Chương 48: Tri-tôn Đầu-thượng -quả-cảm, Hùng-vĩ Đại Vương

Vũ Quang nhìn sang bên trái, chỗ phòng tuyến của hiệu binh Hồng-châu, mặt trận đã vỡ, quân Lưu Mân ùa vào trong lũy rồi.

Đội võ sĩ phái Tản-viên hơn trăm người đang tử chiến cản lại.

Hầu cầm cờ xanh phất lên, thì từ phía sau, Hùng Nhân, Hùng Nghĩa, Hùng Lễ dẫn đội hổ hơn trăm con phóng đến như bay xông vào trợ giúp võ sĩ Việt, lập tức cánh quân của Lưu Mân bị đánh bật lại.

Trong khi đội báo, voi xông vào đánh đội võ sĩ của Đặng Trung.Hầu nhìn sang bên phải, cánh quân của Miêu Lý đã tràn vào trong lũy.

Công chúa Thiên-Ninh với Miêu Lý đang đấu chưởng đến một mất, một còn.

Hầu cầm tù và rúc lên.

Từ đâu đó một đàn ong bay đến rợp trời, nhào xuống đốt hậu quân Tống ngoài chiến lũy.

Hàng ngũ quân Tống bị rối loạn, bỏ chảy tứ tán.

Đội võ sĩ Côn-luân đang bị võ sĩ Tản-viên, báo, voi vây đánh, bây giờ không có quân bộ giúp sức, thoáng một cái, bị giết gần hết.Đặng Trung thấy nguy, y hú lên một tiếng dài, rồi y với bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc cùng bỏ phòng tuyến tiến đến đài của Vũ Quang.

Lý Nhất, Mai Nhị thất kinh hồn vía, vội bỏ trận tuyến quay lại cứu Vũ Quang.

Nhưng đã chậm, năm người cùng phát chưởng hướng cột đài.

Rầm một tiếng, đài từ từ đổ xuống.

Lý Nhị, Mai Nhị cản bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc lại.

Đặng Trung nhảy lên vung kiếm chém Vũ Quang.

Biết thế nguy, hầu rút kiếm đưa vào ngực Trung, như lối đánh cả hai cùng chết.

Đặng Trung vội thu kiếm về nhảy lộn ra phía sau để tránh thế kiếm ác liệt.

Bốn gã Đông, Tây, Nam, Bắc cùng Đặng Trung vây lấy Vũ Quang, Lý Nhị, Mai Nhị.

Trận Việt không người điều khiển, bắt đầu rối loạn.Bỗng có tiếng quát:

– Sư đệ đừng sợ! Có ta đây.Hai nhà sư Viên Căn, Viên Mộc, từ ngoài nhập cuộc, tấn công hai gã Đông, Tây; vợ chồng Lý Nhị đấu với hai gã Nam, Bắc.

Vũ Quang được rảnh tay, hầu đưa kiếm vào cổ Đặng Trung.

Y khinh thường không đỡ kiếm của hầu, mà vòng tay thọc kiếm vào cổ hầu, để hầu phải thu chiêu về đỡ đòn.

Nhưng đã chậm, đầu y bay khỏi cổ, trong khi kiếm của y xớt vào cổ hầu, máu phun ra ra xối xả.

Kinh hãi, hầu vội xé vạt áo buộc vết thương, tiếp tục cầm cờ chỉ huy.Trận thế Việt lại nối liền với nhau.

Trận chiến diễn ra ác liệt.Về phía công chúa Thiên-Ninh, công chúa đã phát huy hết công lực, nhưng vẫn không địch nổi Miêu Lý.

Y quát lên, rồi phát ra một chiêu với tất cả bình sinh công lực, định kết liễu tính mệnh bà.

Công chúa nghiến răng đỡ.

Bình một tiếng người bà bay bổng lại phía sau.

Miêu Lý không nhân nhượng, y đánh tiếp một chiêu nữa.

Công chúa đành nhắm mắt chờ chết.

Thì thình lình có tiếng quát thanh thoát, rồi một người mặc quần áo vàng phi thân tới phát chưởng mạnh đến nghiêng trời lệch đất đánh vào lưng Miêu Lý.

