Chương 4: Chúa tể mười vạn núi

Quan sát giây lâu, lôi bản đồ ra coi lại, Võ Minh Thần tấm tắc bảo Quản Kình:

– Thập Vạn Đại Sơn quả là vùng cứ hiểm đắc địa, đúng như thiên hạ đồn. Chiếm nơi này hàng ngàn vạn quân cũng bó tay. Theo lời Thần Pháo, từ vùng này vào tới bản doanh cũng còn cả trăm cây số, quân tuần tiễu qua lại, nhưng phải đi sâu chừng hai ba chục cây số nữa mới đến tiền đồn tiền trại. Nay mới giữa trưa, ta nên đi ngay cho sớm gặp quân tuần càng hay.

Quản Kình khen phải, thầy trò giục ngựa đi miết. Đường này là đường giao thông qua các vùng rải rác sơn thôn. Đường xuyên sơn hiểm trở gập ghềnh, nhiều chỗ chạy qua những hẻm núi hai bên dựng như thành, không khác Lạc Phụng Ba, Hoa Dung Đạo. Lại có nhiều khúc tưởng không có đường phải đi qua núi đèo khe thác, hoặc cầu treo, không khác sơn đạo của Ba Thục xưa.

Có khúc sơn đạo dài cả chục cây số, chênh vênh trên mây, coi vừa hùng vĩ vừa nguy hiểm đến chóng mặt. Mỗi khu có sơn thôn lại có đường mòn khác rẽ vào, tuy hiếm nhưng nương đồi san sát, coi rất sầm uất, khoảng ba giờ chiều vừa đi hết một khúc sơn đạo, tới một con thung rất phong quang, bỗng Quản Kình gọi giật:

– Cậu hai à! Có đoàn nhân mã sau ta!

Võ dòm lại, ẩn hiện sau cành lá, quả có một toán hơn chục người ngựa rầm rập chạy xa xa khúc sơn đạo vòng thúng, đang đi tới.

Chưa rõ bọn nào, hai thầy trò bàn nhau vọt xuống thung lũng, ẩn tạm sau lùm cây rậm.

Thoắt trông lên, chẳng thấy đâu nữa, chỉ có hai bóng mặc lối xạ phang chạy thẳng xuống chân đồi, lẩn đâu mất dạng.

Tưởng có lối khác, hai thầy trò vừa định đi liền, bỗng nghe tiếng chó sủa ran, rồi thấy hai con cọp vằn to lớn từ nẻo rừng Bắc vọt chồm ra, có một đàn hơn mười con chó săn đuổi theo cắn chân, khiến hai con cọp nổi giận, quay lại tát. Nhưng chó rất khôn, cứ con cọp dừng, chúng lại lảng liền, thình lình nghe tiếng quát lanh lảnh, rồi một con ngựa bạch từ sau bóng cây lá vọt ra, mang trên lưng một thiếu phụ đẹp tuyệt trần trạc hai mươi bảy, hai mươi tám, mặc toàn quần áo trắng, choàng áo trắng, trước mặt nàng lại có một chú bé độ năm, sáu tuổi mặc quần áo vóc đại hồng, đầu lại chít khăn nhiễu, coi rất ngộ nghĩnh, thông minh. Chú bé chỉ trỏ, reo hò, nhấp nhổm, thiếu phụ vừa tế ngựa, vừa cúi mặt như dặn bảo chi.

Bỗng nàng ngẩng lên, quát lảnh, giọng thánh thót như tiếng đàn:

– Hồ vằn! Mi còn định chạy đi đâu? Chưa chịu theo đầu phục?

Lời vừa dứt, đã thấy nàng thả vút ra một sợi giây xích sáng loáng, chỉ nhỏ như sợi giây gai, cách đến sáu mươi bộ ngoài, thòng lọng chụp trúng cổ con cọp, lôi nghiến lại. Con cọp rống lên, lồng đảo giằng co phá chạy, thiếu phụ nhảy vèo xuống đất, lôi con cọp dữ lại, gọi lớn:

– Kiệt nhi! Thử bắt con kia, mẹ coi được chưa?

Ngựa vẫn chạy, chú bé áo vóc “dạ” lớn, rượt theo con thú dữ. Chú bé này vẻ thích chí hết sức, vừa nhấp nhổm vừa vỗ luôn tay, thân hình bé nhỏ như dính chỏm yên tưởng sắp bắn văng theo đà ngựa phi nước đại.

Con bạch mã này đúng loại Thiên Lý Long câu, chạy như gió thoảng, thoáng đã cách con cọp chừng bốn mươi bộ ngoài, chú bé cũng thả vút ra một sợi xích thòng lọng nhỏ, bọn Võ Minh Thần chỉ thấy nháng loằng ngoằng cái, con cọp đã bị thòng lọng xiết cổ, kêu rống lên, đúng lúc nó định vọt lên đồi.

Chú bé cười khanh khách, thiếu phụ vừa lần dây xích vừa reo lên khen con, chú bé lập tức quất ngựa chạy vòng lại, lôi con cọp theo, con cọp giằng co phá chạy không nổi, bị lôi sềnh xệch. Thầy trò Võ Minh Thần đứng chỗ khuất bên đồi coi không khỏi phục thầm chú bé. Nào dè mới lôi được mười thước, thình lình trong bụi có một bóng người chạy ngựa vọt ra, ré lên:

– Hầy à! Thằng bé này sao dám bắt cọp tao nuôi! Trả tao, mày!

Lời dứt, y đã sấn tới gần con cọp, thò tay túm lấy dây xích ngót hai thước móc vào dây quăng, y giật tháo phăng ra, dắt luôn con cọp chạy lên đồi. Tên này coi vẻ lợi hại hết sức, con cọp bị lôi đi rống lên vang động, nhảy chồm tát với theo, tên này ngoái lại chụp luôn lấy cổ con mãnh thú, điểm huyệt con thú cứng đờ, y vác luôn lên vai, cứ thế phóng.

Chú bé la lớn, rượt theo, lúc đó thiếu phụ cũng vừa lôi con thú lại, tháo xích, sực thấy kẻ lạ cướp cọp của con mình, nàng lật đật bỏ con thú nằm quay đấy, chạy vọt theo, gọi lảnh:

– Kiệt nhi! Kiệt nhi! Đứng lại! Để đó mẹ! Chú kia đâu tới làm ngang dữ vậy? Lãnh thổ này thuộc ai, chú không biết sao, dám bảo cọp chú nuôi?

Thoáng tên kia đã chạy lên đồi. Bạch mã thấy y cướp cọp ngang xương, cứ sải vó lên đồi, tên kia chạy vọt vào sơn đạo, chú bé vừa hét đòi, vừa tóm “cổ chó” thòng lọng lao chồm theo, không chịu bỏ, thiếu phụ ngước trông lên, giật mình réo gọi lanh lảnh:

– Kiệt! Quay lại con! Không được đuổi theo!

Lần này nàng gọi lối “truyền thanh vạn lý” rót vào tai, mãnh liệt, chú bé gò rập ngựa. Lúc này đã lao vào sơn đạo năm sáu chục thước, ngựa vừa dừng đứng chân sau, quay lại, bất thần… “rầm”. Cả một khúc sơn đạo dài gãy rắc chân ngựa, hiện ra vực thẳm phía dưới, nguy là khúc sơn đạo này như một cầu treo chênh vênh trên hai chỏm đầu đồi, không còn ngả thoát xuống nổi!

Thiếu phụ nhác thấy biết ngay “có biến” vừa giật mình kinh sợ ngó quanh, bỗng nghe có tiếng người quát nhọn hoắt:

– Người đẹp đứng lại! Ta không hại nó đâu! Chỉ muốn nói với nàng câu chuyện!

Lúc này nàng đã tới lưng đồi, nghe quát lập tức xẹt sau một thân cây đảo mắt trông quanh! Chỉ thấy trên cao, sơn đạo chênh vênh chạy vào rặng núi đá, bị cắt đứt một khúc dài, phía ngọn đồi, chú bé đứng ngựa quay đầu sơn đạo gãy, ngựa hí vang lừng, đầu này bầy chó hếch mõm sủa ran. Trên sơn đạo, thấy triệt lối về, chú bé vùng cất tiếng gọi mẹ và thò tay tý hon rút phắt cây trung liên cắm bên ngựa, khệ nệ chĩa theo tên cướp cọp bắn một tràng. Tuy chú ta có sức nhưng nhỏ con, khệ nệ bắn cây súng lớn, coi rất ngộ nghĩnh, khiến bọn Võ Minh Thần muốn phì cười khen thầm:

– Chà! Chú bé con nhà ai coi can đảm dữ à, bị chặt cầu mất lối vẫn không sợ! Lạ thật! Tụi nào định dở trò gì đây? Ta phải kiếm cách cứu chú bé mới được!

Bỗng nghe có tiếng cười thét:

– Người đẹp! Con vịt dại dột bắn càn, sao không bảo nó đứng yên cho người lớn nói chuyện? Muốn nó bị bắn què tay?

Thấy con đứng lộ thiên, lại sợ nó nổi nóng, xông bừa vào vách núi, thiếu phụ hết sức lo cho con nhỏ, vùng gọi lớn:

– Kiệt nhi! Sao không xuống ngựa… ngồi chênh vênh thế ngã sao?

Nàng muốn nói ý cho nó biết nấp vào sau con ngựa, nào dè tiếng la vụt truyền:

– Không được xuống ngựa! Bảo nó cứ ngồi nguyên và ném cây súng xuống chân! Người đẹp khôn hơn mỗ gia rồi!

Thiếu phụ bực tức, cố nén gọi con, đứa bé ức quá, phải tuân lời, ném cây súng xuống chân ngựa.

Thiếu phụ lảnh giọng:

– Bọn mi to gan, mất trí khôn, dám bức ta! Muốn gì sao chưa ra mặt?

Tiếng cười ngạo vang lên:

– He hé! Dọa mỗ gia ư? Giao Long cái ra khỏi vực. Giao Long con đứng trước mũi súng mỗ gia, hé hé! Mỗ gia rình cả tuần rồi! Chịu nói chuyện tức thời với mỗ gia hay đứng đó xem Giao Long con nhảy xuống vực chơi?

Dứt lời bỗng nghe “đoàng” tiếng súng, trên sơn đạo chú bé giật mình, dáo dác sờ lên đầu. “Đoàng” phát nữa bay luôn nếp khăn trên đầu, giải khăn bị đạn xói vút tung bay phất phơ rớt là là xuống vực.

Rồi bỗng nghe tiếng súng một nổ đì đẹt, con ngựa cứ lồng đảo xẹt ngang lùi ngược, co chân, múa vó, chừng bị đạn xói mặt sơn đạo liếm sát móng, thoắt đã kề mép sơn đạo cụt, chú bé cứ dáo dác dòm quanh, chỉ sợ sẩy vó rớt xuống vực như bỡn. Tình mẫu tử vô biên, thiếu phụ nhác cảnh nguy hiểm, không nhịn nổi vùng thét lớn:

– Dừng lại! Ác nhân! Mi hết lương tri sao đem con nít ra đùa hả! Muốn gì cứ nói với ta đây! Để nó yên!

Tiếng lạ ré lên xao gợn:

– Mỗ gia không đùa! Mỗ gia sẽ làm thật, nếu người đẹp không biết điều! Nhớ kỹ nó đứng trước mũi súng! Giờ nghe rõ đây, người đẹp hãy giơ hai tay lên trời, tiến lên mười bước!…

Thiếu phụ cau mày hỏi lớn:

– Muốn gì nói rõ.

– Muốn người đẹp theo mỗ gia về động.

Như bị điện giật, thiếu phụ vùng hét:

– Súc sinh! Dám phạm đến ta thế sao? Mi là đứa khốn khiếp nào dám bắt ta theo?

Tiếng lạ từ trên núi đá hắt xuống lạnh như tiền đồng:

– Mỗ gia là đứa đang chĩa súng vào mẹ con nàng và hiện mạnh hơn cả ngàn vạn binh hùng tướng mạnh nàng đã gặp! Ta cũng là đứa ra điều kiện cho nàng, giơ tay, tiến ra và ngủ tạm một giấc, để rời khỏi miền này không còn tiếc nữa!

Thiếu phụ giận xung thiên quát lên mắng không tiếc lời, bỗng nghe súng nổ đì đẹt, ngựa bạch trên sơn đạo bị xói dồn lùi tới miệng vực, thiếu phụ tuy can trường nhưng trước tình thế bất lợi hoàn toàn đành thúc thủ, vì mạng sống của con dại, nàng thở phì một cái mạnh như trút hết uất ức, vùng quát:

– Thôi đủ rồi! Bỏ trò đó đi! Ta thuận đi nhưng còn con ta, ta phải thấy nó thoát ra về mới được.

Tiếng lạ vọng xuống lạnh lẽo:

– Mỗ gia hứa, sẽ để nó về, không sai! Nhưng mỗ gia ra điều kiện. Không phải nàng! Giơ tay, tiến ra! Mỗ gia nóng ruột rồi đó!

