Chương 43: Hazel

KHI HỌ VÀO THỊ TRẤN, Hazel đi theo cùng tuyến đường mình đã từng đi cách đây bảy mươi năm – đêm cuối cùng của đời cô, khi cô đi từ đồi về nhà và nhận thấy mẹ mình mất tích.

Cô dẫn các bạn mình xuôi theo Đại lộ số Ba. Ga tàu hỏa vẫn còn ở đó. Khách sạn Seward hai tầng màu trắng to lớn vẫn đang hoạt động, mặc dù nó đã được mở rộng gấp hai so với diện tích cũ. Họ suy nghĩ về việc nghỉ lại đấy, nhưng Hazel không cho đó là ý hay khi đi thơ thẩn trong tiền sảnh khách sạn với đầy bùn trên người, vả lại, cô cũng không chắc liệu khách sạn có cho ba đứa trẻ vị thành niên thuê phòng hay không.

Thay vì vậy, họ rẽ về hướng ven bờ biển. Hazel không thể tin nổi, nhưng ngôi nhà cũ của cô vẫn còn nằm đó, chúi xuống mặt nước trên cầu tàu bám đầy hàu. Mái nhà nghiêng sang một bên. Các bức tường lỗ chỗ những lỗ như đạn bắn. Cánh cửa bị bít kín, và một tấm biển hiệu viết bằng tay đề là:

“Đi thôi,” cô nói.

“Ừm, em có chắc là chỗ này an toàn không?” Frank hỏi.

Hazel tìm thấy một cửa sổ để mở và leo vào bên trong. Các bạn cô theo sau. Căn phòng đã không được sử dụng trong một thời gian dài. Bụi bay lên theo bước chân họ, xoáy tròn trong tia nắng lọt qua từ các lỗ đạn. Các thùng các-tông vụn được chất dọc theo tường. Trên mớ nhãn mờ mờ của chúng có ghi dòng chữ: Thiệp Chúc Mừng, Đ

Bốn Mùa. Hazel không rõ vì sao vài trăm thùng thiệp chúc mừng lại mủn ra thành bụi trong một nhà kho ở Alaska, nhưng nó chẳng khác nào một trò đùa tàn nhẫn: cứ như thể số thiệp này là dành cho tất cả các lễ hội mà cô chưa bao giờ được tham gia – những ngày lễ Giáng sinh, Phục sinh, ngày sinh nhật, các ngày lễ Valentine trong hàng thập kỷ qua.

“Ít ra thì trong này cũng ấm hơn,” Frank nói. “Chắc là không có nước đâu nhỉ? Có lẽ tớ sẽ đi mua sắm. Tớ không dính đầy bùn như hai người. Tớ có thể tìm cho chúng ta vài bộ áo quần.”

Hazel nửa nghe nửa không những lời anh nói.

Cô leo qua một đống thùng ở trong góc từng là chỗ ngủ của mình. Một cái biển cũ được dựng tựa vào tường: QUN NHU THĂM DÒ VÀNG. Cô nghĩ mình sẽ thấy một bức tường trống không đằng sau biển hiệu đó, nhưng khi cô dời nó đi, phần lớn các tấm ảnh và bức vẽ của cô vẫn được đính ở đấy. Cái biển ắt đã bảo vệ chúng khỏi ánh nắng mặt trời và các yếu tố khác. Chúng dường như không thay đổi gì qua năm tháng. Các bức vẽ New Orleans bằng chì màu trông khá là ngây ngô. Liệu có thật là cô đã vẽ chúng không? Mẹ cô chăm chú nhìn cô từ một bức ảnh, bà đang mỉm cười đứng trước biển hiệu kinh doanh: TRANG SỨC BÙA CHÚ CỦA NỮ HOÀNG MARIE, XEM BÓI.

Kế bên đó là một bức ảnh Sammy ở lễ hội đường phố. Nụ cười toe toét ngốc nghếch, mái tóc đen xoăn tít và đôi mắt đẹp của cậu ấy dường như còn mãi với thời gian. Nếu Gaea nói thật thì Sammy chắc đã qua đời cách đây hơn bốn mươi năm. Liệu cậu ấy có thực sự nhớ về Hazel trong suốt thời gian đó không? Hay là cậu ấy đã lãng quên cô gái lập dị mà cậu thường cưỡi ngựa cùng – cô gái đã chia sẻ một nụ hôn và một cái bánh nướng sinh nhật với cậu trước khi biến mất vĩnh viễn?