Biết rằng nếu không thu chưởng về đỡ, thì người sẽ nát ra như tương mà chết, Miêu Lý vội chuyển tay về sau đỡ.

Bùng một tiếng người y rung động, cánh tay tê rần.

Y nhìn lại thì ra Âu Hoàng.Công chúa Thiên-Ninh thoát nạn, bà lại cầm cờ chỉ huy, Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền dẫn đầu đội võ sĩ Việt đánh như hổ đói vồ mồi, hàng ngũ Tống bị đánh cắt làm nhiều khúc.

Trận chiến diễn ra khủng khiếp.Sự xuất hiện của bốn nhà sư chùa Báo-ân với Thần-vũ lục anh, khiến các võ sĩ Tản-viên lấy lại được thế công, thoáng một cái, hơn hai trăm võ sĩ Côn-luân bị giết hết.Trong bốn nhà sư, thì Viên Diệp có võ công cao nhất.

Ông đấu với gã Bắc thắng thế rõ rệt.

Thấy máu ở cổ Vũ Quang chảy nhiều quá, cần phải kết thúc trận đánh mau chóng; ông quát lên một tiếng, đánh ra chiêu Lôi đả Ân tặc, gã Bắc vỡ làm năm sáu mảnh.

Ông tiếp năm lá cờ trên tay Vũ Quang rồi đánh hai chiêu đẩy hai gã Nam, Bắc ra xa, nói với Lý Nhị:

– Sư huynh mau thay thế Vũ đệ.

Còn Vũ đệ mau lui về băng bó.Vũ Quang nhảy lên mình ngựa phi về hướng Thăng-long.Giữa lúc trận chiến nghiêng ngửa chưa phân thắng bại, thì lại năm trái Lôi-tiễn nổ trên không.

Tiếp theo Lôi-tiễn nổ liên tiếp ở khu rừng tre phía hậu quân Tống, lửa cháy ngụt trời.Bất giác chư tướng Tống cùng quay đầu nhìn lại: Suốt một giải rừng tre, cờ Việt bay phất phới, quân reo dậy đất.

Kị binh Việt đang phi như bay đuổi theo mười hai kị mã Tống nằm rạp xuống, ra roi cho ngựa chạy.Miêu Lý kinh hoàng, vội lệnh cho quân rút khỏi chiến lũy.

Lệnh vừa ban ra, quân sĩ un ùn bỏ chạy, bỏ cả lá chắn.

Bấy giờ quân Việt mới xuất hiện truy kích.

Tống bỏ lại tử sĩ, thương binh la liệt trong chiến lũy; chồng chất trên bờ chiến lũy, dưới con hào, và trên những thửa ruộng đầy nước.Ghi chú,Bình luận về trận chiến thê thảm này, gia phả Lưu thị chép về Lưu Mân như sau: ” Thảm thương thay, những chiến binh Tống kinh nghiệm có thừa, võ nghệ cao cường, trung nghĩa không thiếu; suốt cuộc đời sống ở miền Bắc, luyện tập chiến đấu ở vùng sa mạc.

Bây giờ bị bọn ngu tướng (chỉ Quách Quỳ, Triệu Tiết) đẩy vào vùng bùn lầy, lội nước lõm bõm; đi đứng xoay sở đã khó khăn, thì còn nói gì đến chiến đấu?

Họ giống như người bị trói chân trói tay.

Khổ cho họ, họ phải đối địch với đội quân Việt thiện chiến hơn, dược dưỡng sức nên khoẻ hơn, được nuôi ăn đầy đủ hơn; trong lòng lại quyết tử để bảo vệ sống còn cho đất nước.

Tướng của họ lại biết lựa chọn địa thế, để diệt khả năng chiến đấu địch, tăng khả năng chiến đấu quân mình “.Gia phả của họ Đặng chép về Đặng Trung có hơi khác: ” Tổ (Trung) tiến trước quân sĩ, đánh phá được chiến lũy Cổ-pháp, rồi kịch chiến với Hổ-uy thượng tướng quân, tước Thành-Tâm hầu tên Vũ Quang.

Người giết được Quang, nhưng cũng bị trúng thương tuẫn quốc.

Quách Qùy cố che dấu việc tiến binh vụng về, nên không tâu rõ rằng trận đánh thất bại, vì quân triều phải lội qua bùn lầy lên tới gối.