Thiếu phụ mím môi, suy nghĩ, lại quát:

– Được! Ta cũng đành tin! Nhưng ít nhất ta cũng phải thấy rõ mi là tên khốn nào lại mất công đến tận xó rừng này rình chực chứ?

– Hé, hé! Được! Nhưng nàng không bắn được đâu! Tầm súng không tới đâu!

Lời dứt, từ sau ghềnh núi sơn đạo, lừ lừ tiến ra một bóng nhân ma quái kỳ dị lạ lùng. Người quần áo đen thui, ngựa cũng trùm vải đen, mặt người ngựa đều bịt kín, chỉ hở hai con mắt, cao lênh khênh, tay trái cầm một khẩu súng, tay phải cầm một cuộn dây thừng đen sì, đầu có móc sắt. Bóng quái dị nói lớn:

– Ta sẽ kéo sơn đạo gãy kia lên cho thằng nhỏ về nhà! Còn nàng chớ nhiều lời, hãy sửa soạn ngủ một giấc mau!

Y hất hàm, thiếu phụ đảo óc tính, tất cả đều muộn rồi, mắt nhìn quanh, chợt lúc đó mới phát giác một bóng đứng chỗ khuất xế sau nàng, chĩa họng súng ra:

– Hạ tên này không khó, nhưng còn con dại trên kia? Tên quái dị coi nanh ác không vừa, nó dám bắn thằng nhỏ như chơi! Trời, ức thật! Cá chuối đắm đuối vì con cảnh này đây! Dẫu có bắt tên kia cũng chẳng ích chi, nó chỉ là con cờ tốt thí mạng!

Đầu óc muốn phát điên vì giận, thiếu phụ sa cơ từ từ giơ tay lên, tiến ra chỗ trống, tên quái dị áo đen cười the thé, tiến ra gần chỗ chú bé dưới này, tên đồng đảng chĩa súng cũng lừ lừ bước tới gần thiếu phụ xế ngang sườn.

Thiếu phụ đảo nhìn theo hình bán nguyệt bỗng giật mình, sực thấy sau lưng tên đồng đảng có một bóng lực lưỡng vọt ra, quất một báng súng vào đầu tên này sụm liền. Có tiếng quát vọng lên sơn đạo:

– Đứng lại! Gã trùm mặt! Người bị súng chĩa vào đầu rồi!

Tên quái dị giật mình dằn tay súng, y đứng chênh vênh trên sơn đạo, cách chú bé chừng mười sải, dòm xuống thét:

– Còn thằng nào nữa đó? Muốn đứa nhỏ này xuống vực ư?

– Hà hà! Nó xuống vực, ngươi cũng xuống vực, nó chết, ngươi cũng chết theo! Ngươi có giỏi cứ cho nó xuống vực đi sẽ thấy! Ta cũng rình đây lâu rồi, ta muốn nó chết vì tay mi, còn mi, mi mất mạng về ta! Hà hà!

Từ sau lùm cây, một chàng tuổi trẻ lừ lừ tiến ra, đứng bên sườn đồi, chĩa ngọn súng trường lên sơn đạo:

– Đứng lại! Nếu mi nhúc nhích, ta hạ liền!

Tên quái dị tay vẫn chĩa súng vào chú bé, ngoái dòm xuống thấy chàng trai áo chàm lạ đứng lù lù, y phát tiếng cười thé nhọn, bất thần chĩa luôn súng về phía chàng. Đoàng! Tiếng nổ dòn tan, đạn xói tung khẩu súng y, ném văng xuống vực, muốn tê bại cả tay!

– Lần sau ta sẽ bắn thẳng vào đầu! Giơ tay lên! Đừng hy vọng tên thủ hạ dưới này! Ta cho nó “ngủ” rồi!

Bất thần, chàng nhích về phía núi đá xế sau y, nổ một phát. Trên sơn đạo cao chót vót ngay sau ghềnh, một tên vừa thò cổ ra định bắn trộm, rú lên quăng súng ngã lộn xuống vực.

Gã quái dị ngó lại giận hết sức, nhưng lúc đó đã lượng rõ nghề bắn của chàng trai áo chàm, y phải đưa hai tay lên hét:

– Mày muốn gì lại can thiệp vào việc chúng tao!

– Ta muốn cả mi và đứa bé xuống vực chơi! Nhưng nếu mi không thích đổi mạng thì cút đi cho mẹ con người ta về! Tùy mi chọn! Còn tụi thủ hạ sau ghềnh, đuổi chúng cút trước đi cho khuất.

Thấy chạm phải tay cứng cựa, gã quái dị áo đen có vẻ xuống nước hét:

– Thằng ngu! Mạng tao lớn tuổi đổi mạng con nít sao? Mày muốn nó chết cứ giết! Tao không cần đứa nhỏ, tao cần mẹ nó!

– Vậy để khi khác! Giờ hãy cút đi!

Dứt lời, chàng trai hú lên một tiếng, Quản Kình vọt lại, vẫy thiếu phụ:

– Bà! Ta lên cứu em bé mau.

Thiếu phụ cả mừng, cùng Quản Kình vọt lên đồi. Kình không quên sốc tên kia nằm lên yên ngựa, dắt lên theo. Chàng trai chính là Võ Minh Thần, cứ hờm súng, quét nhãn tuyến dọc từ chỗ gã quái dị vào ghềnh đá chỉ chực một chút khác ý, nổ liền, hô vang:

– Em bé sao không xuống ngựa?

Chú nhỏ mừng rỡ, định nhảy xuống, vồ cây trung liên, nhưng quái nhân kia đã hét:

– Cứ ngồi đó! Hai bên lùi dần về! Chớ quên thủ hạ tao vẫn chĩa vào nó! Không được nhảy xuống! Không được nhặt cây súng! Con nít hay bắn càn! Võ Minh Thần biết ý không để y bị bức quá nên cũng phải nhượng bộ, không tiện đẩy vào chân tường!

Thiếu phụ cùng Quản Kình vọt lên ngọn đồi phục ngay chỗ đầu sơn đạo. Khúc sơn đạo bằng gỗ còn nằm dọc sườn đồi thành dựng. Quản Kình chưa kịp cử động thì thiếu phụ đã thò bàn tay ngà ra cầm một đầu nâng lên. Sức nàng mạnh dị thường, coi như nâng cái thang bấc, Quản Kình thấy đầu kia bị gãy, khẽ bàn:

– Bà gọi em bé buộc lại cẩn thận!

– Khỏi cần! Chú cứ gọi giùm nó đi, tôi cần ẩn mặt!

Quản Kình gọi lớn, thiếu phụ chợt phát ra một tràng tiếng rúc chi rất lạ tai, lập tức con ngựa ngoái cổ ngoạm luôn cây trung liên, hí một tràng, nhấc vó định vọt. Quản Kình dòm ra phát ớn, thấy sơn đạo bị gãy khúc hơn sải, thiếu phụ nâng lên, chẳng có gì móc nối, ngoài bàn tay nâng tận đằng này, đang nặng bỗng nhẹ tếch, nào dè con bạch mã vừa hí xong, vụt nhảy liền, “rập!” Nhân mã hạ xuống êm ru, đầu sơn đạo vẫn không nhúc nhích! Ngoài kia gã quái dị cũng quay ngựa, đi vào.

Từng bước, ngựa bạch đi hết đoạn sơn đạo gãy nhảy vọt xuống đồi. Quản Kình cùng thiếu phụ lăn vào bên chân ngựa sau mô đất, quơ cây súng, đúng lúc gã quái dị lao vọt vào ghềnh đá, nổ đẹt đẹt… “chíu” đầu cầu. Thiếu phụ nổi giận xả súng bắn “tặc tặc”, chú bé nhảy xuống, phục bên mẹ, Võ Minh Thần lúc này đã ẩn sau điểm tựa gọi lớn. Quản Kình cùng mẹ con thiếu phụ mới ngưng bắn xuống thung, bỏ mặc tên đồng đảng nằm mọp rũ trên lưng ngựa, vì không may đạn trúng chỗ phạm y đã chết ngay.

Thiếu phụ nghiêng mình chào, cám ơn hết sức, thánh thót như chim oanh:

– Không được tiên sinh cứu giúp, bữa nay mẹ con tôi đã bị nó bức nguy rồi! Chẳng hay tiên sinh tới miền này có chuyện chi?

Võ Minh Thần thấy thiếu phụ nói năng dịu dàng, tuổi lại lớn hơn mình nhiều, nên lễ phép thưa:

– Em bên Nam sang, tới miền Thập Vạn này tìm bản doanh Chúa núi!

Vẻ ngạc nhiên hết sức, thiếu phụ nhướng cao mày liễu, dịu dàng.

– Tiên sinh tới bản doanh Thập Vạn Đại Sơn… có chuyện chi đó?

Võ Minh Thần lễ phép:

– Dạ có chút việc riêng… quan hệ! Bà ở miền này có biết chỗ ở của vị Chúa soái Thập Vạn?

Thiếu phụ mỉm cười không đáp, nàng có dáng tò mò, hỏi:

– Chẳng hay tiên sinh có thể cho biết được việc gì chăng? Tiên sinh tìm chúa Thập Vạn?

Võ Minh Thần thấy mẹ con thiếu phụ nói năng hòa dịu, vẻ đẹp tuyệt trần, cao quý rõ người mệnh phụ chinh đính, có ý quý nể, thật thà đáp:

– Chẳng giấu chi bà, em bên Nam sang lần đầu đặt chân tới miền núi hiểm nay. Em có ý sang bản doanh Chúa Thập Vạn, để kiếm một người… có biết rõ cái chết thê thảm của mẹ cha em, người này là vị tướng lạc thảo Tàu, Chúa núi Mã Đầu bên Quảng Tây, họ Thoòng tên Mềnh.

Vừa nghe đến đấy, chú bé áo vóc đại hồng vùng reo lên:

– À! Chú Thoòng! Pạc Hoọc Đại Vương râu Trương Phi!

Thiếu phụ trừng mắt mắng nhẹ, vẻ sửng sốt, hỏi vội:

– Tìm Thoòng Mềnh núi Mã Đầu để trả thù? Hay…

– Dạ không! Chúa Mã Đầu là người đã chứng kiến cái chết của mẹ cha em, lúc em còn nhỏ! Thưa, bà có biết Thoòng tiên sinh?

Thiếu phụ nghe Võ nói, lộ hẳn vẻ mừng rỡ, khi được hay Võ tìm không phải vì thù, lại thấy Võ Minh Thần tỏ vẻ thành thật lạ lùng, nàng càng thêm quý mến, mỉm cười bảo:

– Thoòng tiên sinh hiện là cánh tay mặt của Chúa Soái Thập Vạn Đại Sơn, người Vân Nam ai không biết? À tiên sinh nói bên Nam sang, phải tiên sinh là người Việt?

Võ Minh Thần vừa gật đầu, bỗng thiếu phụ sáng hẳn mắt, nói luôn một tràng tiếng ta thánh thót:

– À thế ra ta người cùng xứ! Đúng duyên kỳ ngộ giữa đường! Gái này cũng người bên đó đây… mấy năm nay rồi chưa có dịp về nước! Nào! Ta cùng đi cho vui!

Thầy trò Minh Thần gặp người bản quốc tình cờ giữa rừng núi Vân Nam cũng mừng khôn tả. Từ đó nói với nhau toàn bằng tiếng Việt, thiếu phụ dắt con nhảy lên lưng bạch mã giục thầy trò Võ lên yên, dắt theo cả con cọp vừa bắt sống. Võ nghĩ thầm:

– Người này võ nghệ cao cường, chắc cùng chồng ở ẩn vùng này! Bèn hỏi:

– Thưa bà ở cách đây bao xa? Em có nghe người Mã Đầu Sơn dặn, từ đây tới bản doanh Thập Vạn cũng ngót trăm dặm, liệu đi đến tới kịp chăng? Thiếu phụ dịu dàng:

– Nhà tôi với người trong doanh Thập Vạn thân nhau như một. Đường vào đó nguy hiểm hết sức, cạm bẫy địa lôi phục rất nhiều. Tiện đây, để mẹ con tôi dẫn nhị vị đi lối tắt, gần lắm!

Thầy trò Võ mừng hết sức, nhưng chàng trai vẫn áy náy chỉ sợ làm phiền thiếu phụ. Sau thấy nàng tuy xinh đẹp đài các mà lại tỏ ra thoát sáo, lịch lãm giang hồ hết sức, thầy trò cũng đỡ ngại.

