn vai rộng, mắt nháy như một vì sao…

Lại kiến, ôi quỷ quái thật, bao nhiêu là kiến, chúng cắn, bọn chết giẫm. Con còn nhớ không, chúng ta đã nếm thử và phát hiện chúng có vị như dưa chuột muối? Nhớ không? Con bảo không phải dưa chuột muối còn bố nói giống đấy, còn mẹ con nghe thấy và mắng cho bố một trận: dạy cho trẻ con ăn sâu!

Hừ – một cậu bé da đỏ thực thụ phải sống được bằng bất cứ thứ gì và có thể ăn tất cả những gì chưa kịp ăn mình.

Chúng ta không phải là người da đỏ. Chúng ta là những người văn minh, nhớ lấy.

Bố, bố đã nói với con: bao giờ bố chết, con hãy găm bố lên bầu trời.

Họ của mẹ là Bromden, và cưới bố xong cũng là Bromden. Bố nói tôi sinh ra với một cái tên duy nhất, chui ra ngoài đời vào một cái tên, tựa như con bê non rơi ra trên chiếc khăn trải sàn, khi mẹ nó đòi đứng trên bốn chân mà đẻ nó. Tee Ah Millatoona, Cây Thông Cao Nhất Trên Núi, còn tôi có Chúa chứng giám, là người da đỏ cao to nhất trong toàn bang Oregon, và có thể là cả trong bang Califo ia và Idaho nữa. Tôi đã sinh ra cho cái tên đó.

Anh có Chúa chứng giám là thằng đần độn nhất nếu nghĩ rằng một người phụ nữ Thiên chúa giáo lại chịu mang họ Tee Ah Millatoona. Anh sinh ra cho một cái tên – tốt thôi, và tôi cũng sinh ra cho một cái tên. Bromden. Mary Louise Bromden.

Và khi chúng ta chuyển vào thành phố, bố tôi nói, với cái tên đó chúng ta sẽ nhận được phiếu trợ cấp xã hội dễ dàng hơn.

Một người cầm cái búa đóng đinh đang đuổi theo ai đó, và sẽ kịp nếu hắn cố thêm chút xíu. Tôi lại thấy các tia chớp lóe lên, màu sắc nhấp nháy.

Dì ơi, đừng nhắm mắt. Và cũng đừng ngáp dài. Nhốt lấy bầy gà con. Đàn ngỗng có ba con. Ba con bay ba hướng. Có con bay về nhà. Có con thì bay ra. Còn một con bay qua. Tổ cúc cu và hót. Rủ các bạn cùng theo. Một, hai, ba… NÀO BƯỚC.

Bà nội ê a bài vè. Ngồi trên lưới phơi cá khô và đuổi ruồi, chúng tôi chơi trò này hàng giờ liền. Trò chơi gọi là “Dì ơi đừng nhắm mắt”. Đếm các ngón tay trên hai bàn tay tôi xòe, mỗi âm tiết một ngón tay theo nhịp lời đọc của bà.

Dì ơi, đừng nhắm mắt (năm ngón). Và cũng đừng ngáp dài (năm ngón, tay bà đen như càng cua đập nhẹ vào mỗi ngón tay tôi theo từng âm tiết và từng móng tay tôi từ phía dưới nhìn lên bà, như những khuôn mặt nhỏ xíu đang muốn đến lượt mình bay lên theo con ngỗng bay trên tổ chim cúc cu).

Tôi rất thích trò chơi, và yêu bà nội. Tôi không thích bà dì nhốt gà con, không yêu bà ta. Tôi thích con ngỗng bay trên tổ chim cúc cu. Tôi yêu nó và yêu bà, yêu cả những hạt bụi đọng trên nếp nhăn trên mặt bà.

Lần sau, tôi thấy bà, bà đã chết cứng giữa thành phố Dalles, trên vỉa hè, những chiếc áo sặc sỡ vây quanh, người da đỏ, người chăn gia súc, thợ cày. Người ta chở bà trên xe đến nghĩa trang thành phố, đắp đất sét đỏ lên mắt bà.

Tôi còn nhớ những chiều nóng nực, nhớ sự yên tĩnh trước cơn dông khi những con thỏ cuồng lên chạy lao cả vào bánh ô tô tải chạy điên.

Thằng Joey Cá Mú Nằm Thùng, sau khi ký giao kèo có trong tay hai mươi nghìn đô la và ba chiếc Cadillac. Khốn nỗi hắn không biết lái cái nào.

Tôi thấy con xúc xắc.

Tôi thấy nó từ phía trong, tôi ngồi tận dưới đáy. Như một mẩu chì gắn vào cục xương để khi gieo sẽ được điểm mình cần. Người ta gắn chì vào con xúc xắc để luôn luôn được mắt rắn, được mặt nhất, tôi là hòn chì, sáu gờ nổi lên xung quanh như những chiếc gối trắng, là mặt luôn luôn nằm dưới khi con xúc xắc được ném ra. Người ta nạp con xúc xắc kia cho số mấy? Tất nhiên cũng ở mặt nhất. Mắt rắn. Chúng hùa với những kẻ gian lận để bắn hắn, vậy mà chúng nạp tôi vào.