Còn quân Việt thì phục ở trong bắn ra “.Quân Tống rút ra khỏi tầm tên quân Việt, tập trung lại trên các bờ ruộng, trên nghĩa địa, thì đội kỵ binh Việt lại biến mất trong rừng tre.Công chúa Thiên-Ninh gọi Mai Nhị:

– Miêu Lý cho quân rút khỏi tầm tên, y đã tưởng được yên thân ư?

Khó lắm.

Em cho nã Lôi-tiễn lên đầu chúng, để chúng kinh hoàng.Lá cờ đỏ phất lên, tiếp theo những tiếng vi vu rít lên không gian, rồi hàng chục, hàng trăm mũi Lôi-tiễn nổ chụp trên đầu chỗ quân Tống tập trung.

Mệt mỏi sau cuộc giao chiến thất bại, bây giờ bị Lôi-tiễn nã.

Quân Tống không còn lòng dạ chiến đấu, quẳng vũ khí chạy tán loạn ra cánh đồng, vượt khỏi tầm Lôi-tiễn.Mười hai kỵ mã Tống đã tới trước Miêu Lý.

Y nhận ra bẩy kị mã không phải kị binh của y mà là quân chấp lệnh (quân chuyên chuyển lệnh) cạnh Quách Quỳ, với bẩy kị mã già, mũ che kín gần hết mặt.

Miêu hỏi chúng:

– Các người đi đâu đây?

Viên đôi trưởng thở hổn hển:

– Quách nguyên soái truyền tướng quân hãy ngừng tấn công để chỉnh đốn lực lượng.

Bởi toàn bộ cánh Nham-biền của ta bị diệt.

Nguyên soái đang chuẩn bị lực lượng phá chúng.

Để lừa chúng, người giả sai sứ chiêu hàng Lý Càn-Đức, hẹn cho y phải đầu hàng trước giờ Ngọ ngày mai.

Được tin này ắt chúng yên tâm, không tấn công ta nữa, như vậy tướng quân với đô tổng quản Yên Đạt có thời giờ chỉnh đốn binh mã trước khi vào Thăng-long.

– Tình hình rừng tre ra sao?

Có gặp kị binh của ta không?

Tại sao bị kị binh Giao-chỉ đuổi theo?

– Khi tôi đến rừng tre, thì vừa gặp lúc quân Việt xuất hiện, giết đám kị binh giữ ngựa, rồi cướp ngựa.

Chúng tôi kinh hoàng bỏ chạy về hướng này.

Chúng cho một đoàn đuổi theo chúng tôi, đến đây thì rút chạy.Trương Thế-Cự cau mặt:

– Ngựa bị bệnh, sao chúng có thể dùng được?

Đội trưởng chấp lệnh nói:

– Tế tác của ta ở Thăng-long thu lượm được tin tức báo về cho Quách nguyên soái rằng ba vị mắc mưu bọn Giao-chỉ.

Nhưng tin đến quá trễ.

– ?

!?

!?

!

– Trương tướng quân bị Giao-chỉ lừa mà không biết.

Nguyên trong khi thiết kế, chúng tính trước rằng Như-nguyệt bị thất thủ, ắt ta đem kị mã đánh về Thăng-long.

Chúng dùng thuốc nhuyễn cân tưới lên khắp cỏ non vùng rừng tre.

Chúng lại bầy ra vụ cho ba con trâu, ba đứa cỡi, thổi tù và, khiến ta dừng quân lại, rồi ngựa ăn cỏ độc, gân cốt nhuyễn ra.

– Lẽ nào quận chúa Minh-Thúy cũng giúp bọn Giao-chỉ hại ta?

– Không! Quận chúa bị lầm lẫn mà thôi.

Quận chúa không biết chiến mã ta bị trúng độc.

Người tưởng chúng ăn phải cỏ độc, nên người mới lấy trộm thuốc giải cỏ độc cho ta, dặn ta cách trị v.v; trong khi ngựa của ta ăn phải thuốc nhuyễn cân.

Cho nên khi các vị đem quân đi rồi, thì binh tướng Giao-chỉ xuất hiện, không đầy nửa khắc trên hai trăm kị binh giữ ngựa bệnh bị giết hết.