Đi chừng mười dặm nữa, thầy trò Võ càng lấy làm ghê thầm sức thiên hiểm lạ thường của Thập Vạn Đại Sơn. Đèo núi leo tới mây xanh, thung lũng đổ từng lòng chảo sâu hun hút, chỗ nào cũng đầy hiểm trở, đường mòn, sơn đạo, cầu treo, cầu ngầm trùng trùng điệp điệp, tới một rặng núi đá sừng sững mấy người đang đi bỗng nghe tiếng tù và rúc vang động, từ trong núi vụt phi ra một đội giáp kỵ đông đảo, toàn quân khách mạnh, súng ống, mã tấu tua tủa, dẫn đầu là một viên tướng râu xồm mắt quạ, coi vừa oai vừa dữ như cọp xám, mặc quần đen súng đeo trễ sườn, tay cầm một cây trung liên bánh xe, coi không khác Hứa Chử tái sinh.

Viên khách này đi dưới một cây cờ đuôi nheo lớn, đầu súng cũng buộc một lá cờ đuôi nheo nhỏ, vừa nhác thấy người viên khách râu xồm hô lên mấy tiếng, lập tức cả cánh quân mạnh dừng cả lại, dàn ngang lối mòn.

Võ Minh Thần, Quản Kình nhìn thiếu phụ vẫn tươi cười, nàng dịu dàng bảo:

– Không hề gì! Quân giáp kỵ tuần sát đó thôi!

Đoạn đưa tay làm hiệu bảo hai người đi theo. Viên tướng xồm râu kia cũng tiến lên, hô lên một tiếng, cả cánh quân bồng súng chào, nàng nói lớn:

– A Voòng! Cách đây chừng mươi dặm, có một khúc sơn đạo gãy, coi chừng có tụi nguy hiểm lẩn quanh đó! Chú Voòng khá cẩn thận! Nó vừa phục lừa bắt sống Hồng Kiệt bên sơn đạo gãy, may có tiên sinh đây giải cứu! Tiên sinh có việc đến bản doanh trung ương!

Viên khách râu xồm chào thầy trò Võ, định hỏi chi, nhác thấy thiếu phụ đưa mắt, y thôi ngay, nói lớn:

– Hầy! Vậy bọn ngộ phải ra ngoài “quét dọn”! Hầy tụi nào to gan à!

Dứt lời chào, hô giáp kỵ bỏ đi như gió cuốn. Võ Minh Thần thấy thiếu phụ có vẻ quen thuộc đám lạc thảo Thập Vạn lòng thêm mừng rỡ, Võ ngó theo khen

– Em vẫn được nghe thiên hạ đồn quân tướng Thập Vạn là quân tỳ hổ, giờ thấy quả không ngoa!

Thiếu phụ đưa hai người vào thẳng chân núi bỏ lối mòn.

Có con suối chạy bên ghềnh, nàng đưa hai người lội ngược giòng một quãng, dừng trước một vách đá cheo leo lởm chởm ngay lợi nước. Nàng rút cây súng bên sườn, đưa lên miệng thổi một tràng âm thép đập vào vách núi nghe như vũ bão, khiến thầy trò Võ ghê thầm! Nàng trỏ bảo:

– Cửa vào căn cứ địa! Đường tắt này là ngả bí mật. Chỉ dùng tới khi cần thiết!

Thầy trò Võ nhìn, chỉ thấy vách đá lởm chởm, cây cối rườm mà, còn đang ngơ ngác, bỗng thấy tảng đá trước mặt sịch đổ từ từ xuống thành một cái cầu bắc qua suối, để lộ một cửa hang tối om, ẩn hiện bóng người cầm đuốc lập lòe.

Thiếu phụ vẫy hai người vào hang, ngựa khua vó trên mặt đá lóc cóc, thầy trò Võ đưa mắt nhìn, thấy hang sâu hun hút rộng hơn thước, có ánh đuốc cắm rải rác, năm, bảy bóng lực lưỡng câm nín đứng hai bên, cạnh cần trục cúi chào, thiếu phụ dẫn hai người đi thẳng, chừng trăm bộ mới hết con đường bí mật đục thông ruột núi.

Trước mặt hai người hiện ra cảnh lâm tuyền thiên hiểm vô cùng, trèo đèo lội suối băng rừng, chênh vênh, sơn đạo, càng đi càng hiểm hóc, có chỗ phải dùng thang dây rút người ngựa lên, lại có đường sơn đạo bắc trên dây cáp từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, chơi vơi lưng trời coi không khác đường cáp tàu điện Âu Mỹ tại các vùng mỏ, vùng trượt tuyết vậy.

Khiến thầy trò chàng trai nom thấy lạ hết sức, càng phục thầm công trình kiến tạo con đường xuyên sơn của người Thập Vạn. Quản Kình lè lưỡi bảo chủ:

– Hiểm hóc thế này còn ai phạm nổi! Địa thế này còn ghê hơn cả Ba Thục, trách nào Chúa Thập Vạn hùng cứ một phương ai cũng phải sợ!

Đồn ải rải rác, trại quân từng dãy, hết ngoại vi đến nội vi, gặp nhiều quân kỵ, bộ xuôi ngược cùng các tốp quân tuần, lính canh, tất cả đều chào thiếu phụ rất kính cẩn. Vào lúc xế chiều đã tới một vùng sơn kỳ thủy tú tuy vẫn thiên hiểm nhưng phong quang lạ thường vì những mái nhà gỗ, nhà gạch dọc ngang san sát khắp dưới thung, trên đồi núi, tứ bề cỏ hoa tươi tốt, tùng bách xum xuê, một con đường hai bên trồng toàn liễu rũ chạy bên một con suối trong veo, ngựa chưa thắng yên cương thả đầy đàn, có nhiều con đứng gặm cỏ bên dòng bóng lồng đáy nước, coi như lạc vào vùng sơn thôn, đại trại thời xưa khiến thầy trò Võ Minh Thần ngổn ngang trăm mối, thù nhà canh cánh, cũng thấy như vơi dịu, lâng lâng thanh thoát lạ. Bất giác chàng trai khen tấm tắc:

– Đẹp như tranh thủy mạc Tàu… Chủ nhân Thập Vạn Đại sơn hùng cứ một miền sơn lâm hiểm hóc, oai mãnh khác người, không ngờ lại có cả tâm hồn cao đẹp, phải là bậc có tâm hồn ấy mới biến nơi doanh trại đằng đằng sát khí thành một vùng kỳ tú đến thế này. Lạ thay! Lạ thay! Chốn đầy súng ống bom đạn, tứ chiếng lạc thảo, mà lại lâng lâng thanh khí ngút ngàn!

Đang tiến ngựa lóc cóc xế trước, nghe Võ kêu, thiếu phụ bỗng ngoảnh vụt lại, mở to mắt nhìn Võ không giấu nổi vẻ sửng sốt, lấy làm lạ về sức liên cảm kỳ diệu của chàng tuổi trẻ hai mươi.

Quân khách qua lại tấp nập, xa xa chỗ tập bắn, đấu võ, chỗ quần ngựa, nấu ăn sinh hoạt nhộn nhịp. Lối liễu quanh co, uốn éo giữa khu đồi núi trập trùng, rất nhiều đường đi lại chằng chịt, thiếu phụ đưa hai người lên một trái núi rất đẹp, vào lúc hoàng hôn.

Lưng chừng núi có nhiều nhà cửa lớn nhỏ, nằm san sát, lố nhố đầy quân tướng, chú bé nhảy tót xuống, giắt con cọp chạy tung tăng, có mấy gã khách lực lưỡng ra chào, nắm tay nói chuyện cười đùa với chú bé, thiếu phụ lững thững đi ngựa dẫn khách qua khu sơn trại tấp nập vòng ra hồi núi ngoảnh về phía Đông Nam.

Thầy trò Võ chợt nhận ra khu núi này kẽ đá mọc rất nhiều bàng coi không khác cánh rừng con lại còn đầy hoa cỏ, rất nhiều phong lan đặc biệt nhất là có một khu nhà xinh xắn, nền đá cao, nhưng làm toàn tre nứa, lợp gồi, vách nứa đất lối “tooc xi” hình chữ “u” có đủ sân hoa viên, ao thả sen, và hiên nhà nào cũng có giàn thiên lý, đậu ván coi hệt cảnh nhà bên Nam!

Vừa qua cổng tre, vào sân bỗng chợt thấy có mấy cô gái trẻ thoăn thoắt đi ra, một nàng reo lên bằng tiếng ta:

– A, phu nhân đã về!

Thiếu phụ cùng bọn Võ Minh Thần xuống trao cương mấy nàng, Quản Kình tháo hành trang vác vai, nghe mấy cô gái gọi “phu nhân” hai thầy trò thoáng ngơ ngác, Võ lễ phép hỏi:

– Đây là đâu? Thưa phải chỗ Thòong tiên sinh…?

Không đáp vội, thiếu phụ hỏi mấy cô gái kia:

– Soái gia có nhà chứ?

– Dạ! Người vừa xuống trại dưới mới về đang uống trà!

Thiếu phụ tươi nét mặt, dẫn hai người băng qua sàn, vào thẳng căn nhà chính giữa, ẩn hiện dưới giàn hoa thiên lý xanh um, nhà làm lối nhà bên Việt, dài, chia từng gian trong bằng cột, sáng sủa, ngoài căn buồng hội, mấy gian thông nhau, tới bên thềm, đã ngửi thấy mùi thiên lý thơm ngát, gợi mùi cố quốc, hai thầy trò nhác thấy một bóng người đang ngồi trên một cái chõng tre, lúi húi quạt hỏa lò, tàn than đã bay như hoa bụi. Nghe động, người này ngẩng nhìn ra. Qua hàng trấn song thưa, thầy trò Võ Minh Thần nhận ra đó là một người đàn ông trẻ tuổi, chỉ trạc ba mươi, mặc quần áo chàm Thổ như Võ, chỉ khác vành khăn nhiễu Tam Giang chít chữ “nhân” trên đầu, mặt quắc thước như đá tạc, hai mắt xếch sáng như điện, vành môi đỏ hơi cúp mép coi hơi ngạo nghễ, có phần coi oai võ, nhất khi người này đưa mắt trông ra, hai con mắt xanh biếc uy nghi khiến kẻ táo gan nhất cũng phải chờn chợn nể vì.

Nhưng rất lạ, là vẻ mặt uy mãnh nghiêm thần vụt biến sạch cả, khi người này chợt nhận ra thiếu phụ liền cười khanh khách nói vọng ra:

– Hai mẹ con đã trở về đấy ư? Thằng Kiệt đâu? Tưởng đã bị nó lừa bắt cả hai mẹ con đem sang Nam mất rồi?

Thầy trò Võ Minh Thần lúc đó đã vào cách thềm bảy, tám bộ, bỗng giật mình vì tiếng cười này sang sảng như chuông đồng, muốn vỡ màng tai. Quản Kình chịu không nổi, đứng lùi lại, cả thiếu phụ cũng thoáng vẻ sững sờ, nhưng chợt nhoẻn cười, chưa kịp lên tiếng, bỗng người này lại hỏi vọng:

– Phải người bạn trẻ cứu nạn đấy không?

– Dạ

Thiếu phụ vẫy hai người tiến vào. Võ Minh Thần vừa hỏi “ai đó bà” bỗng giật mình thấy trong nhà, người trẻ tuổi quắc thước quạt than phành phạch, chợt như vô ý trượt hỏa lò, từ chiếc quạt giấy mỏng manh, vụt phát ra một luồng kình phong như sấm nổ đánh thốc vào ngực Võ Minh Thần.

Võ được thọ giáo danh sư kỳ bí, phản ứng rất bén nhạy, lúc nào hành sự cũng ngầm sẵn điện công, vừa nhác chiều quạt đánh ra, chàng trai đã kịp tiện tay cầm dù, chĩa về phía trước giương liền, ngầm phát kình phong.

Quản Kình đứng bên nghe “bùng” một tiếng như điện trời tức khí cọ nhau, Võ Minh Thần theo chiếc dù lạng lui một bộ, trong nhà hàng trấn song bỗng cong veo, chiếc hỏa lò trôi mấy gang, nhưng người quạt vẫn không nhúc nhích.

Từ ngày hạ sơn, Võ Minh Thần đã mấy phen thử sức, kể cả với con quỷ mũi vẹt giả xưng phó soái Mã Đầu, kình lực Võ toàn đè bẹp đối thủ, đây là lần đầu bị thối lui một bộ, chấn động châu thân lòng riêng không khỏi kính phục.

Tiếp luôn, người trẻ kia cất tiếng cười khanh khách:

– Giỏi lắm! Giỏi lắm! Người bạn trẻ giỏi hơn đệ nhất Ma Đầu Tây Tạng Nhũ Hoa Vương rồi đó! Rất may thê tử mỗ ngộ nạn bất ngờ đúng lúc đó có người bạn trẻ! Xưa ta chỉ đánh một nhát “Khẩu phong lôi” Cầm Phi Hổ đã bắn lộn từ trên ngọn Si Công Lĩnh xuống vực!