Frank lướt nhẹ tay trên tấm ảnh. “Ai…?” Anh nhìn thấy cô đang khóc và không hỏi nữa. “Xin lỗi, Hazel. Chuyện này chắc phải khó khăn lắm. Em có muốn một ít thời gian…”

“Không,” cô rên rĩ. “Không cần đâu, em ổn.”

ẹ em sao?” Frank chỉ vào bức ảnh Nữ hoàng Marie. “Em trông giống mẹ lắm. Bà ấy thật đẹp.”

Rồi Percy chăm chú nhìn vào ảnh của Sammy. “Cậu ta là ai?”

Hazel không hiểu sao cô lại thấy hoảng sợ. “Đó… đó là Sammy. Cậu ấy là… ừm… bạn em ở New Orleans.” Cô buộc mình không nhìn Frank.

“Anh từng gặp qua cậu ta,” Percy nói.

“Không thể nào,” Hazel nói. “Đó là vào năm 1941. Cậu ấy… cậu ấy giờ chắc đã mất rồi.”

Percy cau mày. “Anh đoán vậy. Thế nhưng…” Anh ấy lắc đầu, như thể ý nghĩ đó quá đỗi khó chịu.

Frank hắng giọng. “Nghe này, chúng ta vừa đi qua một cửa hàng ở khu nhà cuối. Chúng ta còn chút tiền. Có lẽ tớ nên đi mua ít thức ăn cùng quần áo và… tớ không biết nữa… một trăm hộp khăn ướt hay thứ gì đó cho hai người nhé?”

Hazel che tấm biển thăm dò vàng lên trên các vật kỷ niệm như lúc đầu. Nội chỉ nhìn vào bức ảnh cũ của Sammy thôi cũng đủ làm cô thấy có lỗi rồi, vì Frank đang cố tỏ ra tốt bụng và cổ vũ cho cô. Việc đó khiến cô chẳng hề dễ chịu khi nghĩ về cuộc sống trước đây của mình.

“Tuyệt,” cô nói. “Anh cừ nhất đấy, Frank.”

Sàn nhà kêu kẽo kẹt dưới chân anh. “Ừm… dù sao anh là người duy nhất không bị lấm bùn khắp người mà. Sẽ nhanh thôi.”

Khi anh đi rồi, Percy và Hazel dựng lên một trại tạm thời. Họ cởi áo khoác ra và cố gạt bớt bùn đi. Họ tìm thấy ít chăn cũ trong một cái thùng và dùng chúng để lau rửa. Họ khám phá ra rằng những cái thùng đựng thiệp chúc mừng sẽ là chỗ nghỉ ngơi tốt nếu bạn xếp chúng làm nệm.

Percy đặt thanh kiếm của mình lên sàn nhà, nơi nó phát ra ánh đồng yếu ớt. Rồi nằm duỗi người ra trên chiếc giường làm từ thùng thiệp Chúc mừng Giáng sinh 1982.

“Cám ơn em đã cứu anh,” anh ấy nói. “Lẽ ra anh nên nói vậy sớm hơn.”

Hazel nhú. “Anh sẽ cũng hành động như thế với em.”

“Đúng thế,” anh ấy đồng ý. “Nhưng khi chìm xuống lớp bùn đó, anh nhớ lại dòng kia trong lời tiên tri của Ella – về việc con trai thần Neptune sẽ bị chết đuối. Anh đã nghĩ thế đấy. ‘Đây là ý của câu đó. Mình đang chết đuối trong lòng đất.’ Anh chắc chắn mình tiêu rồi.”