Chúng đem thuốc giải nhuyễn cân cho chiến mã ta uống.

Hơn khắc sau, ngựa khoẻ như thường.

Lập tức kị binh Giao-chỉ cỡi chiến mã của ta cùng hiệu binh Ngự-long tiến lên lập phòng tuyến ở rừng tre chặn đường tiếp tế của tướng quân.

Thành ra bây giờ tướng quân tiến lên thì vướng chiến lũy Cổ-pháp, lui lại thì gặp chiến lũy rừng tre.Miêu Lý nhăn mặt:

– Ngự-long?

Thế quân nào trấn ở chiến lũy kia?

– Thưa chúng dùng hư binh cả.

Hiệu Quảng-vũ vẫn còn ẩn ở trong rừng Bắc-biên.

Hiệu Ngự-long ẩn ở trang ấp gần rừng tre.

Còn trong chiến lũy kia chỉ có hiệu binh địa phương Hồng-châu với hiệu Quảng-thánh mà thôi.Miêu Lý giận cành hông, y hỏi:

– Tin tức có cho biết tướng Giao-chỉ nào bầy mưu này không?

– Nghe nói là công chúa Thiên-Ninh.

– Con tiện tỳ thực xảo trá, ban nãy suýt nữa ta giết được thị.

Sau này chiếm Thăng-long rồi ta sẽ bắt thị cho một trăm tên quân hiếp mới nư giận.Nghe viên đội trưởng chấp lệnh nói, lòng Miêu Lý ngút lửa hận:

– Mình ngu thực.

Chúng lợi dụng địa thế, ém quân ở trong.

Vì vậy chỉ có một hiệu Thiên-tử binh với một hiệu địa phương, mà mình tưởng có tới bốn hiệu, nên dàn quân thực rộng.

Rút cuộc quân không chết vì giao chiến, mà chết vì chông, vì tên, vì Thần-nỏ.

Nghĩ một đời Đặng Trung trí dũng có thừa, từng tung hoành trên sa mạc Tây-thùy hai mươi năm qua anh hùng là thế, mà nay bỏ thân ở chốn man mọi này.

Thảm thương thực.Nhìn về phía chiến lũy, bất giác y nổi giận cành hông: Công chúa Thiên-Ninh ngồi trên chiếc xe tứ mã, bên cạnh có ba nàng Âu với sáu thiếu nữ đang tấu nhạc, mà lại là nhạc chiến thắng của nhà Chu bên Trung-quốc.

Phía sau quân Việt đang nở cổng ra ngoài thu nhặt tử thi quân Tống.

Miêu Lý bàn với các tướng:

– Ví thử ban nãy, không thấy đám kị binh xuất hiện, thì chúng ta đã chiếm được chiến lũy.

Từ đây về Thăng-long còn có hai mươi dặm (10 km).

Ta biết rõ hai hiệu Ngự-long, Phù-đổng đều chặn đường tiếp tế của ta, trong khi Thăng-long trống trơn.

Ta có nên tiến đánh Thăng-long, bắt Càn-Đức, Yến-Loan, tạo thành một chuyện thống khoái kim cổ chăng?

Bọn Trương Thế-Cự, Lưu Mân đều đồng ý.

Viên đội trưởng chấp lệnh nói:

– Chính vì giặc sợ tướng quân đánh Thăng-long, chúng mới dùng toàn lực đánh vào quân ta ở Nham-biền.

Một vạn quân triều chết, bốn vạn bị bắt sống.

Toàn bộ mười lăm vạn quân bị bắt, bị giết hết.

Hiện tên Chiêu-Văn đang đem hai hạm đội, chở thêm hai hiệu Thiên-tử binh đi ngược sông Cầu tiến về Như-nguyệt.

Trên bộ tên Hoằng-Chân chỉ huy hai hiệu nữa đánh phía sau.

Còn vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi chiếm Chi-lăng, vợ chồng Tôn Mạnh chiếm Quyết-lý, vợ chồng Thân Cảnh-Long chiếm lại Lạng-châu.

Đường về của ta bị mất.

Có tin thủy quân Việt đánh chiếm Khâm, Liêm, đang tiến về Quảng-châu.