Tiếng cười ầm rền như sấm ran sét đánh, Võ Minh Thần vừa nghe tiếng “Khẩu phong lôi” bỗng giật mình kinh dị vì theo lời tôn sư căn dặn, sau này hạ sơn nếu gặp kẻ nào đánh “Khẩu phong lôi” phải cố xin học cho kỳ được. Vì “Khẩu phong lôi” vốn là môn kỳ công thượng thừa của Đảo chủ Thần tiên miền Nam Cực, không những mạnh hơn đánh tay mà còn xua tan được tất cả các môn “công phù”, “mê chưởng” “mê phong” v…v là các ngón tụ thổi độc khí vào thất khiếu tạng phủ địch thủ.

Bởi khi luyện được “Khẩu phong lôi”, mặc nhiên chỉ định thần là các khiếu, lỗ chân lông bế hết rồi, dẫu bị “công phù”, cũng không sao, cũng như “Khẩu phong lôi” luyện thuần thanh khí, hùng khí, có thể chống bạt mọi thứ độc công hắc đạo chuyên luyện bằng hắc khí, độc khí, độc dược… mà kẻ thù ghê gớm của Võ lại là “loài ma quỷ” chuyên về độc khí, tà khí.

Đang nghĩ, lại nghe tiếng cười uy mãnh bay ra, chàng trai lật đật ngầm vận điện công chống đỡ, lại sợ cho Quản Kình định đưa tay kéo sát lưng, nhưng tiếng cười chỉ rót vào Võ, tuy vận công chống đỡ thần kinh hệ vẫn rúng động lạ thường, nghĩ thầm:

– “Tiếu thần công” của người này quả đến mức thượng thừa, thế mới hay võ học vô cùng cũng như văn học, chẳng rõ ai đây nghe cách nói không là chồng cũng là người thân thích của thiếu phụ áo trắng.

Đã nghe thiếu phụ cất tiếng cười khanh khách, tiếng nàng dòn như pha lê vỡ, nhưng không kém phần uy mãnh quyện lấy tiếng người kia rồi cả hai chợt im, người kia quơ tay vẫy:

– Vào! Người bạn trẻ hãy vào đây dùng chén trà đạm bạc. Người bạn tới đây, có gì muốn dạy bảo Thập Vạn Đại Sơn chăng?

Hai thầy trò theo thiếu phụ vào cúi đầu làm lễ, thiếu phụ tươi cười:

– Đây nhà tôi Hồng Lĩnh cha bé Kiệt đó. Người thiên hạ quen gọi Đại Sơn Vương.

Cả hai thầy trò cùng giật mình ngó sững vì không ai ngờ một nhân vật khét tiếng thiên hạ, để lại trên giang hồ rất nhiều giai thoại thần sầu quỷ khiếp, chúng đạo tặc ma đầu, quái khách, quan binh mấy cõi phải kinh tâm khiếp vía, oai danh bá chủ thần xạ vô địch, rất nhiều kỳ môn dị thuật pháp ngoại đã lẫy lừng từ lâu lắm rồi lại có thể là một người còn trẻ trai chỉ hơn Võ chừng mười tuổi. Bất giác chàng trai họ Võ buột miệng kêu khẽ:

– Trời! Chúa soái Thập Vạn Đại Sơn danh vang thần võ vào hàng tiền bối đây sao? Kẻ hậu sinh này thật không ngờ, không ngờ! Dám xin bậc tiền bối mở lượng khoan dung cho kẻ mắt thịt khốn khổ này!

Dứt lời, Võ Minh Thần cùng Quản Kình phục luôn xuống, vẻ kính cẩn hết sức, nhưng vừa sụp, người đàn ông trẻ áo chàm khăn nhiễu đã đứng phắt lên, thò hai tay nắm lấy hai người nâng đứng dậy, dịu dàng bảo:

– Mỗ mới hơn ba mươi tuổi, xin chớ quá thủ lễ làm mỗ đây giảm thọ. Tiện nội thọ ơn cứu nạn chưa kịp tạ, người bạn chớ khiêm tốn quá lễ, mất vui! Nếu chẳng khinh, cứ coi mỗ như anh được rồi!

Nói xong, thân mật mời cả hai ngồi xuống chõng tre, nhưng Võ chỉ dám ghé xuống, còn Quản Kình nhất định đứng hầu một bên.

Võ Minh Thần đang định lựa lời hỏi thăm viên chúa núi Mã Đầu, nhưng thấy Chúa soái Thập Vạn Đại Sơn mải pha trà, lại cố nén. Thiếu phụ bỏ đi về phía cuối buồng không nói câu nào. Võ Minh Thần, Quản Kình đều lấy làm lạ không hiểu sao Chúa Thập Vạn đã biết vợ con gặp nạn, bỗng thấy người chúa lạc thảo trẻ, cầm ly nước mời Võ, Kình, ngó đăm đăm Võ, chợt hỏi:

– Người bạn đâu tới? Xin cho biết quý danh. Chắc đến hỏi về cái chết mờ ám của bậc sinh thành chăng?

Võ, Kình kinh dị đến rung động thân thể, vùng kêu khẽ:

– Sao “người” biết?

– Có gì lạ đâu! Trên mặt người bạn phương xa có dấu bậc sinh thành thảm tử, có cả dấu hiệu mồ côi từ nhỏ nữa, muôn dặm lần tới chắc không ngoài chuyện đó?

Thầy trò Võ Minh Thần nghe qua lời Chúa soái Thập Vạn Đại Sơn, cả hai đều giật mình kính phục, chàng trai vùng chắp tay, đứng phắt dậy, cúi đầu vái rạp mà rằng:

– Bậc tiền bối quả mắt thần chẳng kém, thấy rõ dấu thâm thù trên mặt. Kẻ hậu sinh này lưu lạc cha mẹ, anh em, tên họ, quê hương, lang thang đi tìm thù như bóng oan hồn vật vờ trong sương mờ đêm tối. Kẻ mồ côi này chỉ mới biết được bậc sinh thành đã chết thảm dưới móng vuốt một loài quỷ quái ghê gớm mười bảy năm về trước. Nay đường đột tìm tới núi bậc tiền bối, mong tiền bối mở lòng nhân giúp cho.

Chúa Thập Vạn hơi nhướng cao mày, ngạc nhiên, kéo Võ ngồi xuống, dịu dàng hỏi:

– Cha mẹ thác vì loài quỷ quái, mười bảy năm xưa? Nhưng nó là giống chi? Quái nhân, quái vật hay ma quỷ? Người bạn trẻ hãy cạn chén trà, bình tĩnh cho mỗ biết qua.

Võ Minh Thần thấy Chúa Thập Vạn mười phần uy võ, lại đầy vẻ khiêm tốn, bao dung, trong lòng hết sức cảm động bèn lĩnh ý uống cạn chén trà, ngậm ngùi nói luôn:

– Theo lời trối của nghĩa phụ, nghĩa bộc, kẻ mồ côi này chỉ được biết là bị hại về loài quỷ quái tại vùng biên giới phân mao, nhưng không hiểu nó là giống gì? Yêu tinh, tinh ma hay quái nhân, quái vật? Nghĩa phụ, nghĩa bộc chết thình lình ngay khi bắt đầu kể chuyện. Nhưng có dặn được mấy tiếng “đi tìm Chúa núi Đầu Ngựa”. Kẻ này tới Mã Đầu Sơn, được biết Chúa Mã Đầu tiên sinh đã theo hầu bên Thập Vạn Đại Sơn. Thưa, mười bảy năm xưa, lúc xảy ra cuộc thảm sát, lão tiên sinh Mã Đầu có chứng kiến. Kẻ mồ côi này đã được xem tấm bài vị lão tiên sinh để trên Mã Đầu Sơn.

Nói xong, nước mắt đầm đìa. Viên Chúa núi Thập Vạn vùng bật giọng:

– À, Pạc Hoọc Đại Vương Thoòng. Vậy người bạn cứ ngồi đợi đây, để mỗ gọi coi Thoòng còn trên này không?

Dứt lời, Chúa núi Thập Vạn rút cây súng cối treo trên vách, đưa lên miệng thổi.

Tiếng thép bay ra ngoài tỏa rộng khắp cao sơn, lan xa đến mười dặm, nghe muốn vỡ màng tai. Dứt hồi, chợt nghe tít dưới thung lũng, vọng lên mấy tiếng tù và chờn vờn. Chúa Thập Vạn treo súng, quay bảo Võ:

– Thoòng Mềnh đi tuần sát mạn Bắc chưa về.

Đoạn, lại tự tay pha trà, tiếp tục đối ẩm với Võ Minh Thần. Quản Kình, vẻ ông ta coi ung dung không khác một tay ẩn sĩ cao sơn. Thiếu phụ đã thay y phục uyển chuyển đi ra, nàng mặc chiếc áo choàng rộng, nửa giống “Kimono” nửa giống áo Tàu cổ, màu trắng, đẹp cao quý như hoa lan rừng mọc bên suối. Nàng kéo cái ghế mây ngồi bên giường, vừa quạt hỏa lò giúp chồng, vừa kể chuyện vừa qua cho chồng nghe rõ đầu đuôi. Lúc đó, thầy trò Võ Minh Thần mới hay, khi xảy nạn trên sơn đạo, Chúa soái Thập Vạn Đại Sơn bỗng thấy máu thịt chột lòng, vùng đánh quẻ lục nhâm, lấy ngựa xuống núi liền, nhưng chưa đi tới suối liễu trại dưới, ông ta lại quay về ngay, vì độn ứng quẻ cát.

Võ Minh Thần thọ giáo dị nhân, cũng được coi qua phép độn Trương Lương nên thấy rõ sức hiểm hóc, nhiệm màu của độn toán dịch lý, nhân bàn về độn, càng kính phục độn toán luận giải như thần của Chúa tể Thập Vạn. Cặp vợ chồng này đầy vẻ tương đắc, tuy cười cười tự nhiên, mà vẫn ngụ ý kính nể nhau hết sức. Chỉ lát sau, cả hai đã coi Võ như người em nhỏ, thân mật khác thường.

Nhân lúc vui chuyện, hỏi nhau về danh tính, Minh Thần, Quản Kình lại thêm sửng sốt, khi được biết thiếu phụ chính là một trang nữ kiệt khét danh trong thiên hạ ngót mười năm nay mà tôn sư chàng từng nhắc tới.

Bạch y nương Trần Phượng Kiều, ngang dọc một thời khắp mấy dải biên thùy Tàu, Việt, nữ soái Liễu thôn miền thác Lũng Khầy Yên Bái, từng mở hội tuyển phu, bắt sống rất nhiều tay sơn tặc, quái nhân, ma đầu, thổ phỉ, nhốt treo cành liễu.

Và trước ngày sánh duyên cùng Chúa núi Thập Vạn, nàng đã từng bắn rụng súng Chúa tướng Thần xạ vô địch này, khiến chàng soái uy võ này phải lên ngọn Tây Côn Lĩnh luyện thêm bí pháp tác xạ hàng nhiều tháng để lấy lại tiếng “bắn nhanh nhất thiên hạ” đã bị nàng đoạt mất!

Và đồng thời nàng là học trò bậc nhất của vị Đảo chủ Đảo Thần Tiên Nam Cực, trước ngày lấy nhau nàng với Thần Xạ đã từng trải qua một cuộc “tình duyên oan trái thê thảm” vì cả hai đều mang nặng thù nhà, nghi án. Hiểu tử thương hiếu tử, anh hùng trọng anh hùng, khi biết Võ Minh Thần có cha mẹ bị chết thê thảm, mồ côi, không thân thế, hai vợ chồng Chúa tể Thập Vạn Đại Sơn đều có lòng thương mến vô cùng, tuy vậy hai vợ chồng không hỏi thêm về việc riêng Võ chừng muốn đợi Thoòng về định đoạt.

Lát sau, trời vừa tối, gái hầu dọn tiệc lên. Chú bé Hồng Kiệt cũng quay về. Vợ chồng Chúa Thập Vạn mời khách dùng chén tẩy trần. Quản Kình giữ lễ không chịu ngồi cùng nhưng Chúa Thập Vạn cứ kéo ấn xuống, nghiêm nghị bảo:

– Giữ ý cũng phải, nhưng lễ ngoài không bằng lễ trong. Ở đây trên dưới lấy lòng với nhau tùy tiện không câu chấp! Chú bất tất phải bận tâm!

Chủ khách ngồi ăn uống rất tự nhiên, chuyện trò thân mật.

Võ Minh Thần thấy vợ chồng Chúa Núi Thập Vạn có lòng thương mến thành thật, lòng cũng vơi nhiều buồn tủi.

Cơm nước xong, chủ nhân thân cầm đèn đưa khách xuống dãy nhà ngang, dẫn vào một căn buồng rất yên tĩnh, bầy biện trang nhã, có sẵn giường màn, các món tạp dụng, căn dặn vài điều lặt vặt, rồi mới chia tay cho khách ngủ sớm. Tuy hành trình vất vả, nhưng Võ Minh Thần nóng lòng gặp viên Chúa núi Đầu Ngựa nên khắc khoải không sao ngủ ngay nổi. Võ ngồi nghĩ miên man cùng Quản Kình nấu nước uống đến mấy tuần trà, cà phê, quá nửa đêm mới chợp mắt.