Chú ý, tôi gieo đây. Ôi, thiên thần ơi, bếp xông khói đã trống rỗng mà cô bé lại muốn có đôi giày dạ tiệc mới. Gieo này. Bụp!

Bỏ cuộc thôi.

Ẩm ướt. Tôi đang nằm trong vũng nước.

Những con mắt rắn. Người ta lại gieo. Tôi thấy một điểm cao tít trên đầu. Hắn không thể chơi bằng con xúc xắc băng giá này đằng sau cửa hàng thức ăn gia súc trong hẻm được – ở Portland.

Góc phố lạnh lẽo như trong hầm ngầm bởi vì mặt trời đã lăn. Hoàng hôn. Cho con… đi thăm bà. Mẹ nhé?

Hắn nói gì khi nháy mắt với tôi?

Một con bay vào nhà, một con thì bay ra.

Đừng đứng chắn đường tôi đi.

Mụ y tá, quỷ tha mụ đi, không được chắn đường, chắn đường. CHẮN ĐƯỜNG.

Cô giáo bảo đầu con thông minh lắm, nhóc, sẽ trở thành người quan trọng…

Con sẽ thành ai, bố? Thành thợ dệt thảm như chú Chó sói C&N? Thành thợ đan giỏ? Hay thành một người da đỏ rượu chè?

Này, anh đứng máy, anh là người da đỏ sao?

Vâng, người da đỏ.

Thế mà mày nói năng lưu loát đấy chứ?

Vâng.

Ờ… xăng thường loại ba đô la.

Chúng sẽ không làm ra vẻ hách như thế nếu biết tôi với mặt trăng đang toan tính chuyện gì. Tôi đâu phải là một người da đỏ bình thường mẹ khỉ… Ai bước sai chân thì… gì nhỉ? Chẳng qua vì nghe nhịp trống chiêng.

Lại mắt rắn nữa. Quỷ quái thật, những con xúc xắc này đã đánh mất linh hồn.

Sau khi người ta an táng cho bà, bố tôi cùng chú Chó sói Chạy và Nhảy lại đào xác bà lên. Mẹ không đi với chúng tôi; trong đời mẹ chưa bao giờ nghe thấy chuyện như vậy. Treo người chết lên cây! Thật kinh tởm.

Chú Chó sói C&N và bố tôi ngồi khám say ở Dalles hai mươi ngày chơi bài rummy, vì tội Xâm phạm đến Người chết.

Đấy là mẹ chúng tôi – khỉ gió!

Chẳng có gì khác nhau cả, hai thằng ngốc. Không có quyền lôi người đã chết ra khỏi mộ. Khi nào thì tụi bay thông minh lên được, bọn da đỏ chết tiệt kia? Nào, bà ta đâu? Tốt nhất hãy khai ra.

Ai, cút mẹ mày đi, thằng mặt nhợt, chú C&N vừa nói vừa vê thuốc. Còn lâu tao mới nói.

Cao, cao nữa, cao mãi trên đồi, trên ngọn cây thông, trên gò, bà tôi chạm vào gió bằng bàn tay thân thương, đếm mây bằng bài hát cũ… đàn ngỗng có ba con.

Mày định nói gì với tao khi nháy mắt?

Dàn nhạc đang chơi. Xem kìa… trời đẹp quá, hôm nay là ngày Bốn tháng Bảy.

Con xúc xắc dừng lại.

Chúng lại đẩy máy về phía tôi… không hiểu…

Hắn nói gì nhỉ?

… không hiểu McMurphy đã làm tôi to lại như thế nào.

Tên kia lại nói: Giữ bóng thật chắc.

Chúng ngay ngoài đó. Đen nhẻm trong bộ quần áo trắng, qua khe cửa chúng tè lên người tôi rồi buộc tôi tôi đã đái dầm ướt sũng cả sáu chiếc gối. Sáu điểm. Tôi tưởng căn phòng là con xúc xắc. Một điểm, mặt đất rắn trên cao, vòng tròn, ánh sáng trắng trên trần… là thứ tôi vừa nhìn thấy… trong cái phòng vuông bé tẹo này… nghĩa là đã đêm muộn rồi. Tôi đã ngất đi mấy tiếng đồng hồ? Đang phun một ít sương mù, nhưng tôi sẽ không ngụp lặn và lẩn trốn trong đó nữa… Không, sẽ không bao giờ…

Tôi từ từ đứng dậy, hai bả vai cứng đờ. Những chiếc gối trắng của Buồng Cách ly ướt đẫm, tôi đã đái lên đấy khi bị ngất. Tôi vẫn chưa thể nhớ lại được hết, bèn đưa cổ tay dụi mắt cho đầu óc sáng sủa hơn. Tôi đã làm được. Trước đây, chưa bao giờ tôi thoát ra khỏi những thứ này.

Tôi lê bước đến ô cửa sổ tròn bọc lưới sắt và gõ vào đấy. Khi thấy tên hộ lý bê cái khay từ hành lang đi lại, tôi hiểu lần này tôi đã thắng.