Xin tướng quân tạm cho quân nghỉ, chờ nguyên soái thanh toán hai đạo của Hoằng-Chân, Chiêu-Văn rồi sẽ tiến công cũng chưa muộn.Y chỉ vào năm kị mã già nói nhỏ:

– Đây là năm đại sư Pháp-Minh, Pháp-Đức, Pháp-Thiên, Pháp-Hạ.

Nguyên soái truyền rằng: Bốn vị phải ẩn thân, ngày mai nguyên soái thanh toán bọn Hoằng-Chân, Chiêu-Văn, rồi sẽ cho ba tướng Vương Tiến thống lĩnh hai tướng Bình Viễn, Vương Mẫn đem quân tiếp viện cho tướng quân.

Trong đội quân tiếp viện sẽ có thêm năm đại sư Pháp-Tiên, Pháp-Trị, Pháp-Quốc, Pháp-Cách, Pháp-Vật.

Mười đại sư thình lình xuất tấn công giết tướng giặc như giết chuột.

Bấy giờ tướng quân sẽ tiến thẳng về Thăng-long.Miêu Lý chỉ vào chiến lũy Cổ-pháp mà than:

– Chỉ vì Quách nguyên soái muốn giữ bí mật đến giờ chót, mà mình phải hy sinh mấy vạn tướng sĩ tại đây.

Ví thử người cho mười đại sư xuất hiện trước, thì ta đã chiếm được Cổ-pháp, và đang vây Thăng-long rồi.

Hỡi ơi!Y lắc đầu:

– Bao nhiêu lương thực, với các đội hỏa đầu quân của ta để ở rừng tre bị Giao-chỉ tràn ngập.

Đường tiếp tế phía trước thì hiệu Phù-đổng, Ngự-long lập chiến lũy cắt mất.

Phía sau thì hiệu Quảng-thánh, Hồng-châu đóng chặn đường.

Ta lâm thế tiến không xong, mà lùi cũng không được, chiều nay không có lương, thì làm sao đây?

Nguyễn Dư chỉ vào hai làng bên đường:

– Thưa tướng quân, hai làng này là nơi đồn trú lương thảo của Giao-chỉ, không biết bây giờ có còn không, hay đã di chuyển đi rồi.Miêu Lý ra lệnh:

– Làng này là nơi đồn trú lương thảo, mà sao Thiên-Ninh lại không cho lập chiến lũy?

– Thưa làng nào, thị cũng cất đấu lương thảo, chứ không phải chỉ hai làng này mà thôi.

– Ta đánh Như-nguyệt như sét nổ, nếu thực sự trong làng chứa lương, thì chúng chưa di chuyển đi đâu.

Người dẫn theo mấy tên bảo binh vào dò thám xem sao! Nhớ không được giết hại dân chúng.Nguyễn Dư đi một lúc rồi trở về đưa ra cuốn sổ:

– Thưa tướng quân, quả như tướng quân đoán, lương thảo vẫn còn nguyên, chúng chưa di chuyển kịp.

Trong làng chỉ còn đàn bà, trẻ con, người già, còn trai tráng thì bị bắt đem vào chiến lũy hết rồi.Miêu Lý cầm sổ coi: Gạo mới sáu nghìn thùng (tương đương với ngày nay là sáu mươi nghìn kg), tôm khô nghìn cân, cá khô nghìn cân, mắm trăm cân.

Y xem xuống dưới, còn có cả đường, đậu, chảo, nồi, bát, đũa.

v.v.Miêu Lý mừng rỡ vô cùng.

Nhưng vốn tính cẩn thận, y cho gọi y sĩ tới kiểm lại xem, thực phẩm của Nam nan ăn vào có ngộ độc không.

Sau khi kiểm soát, y sĩ trình:

– Ta ơn trời Phật, hai kho này toàn thực phẩm thượng hạng.

Gạo có ba loại, một là gạo nếp tía, vừa thơm vừa dẻo; hai là gạo tám, vừa thơm vừa mềm; ba là gạo rự vừa dẻo vừa mềm.

Cá khô thì toàn cá thu, cá chim; tôm thì toàn tôm he.Miêu ra lệnh:

– Vào làng lấy gạo, cá khô, tôm khô phát cho quân ăn.