Sáng ra hai người thức giấc, đã nghe chim kêu vượn hú đầu ghềnh, kèn vang, tù và rúc khắp mấy vùng doanh trại. Thập Vạn Đại Sơn dậy tiếng ngựa hí quân reo. Hai thầy trò vừa rửa mặt xong, bỗng có nàng gái hầu mời lên dùng trà với chủ nhân.

Hai mẹ con Bạch Y Nương chừng đã xuống núi dợt ngựa, chỉ thấy viên Chúa Soái Thần xạ ngồi trên chõng tre đang quạt hỏa lò, nước đã réo sôi. Vẫn phong thái ung dung như ẩn sĩ, Viện Chúa tướng lạc thảo miền Mười Vạn núi cười hỏi:

– Tối qua chắc hơi khó ngủ? Yên tĩnh chứ?

– Dạ yên tĩnh hết sức. Hương hoa đâu thoang thoảng có lúc kẻ này lại tưởng nằm trong thảo lư nơi núi cao xưa. Thưa “người” ngủ ngon?

Chủ khách vừa uống xong một tuần trà, bỗng nghe tiếng vó câu lóc cóc rồi thấy một người lực lưỡng cưỡi con ngựa ô tiến vào sân.

Viên Chúa núi Thập Vạn ngoảnh trông ra, bật giọng vui:

– Kìa Vua Pạc Hoọc Quảng Tây đã về.

Thầy trò Võ nghe bất giác cùng giật mình, mừng rỡ tự nhiên trống ngựa đập mạnh quay vụt ra.

Qua chiếc sân khá rộng, người cưỡi ngựa ô cũng vừa vào khỏi độ mười thước, dừng cạnh một góc bàn, nhỏm mông nhìn vào nhà. Đó là một viên khách mình to như tấm phản, vai rộng, mặc quần áo đen bó lấy người, ngực nở tay săn cuộn thừng chảo, đi giày vải đen Tàu, cằm vuông, râu ria xồm xoàm như Trương Phi đời Tam Quốc, mắt diều hâu, mặt mày coi hết sức uy tợn, tuổi trạc tứ, ngũ tuần, mặt cô hồn con nít đang khóc ngó thấy nín thít.

Ngay khi đó có hai, ba gái Tàu từ dãy tả thoăn thoắt đi ra phía cổng cúi chào viên khách, viên khách giơ tay chào lừ đừ xuống ngựa buộc gốc cây. Chúa Thập Vạn gọi lớn:

– A Thoòng! Về đó à? Vào đây uống trà! Chú có khách bên Nam sang đó! Viên khách râu Dực Đức nhướng cặp mày rậm vẻ ngạc nhiên, dạ lớn lật đật tháo chiếc “xắc” bên yên, rút cả cây trung liên có buộc lá cờ đuôi nheo nhỏ vác vai tiến vào. Tuy đã tứ ngũ tuần, dáng đi vẫn mạnh như trai trẻ, thân hình tấm phản lắc lư tựa con cọp xám vờn.

Chừng viên khách to lớn vào tới thềm, thầy trò Võ Minh Thần nhìn rõ mặt thêm, mặt viên Chúa núi Đầu Ngựa tuy dữ tợn lầm lỳ, rõ hạng cả đời chỉ quen ngửi mùi thuốc súng, coi binh lửa như trò chơi con ít, nhưng vẻ dữ tợn lại phảng phất nét oai trung hậu đường đường của tay can trường đa cảm ngầm chứ không phải thứ dữ tợn tàn ác của hạng ác nhân ác đức gian tà.

Chúa núi Đầu Ngựa Pạc Hoọc Đại Vương vừa bước vào nhà, thầy trò Võ Minh Thần đã đứng vụt dậy như hai cái lò xo. Viên khách đi qua cửa từ sau lưng Võ, đứng khựng lại, thầy trò Võ kính cẩn dạt sang bên, chừng quá xúc động, chàng trai ngó sững, Chúa Thập Vạn trỏ nói luôn:

– Khách bên Nam mới sang tối quá! Cậu bé lên hai của mười bảy năm xưa mẹ bị nạn ngoài biên giới phân mao đó!

Giật nảy mình, viên Chúa núi Đầu Ngựa đánh rơi “bịch” xắc, dựng cây súng vào cột, súng ngả theo. Chúa Đầu Ngựa trợn mắt dòm Võ Minh Thần, vẻ xúc động sững sờ cực độ kêu lên giọng Quảng:

– Hầy! Đứa bé năm xưa… Mẹ bị nạn quỷ bốn chân… Đây ư? Mười bảy năm còn sống… giờ lớn… trở về…

Trống ngực đập mạnh, chàng tuổi trẻ rung giọng:

– Dạ… Chính cháu đây! Đứa bé lên hai, mẹ bị nạn quỷ biên thùy nhét túi da thả ngựa chạy, chính cháu đây, đứa bé mười bảy năm về trước… Nhờ trời cao còn tựa, mới sống đi tìm bác đây!

Chúa Đầu Ngựa thở dốc, nén xúc cảm đột khởi tràn ngập tâm hồn vùng hỏi:

– Đứa nhỏ mười bảy năm về trước… Vùng biên giới giáp Quảng Tây, ngược Nước Hai lên… nếu đúng đứa nhỏ con người đàn bà chết thảm đó phải có di vật gì mẹ nó để lại trước khi sa vuốt quỷ?

Nghe Chúa Đầu Ngựa hỏi. Võ Minh Thần vén vội tay áo trái lên chìa chiếc vòng xanh điểm huyết lại cởi từ cổ lôi chiếc “lắc” vàng có buộc nửa đồng tiền gãy ra, tiến lại trước mặt Chúa Đầu Ngựa lễ phép hỏi:

– Bác! Phải di vật này không? Hai món này, con đeo từ nhỏ, tôn sư có dặn của mẹ con đeo cho trước giờ mắc nạn.

Viên Chúa Đầu Ngựa thò tay xoay chiếc vòng, “lắc” coi chợt buông ra, mắt sáng rực kêu lên:

– Đúng à! Hầy! Đứa bé mười bảy năm trước đây rồi! Đứa bé nằm trong túi da, chính ngộ cùng lão Võ Yên Bái bồng chạy trốn bầy quỷ bốn chân suốt một đêm, một ngày, mấy phen suýt bị con quỷ chúa vồ được… Hầy à! Không ngờ giọt máu oan đó còn sống tìm về! Đứa “con nít vòng xanh” con quỷ cố lùng bắt đây.

Viên khách Mã Đầu Sơn vừa kêu dứt, tự nhiên chới với, hai tay, Võ Minh Thần lao bổ vào ôm chồm lấy lão như đứa bé con, nước mắt chàng tuổi trẻ chảy dòng dòng. Chúa Mã Đầu cũng ôm lấy chàng, không ngăn được xúc cảm, nước mắt viên tướng lạc thảo cũng ứa ra, chảy dầm dề khuôn mặt phong trần quắc thước lầm lỳ như không còn cảm xúc nữa! Võ rung giọng, nghẹn ngào: – Bác ơi! Tất cả người thân năm ấy đã lìa cõi thế… Nay trên đời chỉ còn mình bác mà thôi! Trời còn thương cho cháu gặp bác hôm nay.

Viên tướng lạc thảo Quảng Tây giật mình hỏi:

– Cháu vừa nói sao? Người xưa chết hết? Cháu nói ai?

– Nghĩa phụ cháu, nghĩa bộc… Chú Tắc Sềnh! Mới chết ít ngày, đúng hôm cháu tìm về đồn điền Yên Bái. Cả hai bị bắn chết giữa lúc sắp kể chuyện năm xưa.

Khá lâu, hai người mới buông nhau, cả hai cùng mừng mừng tủi tủi, lau nước mắt. Chúa Đầu Ngựa mãi lúc đó mới chú mục ngắm kỹ “đứa con nít vòng xanh” ông ta từng ẵm chạy trốn quỷ tinh mười bảy năm xưa, giờ thời gian thấm thoát trôi qua, đứa bé lên hai đã thành một chàng trai khôi vĩ, đẹp tựa Tử Đô nước Trịnh thời Đông Châu, còn ông ta tuổi cũng xế chiều, râu tóc đã hoa râm. Da trắng, mày xanh, mắt sáng như điện, môi đỏ tựa son, chàng trai nét mặt phảng phất giống mẹ xưa, tuy vẫn tráng một lớp men lành lạnh lạ thường, như bao phủ cả nỗi đau thương xót xa số kiếp.

Thấy hai người đã nhận được nhau, viên Chúa Thập Vạn đứng lên với cây súng choàng quanh bụng cười khoan dung:

– Cứ ngồi hàn huyên, mỗ xuống coi luyện tập! A Thoòng! Mọi việc đã có bọn Voòng lo, chú cứ an lòng, khỏi bận trí tới!

Dứt lời bỏ đi liền.

Còn lại ba người, Pạc Hoọc Đại Vương Thoòng Mềnh nắm tay Võ Minh Thần kéo ngồi xuống chõng thở phào một hơi dài như muốn trút cả “mười bảy năm chồng chất mong chờ nặng chịch”:

– Ngồi đây! Ngồi đây! Hầy! Bao nhiêu năm tháng dài dặc… Tưởng không còn có ngày gặp lại! Ngồi đây! Rồi kể cho ngộ nghe… Hà hà! Mười bảy năm qua, giờ coi “đứa nhỏ vòng xanh” thế nào?

Nói đoạn, viên Chúa núi Đầu Ngựa ngồi đối diện Võ, mắt ngó chòng chọc tỉ mỉ từ mặt, vạch tai, đôi mắt và như không ngăn nổi cảm động, viên tướng lạc thảo Quảng Tây lại cất tiếng cười ha hả trong khi nước mắt vẫn chầm chậm ứa ra:

– Đứa nhỏ vòng xanh, a ha! Đứa nhỏ năm xưa, ngộ cùng ông già buôn lậu bồng chạy nạn quỷ bốn chân rồi trao cho ông cụ Quy Võng Lạng cưỡi thần lư. Nay đã thành tay võ dũng, đẹp trai tựa Tống Ngọc, Tử Đô. Ha ha! Vô danh nữ chết thiêng, lòng trời còn tựa, lưu lại giọt máu oan rửa thù báo oán đây! Nhưng mặt lạnh như nước đá, tội cho hiếu tử, cây con mới mọc, cành đã già cằn!

Chàng trai thấy Chúa Mã Đầu quá xúc động, nên càng nghẹn ngào, nước mắt chảy quanh, kính cẩn hết sức nói:

– Bá phụ mắt thấy cảnh mẹ cháu chết oan, chết ức dưới tay loài ác quỷ, lại bồng trẻ thơ chạy trốn suốt ngày đêm, ân trọng như trời bể, cháu được sống đến ngày nay nhờ ơn tái tạo của người. Xin coi đứa nhỏ mồ côi này như con cháu và cho đứa cháu bạc số này được lấy lễ con cái ra mắt đấng từ tâm đã thi ân tái tạo!

Dứt lời, Võ Minh Thần nhảy luôn xuống nền nhà phục dưới chân viên Chúa núi Mã Đầu lễ liền ba lạy vô cùng cung kính.

Pạc Hoọc Đại Vương tuy làm nghề lạc thảo lâu năm, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng nho giáo từ nhỏ, nhiều lòng nghĩa hiệp, ân oán phân minh, tuy coi chuyện của đứa nhỏ năm xưa như con gió thoảng, dĩ nhiên của kẻ bắn súng. Nhưng thấy đứa nhỏ năm xưa lớn lên, coi nặng ân tình “vua Pạc Hoọc” không khỏi mừng thầm trong dạ như cất được cả ngọn Thái Hằng mười bảy năm đè nặng tâm tư! Vì xưa nay vẫn có rất nhiều vụ cha mẹ bị thảm tử oan uổng, con cái lớn lên lại chẳng nghĩ gì đến chuyện cha mẹ thọ tử, có kẻ lại phò cả kẻ thù, nhởn nhơ ngồi hưởng phú quý mà chẳng phải vì đại nghĩa chi cả.

Trong vụ thảm sát xưa, Chúa Mã Đầu động lòng “khóc mướn thương vay” lắm phen chỉ chực đem thân thanh toán, phải cố nén đợi “đứa bé vòng xanh” nhưng không khỏi lo âu, không rõ lòng hiếu tử, ông ta rất vui dạ bèn nhảy xuống đỡ lên, giọng khẩn thiết bảo:

– Xưa Chu Hợi thường khuyên Tín Lăng Quân Vô Kỵ: “Ơn mình nên quên, ơn người nên nhớ!” Ngộ vẫn lấy đó làm răn, cháu chớ nặng lời ngộ đây thêm ngượng. Mười bảy năm chờ đợi, nay thấy cháu lớn khôn, lặn lội tìm khắp năm non bảy núi, nặng nghĩa sinh thành là ngộ mừng, mẹ cháu dưới suối vàng chắc cũng đỡ tủi! Nào hãy kể ngộ nghe từ hồi sống với ông cụ Quy Võng Lạng!