Giọng anh ấy run rẩy như ngày đầu tiên anh đến Trại Jupiter, khi Hazel chỉ cho anh ấy xem đền thờ của thần Neptune. Quay trở lại lúc ấy, cô đã tự hỏi liệu Percy có phải là lời giải đáp cho các vấn đề của mình không – là hậu duệ thần Neptune mà thần Pluto đã cam đoan một ngày nào đó sẽ giải lời nguyền cho cô. Khi đấy, Percy dường như rất đáng sợ và mạnh khủng khiếp, như một anh hùng thật sự.

Chỉ đến lúc này cô mới biết Frank cũng là hậu duệ của thần Neptune. Frank không phải là anh hùng có vẻ ngoài ấn tượng nhất thế giới, nhưng anh đã tin tưởng cô bằng chính mạng sống của mình. Anh đã nỗ lực rất nhiều để bảo vệ cô. Thậm chí cả sự vụng về của anh cũng gây cho cô cảm giác thích thú.

Cô chưa bao giờ cảm thấy bối rối hơn hiện tại – và vì cô đã bối rối trong suốt cuộc đời mình, tâm trạng này nói lên khá nhiều điều.

“Anh Percy,” cô nói, “lời tiên tri đó có lẽ không hoàn chỉnh. Frank cho rằng Ella đang nhớ lại một trang bị đốt. Biết đâu anh mới là người làm cho ai đó chết đuối thì sao.”

Anh ấy nhìn cô bằng ánh mắt thận trọng. “Em nghĩ thế sao?”

Hazel thấy là lạ khi an ủi anh ấy. Anh ấy lớn hơn cô nhiều và ra dáng chỉ huy hơn. Nhưng cô tự tin gật đầu. “Anh sẽ hoàn thành nhiệm vụ và quay về nhà. Anh sẽ gặp lại bạn gái Annabeth của mình.”

“Em cũng vậy, Hazel,” cậu nhấn mạnh. “Bọn anh sẽ không để bất cứ chuyện gì xảy ra với em. Em vô cùng quan trọng với anh, với trại, và đặc biệt là với Frank.”

Hazel nhặt một tấm thiệp Valentine cũ lên. Lớp giấy ren trắng rơi khỏi tay cô. “Em không thuộc về thế kỷ này. Nico chỉ mang em quay lại để em có thể sửa chữa sai lầm của mình, để em được vào Elysium.”

“Số mệnh em còn nhiều điều đáng để làm hơn thế,” anh ấy nói. “Chúng ta được định là sẽ ùng nhau chống lại Gaea. Anh sẽ cần em ở bên nhiều hơn nữa chứ không phải chỉ trong hôm nay. Và Frank – em có thể nhận ra cậu ấy phát điên vì em. Cuộc đời này đáng để ta tranh đấu, Hazel à.”

Cô nhắm mắt lại. “Làm ơn, đừng làm em lại hy vọng. Em không thể…”

Cánh cửa sổ kêu cót két khi có người mở ra. Frank leo vào, vui vẻ cầm trong tay vài chiếc túi đựng đồ mua sắm. “Thành công!”

Anh cho mọi người xem chiến lợi phẩm. Anh kiếm được vài ống tên mới cho mình, vài phần ăn và một cuộn dây thừng.

“Dành cho lần kế tiếp nếu chúng ta băng qua một bãi lầy,” anh nói.

Từ một tiệm bán hàng dành cho khách du lịch trong vùng, anh đã mua ba bộ quần áo mới, vài cái khăn tắm, một ít xà phòng, vài chai nước đóng chai, và, đúng thế, một hộp lớn khăn ướt. Đây không hẳn là tắm nước nóng, nhưng Hazel vẫn cúi xuống phía sau một bức tường các thùng thiệp chúc mừng để lau rửa và thay đồ. Rất nhanh sau đó, cô cảm thấy khá hơn nhiều.

Đây là ngày cuối cùng của mày, cô nhắc chính mình. Đừng có tỏ ra thoải mái quá.

Lễ hội Fortuna – hết thảy may mắn diễn ra trong ngày hôm nay, dù tốt hay xấu, đều được cho là điềm báo của một năm sắp tới. Bằng cách này hay cách khác, nhiệm vụ của họ sẽ phải hoàn tất trong tối nay.

