Chương 40

White Sands

Tôi dính chặt người trên ghế khi chiếc trực thăng lao sầm xuống giữa một đám đông người và xe ngoài cổng White Sands. Phía trong cổng là hai chiếc Humvee với những khẩu súng máy nòng 50 ly trên lưng, các tay súng đứng trong tư thế sẵn sàng. Rachel chỉ vào đám người đang sôi sục. Hình như ban đầu chỉ gồm nhà báo, nhưng có một nhóm người biểu tình mang theo cả biểu ngữ và thánh giá đứng gần cổng. Họ làm tôi nhớ tới đám đông ở Via Dolorosa.

Tôi đăm đăm nhìn lên hướng Bắc qua cửa mở của chiếc Huey. Tại một điểm cách sa mạc này tám mươi cây, cha tôi đã từng chứng kiến vụ nổ bom nguyên tử đầu tiên. Thật mỉa mai, người ta gọi nó là Trinity Shot 1 . Ông quan sát từ một boong ke nơi có những máy quay cao tốc ghi lại từng một phần nghìn giây sự ra đời của mặt trời mới. Nhiều người chứng kiến sự kiện cố giải thích nó, nhưng không ai nắm bắt được khoảnh khắc ấy như Robert Oppenheimer. Tôi đã đóng những lời sau đây của ông lên tường lớp học y đức của tôi ở UVA:

Khi quả bom nguyên tử đầu tiên ấy nổ giữa rạng đông New Mexico, chúng tôi nghĩ đến Alfred Nobel và hy vọng vô ích của ông, rằng thuốc nổ sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh. Chúng tôi nghĩ đến huyền thoại Prometheus, nghĩ đến cái cảm giác tội lỗi sâu sắc trong những sức mạnh mới của con người, nó phản ánh việc con người nhận ra cái ác, và những hiểu biết lâu dài về cái ác. Chúng tôi biết đó là một thế giới mới, nhưng chúng tôi còn biết nhiều hơn rằng bản thân cái mới là cái rất cũ trong cuộc sống con người, rằng mọi nẻo đường đời của chúng ta bắt rễ từ đấy.

Khi chiếc trực thăng Huey hướng về phía đám đông bên dưới, tôi nhận ra Oppenheimer đã hiểu một điều mà Peter Godin không hiểu. Peter Godin đã đi vào máy tính Trinity, bỏ lại đằng sau cái mà trước đó không người nào từ bỏ hoàn toàn: nhân tính của mình. Trong cuộc kiếm tìm này, lão chỉ thất bại mà thôi.

Đám đông tràn đến trực thăng khi chúng tôi đáp xuống khoảng trống phía xa xe truyền hình. Chúng tôi nhảy ra và cố gắng chen vào cổng, nhưng có ai đó nhận ra tôi và kêu tên tôi khiến mọi người tán loạn hết cả lên. Một rừng máy ảnh, những ánh đèn chói lóa, và các phóng viên xoay quanh chúng tôi như lốc xoáy. Tôi đứng yên lặng chờ họ lắng xuống.

“Tôi là David Tennant. Tôi đã gửi tin tiết lộ sự tồn tại của Trinity.”

“Ông làm gì ở đây?” một phóng viên hét lên. “Có phải những người đằng sau hàng rào kia đã cố giết ông không?”

“Tôi nghĩ chúng tôi đã qua điểm đó rồi. Nhưng nếu tôi sai, các bạn sẽ thấy tôi bước đi bên trong căn cứ này. Nếu các bạn không thấy tôi ra nữa, xin đừng ngừng đặt câu hỏi cho đến khi tìm ra sự thật.”

“Sự thật là gì?” một phụ nữ hỏi. “Có phải máy tính bắt thế giới làm con tin không?”

“Đó là vấn đề mà tôi có mặt ở đây để giải quyết.”

“Bằng cách nào?” nhiều giọng nói gào lên cùng lúc.

Một người đàn ông nói giọng Pháp hét lên. “Có phải máy tính Trinity đã phá hủy đập sông Mohne ở Đức không?”

“Tất cả những gì tôi cần phải nói là như thế này. Bằng cách có mặt ở đây, các bạn đang giúp ích cho thế giới. Dù có xảy ra bất cứ điều gì, xin các bạn đừng bỏ đi. Cám ơn.”

Tôi cố gắng bước ra khỏi đám đông, nhưng các nhà báo không chịu nhường lối. Những câu hỏi mà họ gào lên phát đinh tai nhức óc, và họ chèn ép chúng tôi, cho đến khi tiếng cánh quạt phành phạch nhấn chìm giọng của họ. Một chiếc trực thăng Huey màu ô liu xỉn với các họng súng mi ni đặt sau cửa đang bay gần như ngay trên đầu. Khi nó xuống đủ thấp, đám nhà báo chạy tản ra như chim.