Võ Minh Thần vẫn giữ lễ không dám ngồi đối diện, bị ép quá, đành kiếm cái ghế ngồi kế bên chõng, ngạc nhiên hỏi:

– Chẳng hay Quy Võng Lạng là gì? Xin bá phụ cho cháu được rõ?

Đoạn bằng giọng trầm buồn nhiều lúc đượm xúc động dạt dào, chàng trai mồ côi từ tốn kể lại cho viên chúa núi Mã Đầu Quảng Tây nghe hết quãng đời thơ ấu theo thầy học thuật.

Mới hay ông già áo trắng không ở chỗ nào nhất định, suốt mười bảy năm trường, lão chở chàng trai trên lưng thần lư, lần đi khắp thiên sơn vạn thủy, dọc từ biên giới Việt Tàu qua Vân Nam, Quý Châu, có hồi lưu lại miền Tân Cương sống với dân Hồi giáo v.v… dạy dỗ chàng cả văn lẫn võ trên lưng lừa, núi cao rừng rậm, tuyết trắng, sa mạc nắng cháy. Lại dùng dược thủ thuật kỳ hoa dị thảo, nước lạ trái quý bồi dưỡng tẩm luyện thân xác cho chàng tùy theo thời kỳ học võ, khi bắt ăn chạy khi ăn mặn, lúc chỉ dùng trái cây nước quý hấp thụ như khi học khinh công thuật.

Có hồi ở vùng Thanh Hải “biển xanh bất tận” nơi không có cây lớn, chỉ ăn toàn kê, đào đất ở, cho mãi tới mười lăm tuổi, ông già kỳ dị đến miền Sáp Cáp Nhĩ, đưa chàng xuống biển ngược xuôi khắp đại dương, hải đảo dạy quen nghề dưới nước, đổ dần về vịnh Bắc Kỳ, trở lại cố hương, ở trên rặng núi Tam Đảo ít lâu, trước khi chia tay hai ngả, chàng trai đáp tàu về Võ gia trang Yên Bái!

Nghe xong, Chúa núi Đầu Ngựa mặt hiện đầy nét hoan kính, vung tay trước trán, nói lớn:

– Ôi chao! Một lời hứa ngắn tưởng thoáng như mây mà sâu hơn dao chém đá, một lời hứa ngắn mười bảy năm trời đằng đẵng công dưỡng dục nặng quá cù lao, cao hơn núi Thái, mười bảy năm dạy văn luyện võ rèn đức hạnh, Ôi!

Ông già Quy Võng quả bậc thần nhân siêu đẳng, không sai lời ước hẹn một ly, nay ông già họ Võ thác rồi, ngộ Thoòng xin bái tạ ân sâu công khó phi thường! Phục thay! Phục thay! Mà ngộ chắc ngoài việc dãy dỗ, ông cụ dị chủng phi phàm này không nói chuyện gì cho cháu rõ? Kể cả họ tên “người”? Ngạc nhiên, Minh Thần lễ phép:

– Dạ sao bá phụ biết? Quả ngoài việc chuyên tâm dạy dỗ, tôn sư chẳng hề tiết lộ điều chi nữa. Họ tên người, họ tên cháu, nguồn gốc thân thế cả thầy trò đến buổi chia tay, cháu vẫn mịt mờ như đứng giữa sa mù… Không biết sau ngày bái biệt, thần lư hiện đi phương nào? Mà sao bá phụ mãi nói Quy Võng Lạng… Phải biệt danh tôn sư?

Chúa Mã Đầu lim dim, hồi tưởng chiều gặp gỡ lão dị nhân áo trắng trên cầu treo cận vùng Nước Hai. Mười bảy năm xưa, lão dị nhân cưỡi thần lư có bộ mặt thê lương kỳ lạ, khi cười lại đầy vẻ tinh nghịch hồn nhiên như con nít, lão dị như từ thế giới nào hiện lên, cứu thu đứa bé lâm nạn đem đi dạy dỗ… Rồi lại về cõi cũ, sau mười bảy năm, bí mật vẫn bao trùm.

– Một nhân vật phi phàm, cốt cách thần tiên! Không tên, không tuổi, không quê hương, bản quán, đến như cơn mây tụ khí, rồi đi như đám mây qua… Vậy thôi! Tôn sư có sức mạnh phi phàm, ma quỷ phải kinh. Quy Võng Lạng chỉ là dưỡng nghĩa phụ, cháu ước đoán ngài là nhân vật khí sinh, thọ khí hạo niên trong trời đất, hấp thụ khí lâm tuyền âm dương tụ kết mà thành! Theo sự nghiên cứu của ông thánh bác vật Khổng Khâu linh khí núi khe, cây cỏ, cùng chất thổ địa, kim khí có thể tụ kết thành động vật, như dưới đất sâu nước hồ, xưa người Quý Ấp từng đào được con Phần Dương, không ra đực, không ra cái, chỉ có hình con dê. Còn miền thịnh khí lưỡng nghi lắm núi non khe thác, có thể phát sinh chủng loại Quy Võng Lạng, mặt mày thê lương, hay mặc đồ trắng, tính ưa làm phúc, cốt cách địa tiên nên có lẽ tôn sư cháu thuộc loại Quy Võng không phải người ta.

Võ Minh Thần, Quản Kình bàng hoàng như mơ ngủ, nghe Chúa Mã Đầu nói về nguồn gốc dị tôn sư, chàng trai bán tín bán nghi, vội kêu khẽ:

– Chẳng rõ tôn sư cháu là “địa tiên Quy Võng” hay bậc cao sĩ kỳ nhân đau xót về thân phận con người nên lánh đời, tu luyện phiêu du, vì cháu thấy cả thần lư cũng có được tôn sư dạy phép trường sinh, vô bệnh, linh mẫn hơn người… Nhưng ngày nọ, qua vùng Trùng Khánh – Cao Bằng, chúng cháu có hạ được con Mạc thú cũng thọ kim khí ra, nó ăn sắt như bùn, không gươm giáo nào phạm nổi! Nghe nói con Mạc này ngàn vạn năm mới có xương đặc không có tủy, da nó trừ được lam sơn chướng khí, để cháu xin dâng bá phụ cùng Soái gia Thần Xạ làm kỷ niệm.

Dứt lời, chàng lấy xương, da con Mạc ra tặng, viên Chúa Mã đầu “Vua Pạc Hoọc” cầm xem, hết lời khen ngợi, bảo:

– Ngộ có nghe người trên giang hồ còn đồn: Con Mạc này xương da nó quý vô cùng, còn có thể dùng vào việc chi quan hệ lắm, cháu nên giữ lấy phòng thân, có lòng cho ngộ cùng soái gia chút ít là đủ! Hầy! Có lẽ may mũ, làm gậy tốt dữ à!

Bèn để bó xương, da con Mạc sang một bên, chăm chú nhìn Võ Minh Thần vẻ suy tư, chàng trai kính cẩn:

– Xin bá phụ cho cháu biết nguồn gốc, thân thể, nhất vụ thảm sát biên thùy phân mao ngày nào… Từ núi xuống, lòng cháu như lửa đốt.

Chúa Mã đầu vuốt râu, vẻ đắn đo, chợt lẩm bẩm:

– Cháu thọ giáo dị nhân “nghề” tất điêu luyện hơn người. Nhưng con quỷ tinh bốn chân này lợi hại ghê gớm, sức ngộ đây, nó chỉ thổi phù cái đã gục! Nó lại có một bầy hàng trăm, hàng ngàn quỷ tứ túc, lại thêm bọn quỷ nhân ám trợ, liệu đã nên biết chuyện thảm chưa?

Võ Minh Thần cố khẩn nài, Chúa Mã Đầu đứng lên, đi đi lại lại, cúi đầu vẻ vẫn nhiều lo ngại, bất thần giữa lúc Minh Thần không để ý, tướng lạc thảo Quảng Tây xoay vụt lại, rút cây pạc hoọc vẩy luôn vào ngực chàng trai khiến Quản Kình giật mình la lên hoảng hốt, tưởng tiểu chủ gục liền.

Nào dè Võ Minh Thần lẹ như chớp vẫn ngồi nguyên vừa nhác thấy “Vua Pạc Hoọc” động vai, chàng trai đã chụp luôn cây dù dựng bên chõng tre rẽ vụt về phía “Vua Pạc Hoọc” đúng lúc cây Pạc Hoọc vừa ra khỏi vỏ “bập bập”! Dù khạc đạn, bắn tung ngay cây súng lục!

Chúa Mã Đầu giật mình, tê dại cả bàn tay, nhưng mắt thoáng rực tia mừng, nhe răng cười khen lớn:

– Lẹ dữ a! Bắn rụng được súng “Vua Pạc Hoọc”, học trò Quy Võng địa tiên giỏi a! Phải cháu mới nhận một đòn “Khẩu phong lôi” của Soái gia? Hay đó. Nhưng con quỷ bốn chân có sức phi phàm, nó thổi độc khí, mê hồn!

– Bẩm, bá phụ yên lòng, tôn sư đã dạy con, đủ sức đối phó với loài quỷ quái yêu ma.

Chúa Mã Đầu bước lại, đặt tay lên tay Võ, vụt nghiêm sắc mặt:

– Minh Thần! Chuyện mẹ cháu, chú là kẻ bàng quang, còn bị ám ảnh suốt mười bảy năm ghê gớm, lắm đêm muốn đau đầu, cháu là con hiếu, liệu đủ sức bình tâm, không loạn trí phát cuồng?

– Bá phụ an lòng. Đứa cháu mồ côi này chịu khổ đã quen, trên đời này, còn cõi khổ nào hơn nữa. Quản Kình người thân thuộc, xin bá phụ cứ coi như cháu.

– Nghe thì được, nhưng chẳng nên nhìn. Chớ nên để thêm kẻ nào chịu nữa.

Dứt lời. Chúa Mã Đầu vẫy tay, đưa Võ Minh Thần ra ngoài.

Đoán có điều không tiện, Quản Kình chỉ theo ra ngoài hiên, rồi quay vào uống trà một mình.

Qua sân, Pạc Hoọc Đại Vương đưa Võ ra cổng, vòng sang phía hữu, tiến về mạn sườn núi hậu, không nói một lời. Quanh co chừng năm sáu chục thước, chợt gặp một cái viễn vọng đài chót vót có một toán đầu mục trấn thủ. Cả bọn chào kính cẩn.

– Bó đuốc! A Tam!

Một tên khách lực lưỡng chạy ra trao một thước đuốc củi thông tẩm nhựa trám. Chúa Mã Đầu lại dẫn Võ đi nữa, mười phút sau, tới một vùng hết sức hiểm trở, vách nhọn tai mèo dựng thành, hạng kém khinh công khó lòng vượt nổi. Hai người leo lên tận ngọn. Nắng sớm chan hòa, đứng trên ngó suốt một vùng doanh trại núi đồi san sát, rải rác, xa xa về phía nam, khói nắng lóa mờ, hun hút.

Đứng trước một vách núi rườm rà cây cỏ hoa leo, chúa tướng lạc thảo Quảng Tây chợt nói giọng ngậm ngùi:

– Nơi này có thể nhìn về bên Nam xa cách quan san. Chú kiếm chỗ này là để mẹ cháu trông về cố quốc.

Vừa nói, vừa vần tảng đá sang bên, để lộ một cái hang đen ngòm. Hai người bước vào. Chúa Mã Đầu thắp đuốc giơ cao, đi trước, hai cái bóng đổ lắc lư trên vách coi như bóng oan hồn, câm nín. Quanh co, khúc khuỷu, càng vào cảnh im lìm càng bủa vây linh hồn già trẻ.

Mùi rêu ẩm mốc phả vào mũi, Võ vụt có cảm giác linh thiêng như đang chui qua khoảng không gian im lìm để lần sâu vào dĩ vãng. Tự nhiên chàng trai thấy hồi hộp lạ. Ngoặt khúc thước thợ, sịch tới khoảng loe khá rộng, có một bức màn đỏ chắn ngang. Vén màn, hai người chui vào, rồi dừng lại. Một chiếc bàn độc hiện ra dưới ánh đuốc thông nhựa trám. Mùi nhựa thông bỗng như mùi cổ xưa “ảm” về. Trên bàn độc, có đủ đồ thờ bát hương, bài vị. Và ngay trước bàn độc, có đặt một cỗ quan tài sơn “then”. Đầu quan tài hướng về phía Nam, có một cành tùng nhỏ, trên cành có treo một bộ xiêm y lối Thái, Thổ.

Cuối quan tài có một bộ quần áo khách đàn ông đen sì lấm bê bết đất bùn đã khô cứng mốc treo trên vách, ngay đấy còn treo hai cây súng cong queo, một, hai bộ yên ngựa rách nát và một chiếc hòm vuông.