Cô nhét mẩu củi vào trong túi áo khoác mới. Dù thế nào đi nữa, cô cũng phải bảo đảm nó được an toàn, bất kể chuyện gì sẽ xảy đến với cô. Cô có thể hy sinh, miễn là những người bạn của cô sống sót.

“Vậy,” cô nói. “Giờ chúng ta tìm một chiếc thuyền đến Sông băng Hubbard nhé.”

Cô cố nói sao cho thật tự tin, nhưng việc đó không dễ. Cô ước gì Arion vẫn ở cùng mình. Cô thích được cưỡi con ngựa tuyệt đẹp đó ra chiến trường. Kể từ khi họ rời Vancouver, cô đã gọi nó trong tiềm thức, hy vọng nó sẽ nghe thấy và đến tìm cô, nhưng đó chỉ là chuyện mơ tưởng hão huyền.

Frank vỗ bụng mình. “Nếu chúng ta sắp ra chiến trường đối diện với cái chết, tớ muốn ăn trưa trước. Tớ vừa tìm thấy một nơi tuyệt vời.”

Frank dẫn họ đến một khu mua sắm gần cầu tàu, nơi một toa xe lửa cũ kỹ được cải tạo thành một nhà ăn. Hazel không có ký ức nào về nơi này kể từ những năm 1940, nhưng thức ăn có mùi thơm ngào ngạt.

Trong lúc Frank và Percy gọi món, Hazel đi thơ thẩn về cuối cầu tàu và tự đặt vài câu hỏi. Khi quay trở lại, cô biết mình cần vui vẻ lên. Ngay cả món hamburger thịt băm pho mát và khoai tây chiên cũng không làm được điều đó.

“Chúng ta có rắc rối,” cô nói. “Em đã cố kiếm một chiếc thuyền. Nhưng… em tính sai mất rồi.”

“Không có thuyền sao?” Frank hỏi.

“Ồ, em có thể tìm được một chiếc,” Hazel nói. “Nhưng sông băng ở xa hơn em nghĩ. Dù có đi với tốc độ tối đa thì phải đến sáng mai chúng ta mới có thể đến đó.”

Percy xanh mặt. “Hay là anh làm cho thuyền chạy nhanh hơn?”

“Ngay cả khi có anh giúp,” Hazel nói, “theo những gì mà các thuyền trưởng kể với em, chuyến đi cũng nguy hiểm lắm – băng trôi, các eo biển như mê cung không sao mà lần. Anh phải biết nơi mình sẽ đến.”

“Máy bay thì sao?” Frank hỏi.

Hazel lắc đầu. “Em cũng đã hỏi qua các thuyền trưởng. Họ nói chúng ta có thể thử, nhưng ở đây chỉ có một sân bay bé tí tẹo. Anh phải thuê máy bay trước hai hay ba tuần.”

Sau đó họ im lặng dùng bữa. Món hamburger của Hazel ngon tuyệt, nhưng cô không thể nào tập trung. Cô ăn được khoảng ba miếng thì một con quạ đáp xuống phía trên một cột điện thoại và bắt đầu kêu quạ quạ về phía họ.

Hazel run rẩy. Cô sợ nó sẽ lên tiếng với cô y hệt một con quạ khác cách đây nhiều năm: Đêm cuối cùng. Đêm nay. Cô tự hỏi liệu lũ quạ có thường hay xuất hiện trước mặt con cái của thần Pluto khi họ sắp chết không. Cô hy vọng Nico vẫn còn sống, và Gaea chỉ nói dối để làm cho cô do dự. Hazel có dự cảm không tốt rằng nữ thần đang nói thật.

Nico từng bảo với cô rằng cậu sẽ tìm kiếmCác Cánh Cửa Của Tử Thần theo hướng ngược lại. Nếu cậu ấy đã bị quân của Gaea bắt, Hazel sẽ mất đi người thân duy nhất mà cô có.

Cô nhìn chăm chăm vào món hamburger của mình.

Đột nhiên, tiếng kêu của con quạ chuyển thành tiếng ăng ẳng như bị bóp cổ.

Frank đứng bật dậy nhanh đến nỗi suýt làm ngã cái bàn. Percy rút kiếm ra.

Hazel nhìn theo hướng họ đặt tầm mắt. Đậu trên nơi cao nhất, nơi con quạ vừa đậu, một con quái vật mình sư tử cánh chim xấu xí béo ú đang trừng mắt nhìn xuống họ. Nó ợ một cái và lông quạ bay ra khỏi mỏ nó.

Hazel đứng dậy và rút thanh trường kiếm spatha ra.

Frank lắp tên vào. Anh nhắm bắn, nhưng con quái vật mình sư tử cánh chim đã thét lên thật lớn, âm thanh vang vọng khắp những ngọn núi. Frank nao núng, và cú bắn của anh trật ra xa.

“Tớ nghĩ đó là yêu cầu trợ giúp,” Percy cảnh báo. “Chúng ta phải đi khỏi đây ngay.”

Chẳng có lấy một kế hoạch cụ thể nào, họ chạy như bay ra cầu cảng. Con quái vật mình sư tử cánh chim đuổi theo họ. Percy dùng kiếm chém nó, nhưng con quái vật đã chuyển hướng.

Họ đi xuống các bậc thang để đến cầu tàu gần nhất và chạy về phía đuôi tàu. Con quái vật mình sư tử cánh chim lao theo, móng trước nó mở ra, sẵn sàng chém giết. Hazel giơ kiếm lên, nhưng một bức tường nước lạnh buốt từ một bên lao tới đã đập mạnh vào người nó và kéo tuột nó xuống vịnh. Con quái vật kêu quác quác và vỗ cánh phần phật. Nó cố leo lên cầu tàu và vung vẩy bộ lông đen như một con chó bị ướt nước.

Frank làu bàu. “Cú đánh đẹp đấy Percy.”

“Ừm,” anh ấy nói. “Tớ không biết là mình vẫn có thể làm vậy ở Alaska. Nhưng tin xấu – nhìn đằng kia kìa.”

Cách đó khoảng một dặm, phía trên những ngọn núi, một đám mây đen cuồn cuộn bốc lên – nguyên cả một bầy quái vật mình sư tử cánh chim, hàng tá con là ít. Họ chẳng có cách nào chống lại nhiều kẻ địch như thế, và không c thuyền nào đưa họ đi đủ nhanh để thoát khỏi bọn chúng.

Frank lắp một mũi tên khác. “Sẽ không bị đánh ngã mà không chiến đấu.”

Percy giơ thanh Thủy Triều lên. “Tớ đi cùng cậu.”

Rồi Hazel nghe thấy một âm thanh từ phía xa xa – như là tiếng hí của một con ngựa. Ắt là cô đang tưởng tượng thôi, nhưng cô vẫn hét thật lớn, “Arion! Bên này!”

Một vệt nâu vàng nhạt phi như bay đến cuối đường và lao lên cầu tàu. Con ngựa hiện ra ngay đằng sau con quái vật mình sư tử cánh chim, tung hai vó trước của mình xuống và giẫm nát con quái vật thành tro bụi.

Hazel chưa bao giờ thấy hạnh phúc như thế trong đời. “Ngựa tốt! Thật sự là một con ngựa tốt!”

Frank lùi lại và tí nữa thì ngã khỏi cầu tàu. “Làm thế nào…?”

“Nó đi theo em!” Hazel toét miệng cười. “Vì nó là con ngựa… giỏi nhất… TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY! Giờ thì, lên ngựa nào!”

“Cả ba chúng ta sao?” Percy nói. “Liệu nó có chịu nổi không?”

Arion hí lên một cách phẫn nộ.

“Được rồi, không cần phải thô lỗ thế,” Percy nói. “Đi thôi.”

Họ leo lên ngựa, Hazel ở phía trước, Frank và Percy ngồi chênh vênh đằng sau. Frank quàng hai tay mình quanh eo cô, và Hazel nghĩ rằng nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cô trên cõi đời này – có chết đi thì cũng không phải là tệ lắm.

“Chạy thôi, Arion!” cô hét lên. “Đến Sông băng Hubbard nào!”

Con ngựa cất vó phi như bay ngang qua mặt nước, nơi nào trên mặt biển bị nó đặt móng xuống nước đều bốc hơi.