Giơ cao cây đuốc, tướng giặc khách quay bảo Võ, giọng khô khan êm:

– Xiêm y này là của mẹ cháu đó! Còn các món kia là những món quỷ tứ túc biên thùy nhả ra. Bộ quần áo đen chú mặc, bôi bùn kín hơi để lần đến chỗ mẹ cháu ngộ nạn. Cháu nhìn rõ dấu nanh nhọn hoắt chứ? Chú vào cứu, bị nó ngoạm tha quanh, may thoát vì quần áo rắc đầy thuốc độc, đàn quỷ tứ túc không ăn! Con quỷ chúa thuộc giống “Hồng Cẩu Quẩy” thành tinh, nói được cả tiếng người.

Kinh ngạc, Võ Minh Thần chưa kịp đáp, Chúa Mã Đầu đã tiếp luôn:

– Quỷ mắt đỏ, con tinh chúa cực kỳ quái gở! Mẹ con nằm trong quan tài đúng mười bảy năm rồi đó.

Tim đập mạnh, chàng trai xồ tới, chụp lấy mép ván thiên, định mở ngay, nhưng viên tướng giặc Khách đã ngăn lại, thắp nến, châm hương, kéo chàng trai đứng trước bàn độc, khấn:

– Vô danh nữ mệnh phụ phu nhân! Ngộ, Thoòng Mềnh thề giữ thi hài kỷ vật thâm thù, đợi con bà lớn khôn tìm về! Nay trời run rủi nó đã về đây, vô danh có khôn thiêng hãy về chứng giám. Ngộ Thoòng cho nó xem thi hài, di vật! Chớ làm nó sợ!

Đoạn lui ra bên, chàng trai run run đưa tay nắm mép ván thiên, run giọng:

– Mẹ… Mẹ ơi! Mười bảy năm… con đã về đây…

Hàng đinh lớn ngậm mép quan từ từ sút ra, phát tiếng khô âm, chàng trai lật vụt ván thiên.

Viên chúa núi Mã Đầu đứng xế bên, yên lặng. Ván thiên vừa bật, bỗng thấy chàng tuổi trẻ giật bắn mình như chạm phải điện, kêu rú lên “Trời!” rất lớn, kéo dài như bốc thấu mây xanh, lạc giọng về cuối như tiếng con heo bị chọc tiết, khiến “vua Pạc Hoọc” nghe cũng phải giật thót mình, cây đuốc trên tay giãy mấy cái, rạp hẳn ngọn, loằng ngoằng kêu lép bép.

Dứt tiếng kêu, hai tay chàng vẫn giơ cao nóc quan tài, mình cúi lom khom, toàn thân run bần bật không khác dây thép bị bão đổ giật, hai con mắt chàng mở trợn trừng trừng dòm vào lòng quan, vẻ kinh khiếp cực độ đến nỗi kêu rú xong, hai mắt chàng như xuất hẳn tinh lực, làm viên chúa núi Mã Đầu càng kinh sợ, lật đật bước lại bên, đưa tay nắm bờ vai run dữ dội của chàng trai, lo lắng, ái ngại kêu:

– Bình tĩnh cháu! Không nên quá xúc động, hại tâm thần…

Nhưng Võ Minh Thần không còn nghe thấy gì nữa, mắt vẫn ngó trừng trừng, chàng trai vừa hạ chìm giọng lắp bắp nói một mình:

– Mẹ! Mẹ ta đây sao? Sao lại thế này? Sao không còn nhân dạng? Trên đời này, lại có cái chết gớm ghê thế này sao? Mẹ ta đây ư? Người mẹ banh da xẻ thịt đẻ ra ta, nuôi dưỡng ta, rồi… chết thảm thế này ư? Trời!

Chàng trai lại hét lên khủng khiếp, thân hình rung động, miệng lại lắp bắp “cái túi da… cái túi da người” rồi từ từ đổ người xuống nằm phục vắt ngang lên quan tài, miệng vẫn nói những gì không rõ.

Viên chúa núi Mã Đầu vẫn đứng lặng phía bên này, định thò tay lên giật, nghĩ sao lại thôi, cứ đứng giơ cao ngọn đuốc trên đầu, vẻ thương hại hết sức, khẽ tặc lưỡi… chừng cũng hiểu rõ chàng trai mồ côi phải chịu đựng cảnh gặp mẹ đau đớn như thế, không cách nào hơn. Chúa Mã Đầu hết nhìn chàng trai lại buồn bã nhìn vào lòng quan tài.

Ánh đuốc lao đao, vật vờ, trong lòng quan, có đặt nằm thẳng một cái thây ma trắng rợn người, đã khô đét, một cái xác đàn bà ướp “phoóc môn”, mái tóc dài chảy dọc trước bụng che kín cả hạ bộ.

Nhưng nếu nhìn kỹ chút, sẽ thấy đó cũng chẳng thể gọi là một cái xác ướp khô, đúng là một cái túi da mang hình người đàn bà mới đúng.

Vì cái thây nữ này không còn thịt, gân, cả đến lục phủ ngũ tạng cũng biến tiêu, chỉ còn lại mớ xương lổn nhổn bọc da. Nhờ chúa núi Mã Đầu sắp xếp phẳng phiu, lần lượt đặt các ống xương nào vào chỗ đó, nên mới rõ hình người, coi như hình nhân bằng cao su nằm xẹp hơi.

Thân thể đã ghê, nhìn đến mặt mũi càng phát gớm, vì tất cả chỉ còn là cái đầu sọ sống, bao nhiêu óc thịt tiêu hết, da bọc xương, mũi, môi, lợi, tai cũng tiêu hết gân thịt, chỉ còn lần da dính ngoài, nhe cả hàm răng, mũi thành hai cái lỗ, đến hai con mắt, con ngươi mất tiêu, chỉ còn hai cái lỗ huyệt sau hoắm, đen ngòm. Nhìn “cái túi da người này” kẻ bạo gan mấy cũng phải rùng mình, sởn gáy, tưởng trên cõi thế gian này không còn cái chết biến hình nao lại coi dễ sợ đến thế.

Điều kỳ quái nhất, là tuy đã bị quỷ hấp sát tại miền giới tuyến phân mao, ròng rã mười bảy năm trời, cái thây được ướp hóa chất, theo lẽ thường thì dầu con người, con vật nào tiêu ướp sau cũng khô đét như que củi, hết mùi, nhưng cái thây nữ này chẳng hiểu sao vẫn phảng phất nguyên mùi mười bảy năm về trước, tanh khắm lạ lùng, không giống bất cứ mùi hủy thể thối rữa nào. Có điều đặc biệt là phải ngửi gần mới thấy, vì mùi thối khắm cóc chết này không tỏa rộng như hồi xưa nữa.

Võ Minh Thần vốn là trai chí hiếu, từ nhỏ đã xa lìa cha mẹ, trí khôn cũng chẳng nhớ nổi chuyện xảy ra ngày xưa. Nhưng tình máu mủ ruột thịt vẫn có một mối dây vô hình thiêng liêng ràng buộc. Tuy không nhớ mặt mẹ xưa nhưng có lẽ do tiềm thức, đứa nhỏ năm nào sống dậy, chàng trai như linh cảm hình dung từ mẫu qua lớp sa mù dĩ vãng, tuy chẳng rõ rệt, nên khi thấy “túi da hình người mẹ” gớm ghiếc nằm trong quan tài, chàng như bị sét đánh nằm gục xuống ôm lấy quan tài, chịu một sức đau xót ghê gớm dùi vào linh hồn, rất lâu, rất lâu. Và trong những phút đau khổ, chàng trai bỗng nhiên như bị một thứ lửa hận cừu nung nấu, vụt thấy như linh hồn đổi khác, chai rắn lại không sao phân tách nổi. Mãi, chàng tuổi trẻ mồ côi mới phát giọng nghẹn ngào, mình vẫn nằm vắt ngang quan tài:

– Xác mẹ cháu đây sao… bá phụ! Thây xác người mà bác bảo là mệnh phụ quốc sắc… coi ghê gớm đến thế này sao?

Chúa Mã Đầu buồn rầu đáp:

– Phải! Chính mẹ cháu đó! Sau khi bị quỷ tứ túc hấp, bầy Hồng Cẩu Quẩy xúm lại định xé xác ăn, nhưng chúng không ăn nổi vì chỉ còn xương da lại tanh khắm kinh người, may sao đúng lúc đó, viên chính giám binh Cao Bằng hành binh tiễu phỉ, đón chú về tỉnh ăn tiệc, chợt gặp bầy quỷ này, bèn cho lính tháo chạy về phía biên giới Tàu, tha theo cả xác mẹ cháu, “xác” chú. Súng bắn như mưa, mấy con thú trúng đạn, bỏ xác chú lại. Ngay sau đó, chú cùng giám binh Tây đốt đuốc đi tìm, may sao thấy xác mẹ cháu vắt trên dây leo, chừng bầy quỷ tha nhằn chạy văng bắn lên đấy. Mười bảy năm rồi, chú vẫn bị xác này ám ảnh… Cháu à! Nếu cháu còn nhớ mặt mẹ! Ôi chao! Mẹ cháu lúc đó tuổi mới hơn hai mươi, mẹ cháu là một trang quốc sắc, đẹp không kém bà chúa soái Thập Vạn hiện giờ. Nếu cháu nhìn kỹ lông mày, hàm răng sẽ thấy.

Dứt lời, Chúa Mã Đầu cúi xuống, đỡ nhẹ Võ Minh Thần, tay kia soi đuốc. Võ theo đà nhỏm dậy, nước mắt đầm đìa, dòm sững xuống lòng quan. Quả nhiên ngoài “cái túi da người” gớm ghiếc vì tiêu gân thịt, những thứ không bị tiêu vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp dị thường.

Lông mày thiếu phụ dài như lá liễu, hàng mi cong vút, miệng tuy chết nhăn răng gớm ghiếc mất cả lợi, nhưng vẫn còn lộ hai hàm răng trắng ngà, đều như ngọc vụn, mớ tóc dài chấm gót tuy màu mun đã khô xác, vẫn còn phảng phất nét mây tuôn óng ả.

Võ Minh Thần run giọng kêu gọi “mẹ, mẹ ơi”, mà không ngăn nổi xúc cảm đột dậy mãnh liệt trong lòng hiếu tử, Võ vung tay nhào luôn xuống, ôm luôn lấy thây mẹ, bế xốc lên như bế một người còn sống.

“Rục! Rục! Lục cục! Lạo sạo!”

Chàng trai vừa ôm xốc lên, bỗng thấy cái thây phát âm khô rợn, cốt đổ dồn xuống bụng, nặng trĩu khúc giữa, suýt rơi, khiến Võ giật mình xốc vội lại cho khỏi tuột tay, mắt trợn trừng ngó xuống, thấy cái bụng vụt nổi cuộn phình lởm chởm đáy xương nhấp nhô một khối lù lù, khiến Võ bật kêu lên:

– Trời! Sao thế này?

– Trong lòng rỗng, hai bên xương đổ dồn vào giữa bụng đó thôi!

Võ Minh Thần dòm cái thây, và ôm ghì lấy khóc thảm thê.

Thoạt đầu, bỗng thấy người mẹ năm xưa đã biến thành một cái túi da cực kỳ gớm ghiếc, chàng trai bị xúc động cực độ vì sự phi phàm quái đản, nhưng liền sau đó, khi được biết rõ đó là thân xác chết oan của mẹ đã sinh ra mình, lạ thay, tình mẫu tử thiêng liêng, chàng trai không thấy ghê gớm nữa, mà chỉ thấy đau thương uất hận căm thù nổi lên ngùn ngụt trong linh hồn, cảm giác hỗn loạn thiết tha dâng lên tỏa rộng, dìm cả thân xác linh hồn người con hiếu vào trong đó, giằng xé, tung lên quật xuống, trùng trùng tứ diện bủa vây như không còn lối nào thoát ra nữa.

Rất nhanh, chàng tuổi trẻ rơi vào trạng thái đau đớn xót xa đến hôn mê, ôm lấy “cái túi da”, tất cả những thứ gì còn sót lại trên hình hài của một người đàn bà tiết liệt đã chịu chết thảm thê, khóc lóc kêu gào lăn lộn cả xuống nền hang, miệng gọi: “mẹ ơi! con đây… con về đây…” không ngớt.

Chàng trai chí hiếu lang thang đi tìm nguồn gốc, thân thế, lần đầu tìm được gốc thây, chàng trai khóc thương người từ mẫu đã chịu nhận lấy cái chết cực kỳ thê thảm, quái gở chỉ vì không chịu khuất thân, bỏ chồng con, nhân tính, nhân phẩm làm vợ loài quỷ tinh nanh ác.

Viên tướng lạc thảo Quảng Tây đứng nhìn lặng lẽ, không khuyên can, an ủi, cặp mắt diều hâu dữ tợn tối hẳn đi vì ái ngại, thỉnh thoảng ông ta lại đưa mắt vơ vẩn nhìn các món di vật quanh lòng hang đá, các vật kỷ niệm buổi chiều vượt biên giới sa vào móng vuốt loài ác quỷ bốn chân mười bảy năm rồi, nhìn đã quen mắt, nhưng lần nào nhìn, cảnh hoàng hôn đỏ khé năm xưa lại hiện về ám ảnh tâm tư như vừa mới xảy ra.

Nên ông ta cố ý cứ để mặc cho chàng trai khóc thảm cho dịu bớt thương đau u uất, chỉ lắc đầu chép miệng thương hại hết sức. Nhưng đứng mãi, thấy chàng tuổi trẻ vẫn ôm thây mẹ lăn lộn kêu gào khản cả tiếng, ông ta bất đắc dĩ phải cất giọng trầm u khẽ gọi:

– Võ Minh Thần à! Cái chết của mẹ cháu năm xưa, đến khách qua đường như chú còn phải động lòng rơi lệ, mười bảy năm không hết xót thương, huống chi cháu là con, người trong cảnh. Nhưng chuyện đã xảy ra, giờ có khóc thảm mấy, cũng không làm mẹ cháu sống dậy à! Cháu là đàn ông con trai, cũng chẳng nên quá bi lụy như đàn bà con gái, phải bình tâm tĩnh trí tính kế báo thù rửa nhục, họa may mẹ cháu mới được mát mẻ dưới suối vàng à!

Tuy sầu thảm như mê loạn, Võ Minh Thần vẫn chưa sảng trí. Nghe lời viên chúa núi Mã Đầu, chàng trai vội cắn răng, nén lòng đau, không khóc nữa, ôm thây mẹ đứng lên, lảo đảo muốn ngã. Ái ngại, chúa Mã Đầu bước lại, nắm lấy cánh tay đỡ, dịu dàng bảo:

– Xác mẹ cháu bị con quỷ chúa hấp sát, chẳng hiểu sao mười mấy năm rồi, tiêm ướp cẩn thận, vẫn còn nặc mùi tử khí. Cháu không nên để nhiễm mùi thây… có hại à!

Võ Minh Thần nghe chúa Mã Đầu nói, lúc đó mới kịp lưu ý, hít hơi, kinh ngạc kêu lên:

– Trời! Nặc mùi quá! Trách nào nãy giờ cháu cứ thấy thoang thoảng, lại tưởng mùi xác thú vật nào rữa đâu đây. Lạ thật! Mười bảy năm ướp khô không thối rữa, sao vẫn còn mùi?

– Hầy! Có lẽ tại do quỷ hấp, ám hơi quỷ chi đó. Cháu chưa biết, đêm hôm xảy ra tai nạn quái ác, chú cùng quan giám binh Cao Bằng đem lính đi tìm thấy, quấn chặt, thồ lưng ngựa có một đêm, con ngựa đó về đến Cao Bằng, lăn ra chết. Còn người lính giữ xác cũng ốm hàng tháng, suýt chết à!

Võ Minh Thần bồng xác mẹ đặt vào lòng quan tài. Viên chúa núi Mã Đầu phụ một tay lần xếp lại các ống xương lổn nhổn trong “túi da”. Chàng trai càng nhìn càng ứa nước mắt thương bậc sinh thành. Rất lâu, mới quay ra, cầm mớ xiêm y xem xét, lại coi cả bộ quần áo của viên chúa Đầu Ngựa cùng mớ di vật như bộ yên cương ngựa, mấy khúc xương người… Viên chúa Đầu Ngựa đưa Võ lại cuối quan tài, thò tay mở một cái rương khá lớn.

Võ Minh Thần dòm vào, giật thót mình vì bên trong có ba, bốn cái đầu người nham nhở toàn vết nanh nhọn sắc gặm dở, có cái đã bửa đôi, mất hết cả thịt, phần nhiều còn tóc, nhe răng há miệng coi gớm ghiếc.

– Trời! Còn đầu lâu những ai đây, bá phụ?

Chúa Mã Đầu Sơn khẽ thở dài:

– Đầu những kẻ ngộ nạn cùng chiều đó! Chú cùng mấy thủ hại tới đèo gặp đoàn buôn lậu của nghĩa phụ cháu. Hai đám đổ đường đèo, vượt vùng đất phân mao thì gặp mẹ cháu bồng cháu từ cánh rừng Nam bị đàn “quỷ mắt đỏ” đuổi theo đông như kiến. Mẹ cháu nhảy xuống đất, thả ngựa mang cháu chạy biến, còn bà đứng bắn chặn. Chú cùng nghĩa phụ cháu hô thủ hạ tràn xuống cứu nhưng bắn không xuể. Bầy quỷ tràn đi như thác lũ, cả đoàn võ trang tan tác, vào bụng quỷ, may chỉ có vài người thoát. Thường nó vừa tha đi vừa xúm gặm, nuốt cả xương. Mấy cái đầu này còn sót lại là nhờ có cánh lính khố xanh Cao Bằng kéo tới, có nhiều súng cối xay kích phác, chúng phải bỏ chạy.

Võ Minh Thần thắp hương khấn vái hương hồn người mẹ xấu số cùng mấy cái đầu người ngộ nạn, đoạn lấy mớ xiêm y sơn cước mặc vào cho di hài mẹ, đứng im lặng giây lát cố trấn tĩnh tinh thần, nhưng cứ cảm thấy cả thân thể mình muốn nổ tung vì thương đau uất ức, tủi hờn, kinh hoàng.

Và trong giây phút lặng lẽ như chiêu niệm oan hồn người thân thích, một cảm giác kỳ dị bỗng từ đâu kéo đến xâm chiếm tâm hồn, thoáng đã đóng trọn như không bao giờ thoát ra nữa: căm thù! Võ Minh Thần cảm thấy như mình đổi khác, một ngọn lửa oán hờn khủng khiếp cháy bỏng trong huyết quản, chàng tuổi trẻ thở một hơi dài, quay nhìn chúa núi Mã Đầu. Ánh lửa vật vờ hắt lên khuôn mặt điển trai rừng rực, viên tướng lạc thảo già đất Quảng Tây chợt lùi nửa bước, trợn trừng mắt nhìn chàng tuổi trẻ mồ côi, vùng hỏi lớn:

– Võ Minh Thần! Cháu… sao thế? Cháu có việc gì không?

Chàng trai lắc đầu, “Vua Pạc Hoọc” kêu:

– Hầy! Cái mặt lạnh như xác chết! Vì tử khí bốc lên đầy mặt mũi, coi chừng loạn trí loạn thần à. Cẩn thận. Sự đau khổ hận cuồng quá đỗi hay làm người ta loạn dây thần kinh, mê tâm, cuồng trí, tuyệt cả lòng nhân à. Nghe lời viên tướng lạc thảo khuyên, chàng trai vùng lau nước mắt, thở dài đáp:

– Có lẽ cháu quá xúc động trước di hài mẹ cháu nên biến sắc bất ngờ đó chăng. Bác nghĩ coi, cháu mới lọt lòng đã chịu cảnh mồ côi, đủ điều oan khổ, cha mẹ cháu tội gì mà phải chịu tử ly thảm khốc, nghĩa phụ cháu vừa gặp cũng chết thảm cùng nghĩa bộc. Thế gian đầy thảm cảnh oan khiên, bốn phương đầy lang sói ác nhân, quỷ quái… May ngày khôn lớn về tìm nguồn gốc còn có bá phụ trên đời. Mong ân bá phụ dạy bảo, cháu xin gắng mình. Nhưng thù này bất cộng đới thiên, dẫu phải xuống đến âm cung, cháu cũng rửa thù báo hận, tận diệt hết loài quỷ dữ bốn chân cho oan hồn mẹ cháu được siêu sinh.

Nói xong nước mắt lại ròng ròng. Tướng lạc thảo Tàu cũng ứa lệ, nắm tay chàng trai, lựa lời an ủi. Một già một trẻ đứng bên quan tài xác, lòng sầu hận mang mang. Võ Minh Thần nghẹn hỏi:

– Bá phụ! Sao không thấy bá phụ nhắc đến cha cháu?

– Chú nào biết! Chỉ là một lần gặp gỡ giữa đường thôi. Chiều đó chỉ có mẹ cháu bồng cháu chạy lên biên thùy. Sau này, chú có ý tìm cha cháu, nhưng không gặp. Suốt mười bảy năm, có mấy người đi tìm “đứa bé vòng xanh”, chú có liên lạc nhưng không gặp vì không ai chịu ra mặt. Khoảng năm, bảy năm, chuyện này như chìm vào dĩ vãng, không nghe ai nhắc tới nữa.

Chàng trai mồ côi lại càng thấy bí mật bao trùm dày đặc, đứng im nhìn xác mẹ, chợt hỏi:

– Phải mẹ cháu là người miền Bắc Việt Nam?

Tướng núi Mã Đầu nheo mắt:

– Quần áo này chính là quần áo đàn bà Thổ, Thái, Lào vẫn mặc, cái “phá” thủy ba kim tuyến quét gót. Nhưng mẹ cháu nói tiếng Tàu, tiếng Thổ, tiếng Việt đều thông thạo. Chú cứ ngỡ là người Thái, người Thổ lai Kinh chi đó. Võ Minh Thần cầm áo mẹ lên quan sát giây khắc, ngậm ngùi:

– Giờ xin bá phụ cho cháu được biết đầu đuôi… về cái chết thảm khốc của mẹ cháu. Bá phụ có được nhìn rõ phút mẹ cháu bị hại? Có nhìn rõ con quỷ bốn chân?

– Chú nhìn tường tận, chú đứng cách đó năm, bảy thước, lại có ống dòm. Chú còn nghe rõ từng lời mẹ cháu, lời con quỷ chúa dọa nạt dụ dỗ, áp bức mẹ cháu. Chú lại xông vào cứu, bị nó vồ ném cho bầy quỷ ăn thịt. Chú còn được nhìn rõ lúc nó hành hạ mẹ cháu và biến thành “cái túi da”. Ghê dữ à! Còn ghê hơn ác mộng.

Vừa mừng rỡ vừa ngạc nhiên, chàng trai hỏi vội:

– Nó không phải giống người mà nói được tiếng người?

– Phải. Đó là một con tinh chúa đầu đàn Hồng Cẩu Quẩy biết nói tiếng người, lại nói được nhiều thứ tiếng, âm lúc khàn rè, lúc nhọn sắc, vang vang như từ dưới đất vọng lên.

Võ hơi nhíu mày suy nghĩ, lẩm bẩm:

– Quái gở! Phi phàm! Hay nó chỉ là người chó sói? Hoặc ác nhân đội lốt sói?

Tướng lạc thảo Quảng Tây nhếch mép cười khô:

– Chính chú, quan giám binh đã có lúc nghĩ thế. Nhưng cuối cùng, vẫn không biết được. Không có con sơn cẩu nào cao ngót hai thước tây để người đội lốt. Nó đi hai chân, nói tiếng người, và đuổi theo bắt bọn chú, “đứa bé vòng xanh”… như ma xó. Trốn lẩn đi đâu nó cũng biết, chỉ có loài tinh quỷ mới ghê thế. Nó thổi một hơi, mê liền. Chú bắn mấy phát “Pạc Hoọc” vào ngực, vào mặt, vẫn trơ trơ.

Võ Minh Thần lại càng khó hiểu, cảm giác như đi vào cõi sa mù. Chàng trai chỉ kêu “lạ, lạ”, viên chúa Mã Đầu ném luôn ngọn đuốc ngay đầu quan tài, đứng dựa vào thành “áo”, ra hiệu cho Võ lại gần. Ông ta nghiêng nhìn vào lòng quan tài, đoạn quay ngó ngọn đuốc vật vờ, bộ mặt phong trần rắn rỏi trầm hẳn xuống, đường mạch máu thái dương nổi hằn, nếp nhăn chìm sâu như vết dao dĩ vãng chém còn lưu dấu, hai con mắt diều hâu vụt bâng khuâng mơ màng, giọng ồm ồm nói vừa cất lên đã trầm hẳn xuống, bỗng trở nên xa xăm mang mang như tiếng dĩ vãng mười bảy năm xưa ảm vọng về còn nguyên hình ảnh hơi hướm buổi hoàng hôn ma quái ngoài cõi biên thùy phân mao.

– Chiều hôm đó…! Buổi chiều nhạt nắng… ánh hoàng hôn đổ xuống biên địa Việt -Trung. Còn nhớ rõ hôm đó trời bỗng nổi cơn gió vàng hiu hắt, sương lam dâng lên, “con quạ lửa” lừ lừ hạ xuống ngọn núi phía Tây, coi như cái mâm đồng nung đỏ treo trên biên thùy hoang vu. Phải. Còn nhớ như in, rừng biên nhuộm ánh hoàng hôn đỏ khé coi không khác một cảnh hoàng hôn trong ác mộng từ đời hồng hoang hỗn mang chi sơ nào…

Võ trang đầy mình, đoàn lạc thảo, buôn lậu tứ chiếng quất ngựa đổ đèo vượt biên địa sang Nam…