Với số gạo này, đủ nuôi ba vạn người trong hai ngày.Quân sĩ được phát gạo, cá khô, tôm khô, vội cùng nhau nấu cơm chiều ăn.

Quân Tống đa số là người miền Bắc, chưa từng dược ăn cá thu, cá chim, tôm he, mực khô, với gạo tám.

Đây là lần đầu tiên họ được ăn nhừng sản phẩm, mà họ chỉ được nghe kể trong những câu truyện cổ tích.Trương Thế-Cự bàn với Miêu Lý:

– Bây giờ chúng ta phải hành động ra sao?

Quân của ta bộ còn gần hai vạn; kị tuy không còn ngựa, nhưng số người cũng hơn vạn.

Tổng cộng hơn ba vạn.

Dù quân trong rừng tre, cộng với quân trong chiến lũy Cổ-pháp, ta vẫn đông hơn chúng.

Nay lại thêm năm vị đại sư nữa, thì ta có hy vọng thắng chúng.

Vậy ta nên chọn một trong hai đường: Hoặc phá vòng vây rừng tre mở thông đường về Như-nguyệt, hoặc phá chiến lũy Cổ-pháp tiến về Thănglong.

Ta nên chọn đường nào?

Miêu Lý thở dài:

– Thôi đành theo lệnh nguyên soái, chờ đến trưa mai.Đâu đó tiến nhã nhạc rất êm dịu vọng lại, y đưa mắt nhìn: Công chúa Thiên-Ninh cùng ba nàng Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền đang dẫn quân thủng thẳng theo sau y, đầy đe dọa.Một đoàn trâu kéo xe từ chiến lũy từ từ đi tới.

Miêu Lý nhận ra đây chính là đoàn xe trâu của Võ Kim-Liên với Trần-Triệu Minh-Thúy đã chở xác tử sĩ sư một kị binh trả về cho Tống hôm trước.

Nhưng lần này, thì đoàn xe dài gấp bội.

Trên mỗi lưng trâu, có một người cỡi, kéo theo một chiếc xe chất đầy xác chết.

Đoàn xe tới gần, y nhận ra người ngồi cạnh Minh-Thúy không phải là Võ Kim-Liên, mà là một thiếu phụ mình hạc xương mai, dáng điệu uy nghi; tuổi tuy cao, nhưng cực kỳ xinh đẹp.

Thiếu phụ mặc y phục của vương phi Tống.

Y vội cùng đội võ sĩ ra cản đường.Quận chúa Minh-Thúy chỉ thiếu phụ hỏi Miêu Lý:

– Miêu tướng quân, người có biết ai đây không?

Miêu Lý đã nhận ra thiếu phụ là Yên-vương vương phi Lê Thiếu-Mai.

Trước đây khi Yên-vương còn tại thế, vương phi cùng vương trấn Bắc-thùy, thì y chỉ là một đội trưởng kị binh.

Y vội nghiêng mình thi lễ:

– Tiểu tướng giáp trụ trên người, không hành đại lễ được, xin vương phi đại xá.Tiên nương vẫy tay:

– Tướng quân không nên đa lễ.

Chỉ vì hoàng thượng nghe lời Vương An-Thạch xua trăm vạn quân tinh hoa xuống vùng lam chướng này, họ chết mà không đáng chết.

Trong trận vừa qua, tướng quân để lại vừa thương binh, vừa tử sĩ trên ba vạn người.

Ta bùi ngùi thương xót kẻ chinh phu, chết uất ức, chết tức tưởi mà xin công chúa Thiên-Ninh cho thu nhặt tử thi trả về Quách Quỳ.

Ta lại băng bó cho thương binh, nay trao cho người.

Vậy thương binh ta để lại đây, còn tử thi thì ta cho đem về Như-nguyệt.Miêu Lý cung tay:

– Đa tạ vương phi.Quận chúa Minh-Thúy chỉ vào năm lão già hom hem ngồi trên năm xe trâu bảo Miêu Lý:

– Ta với sư bá trở về Thăng-long.

Còn đoàn trâu chở xác chết này thì do năm lão nhà quê với đám thiếu niên tiếp tục đánh xe đến tổng hành doanh Quách Quỳ.

Họ là đệ tử của sư bá, nể lời ta mà giúp Tống, vậy các người phải đối đãi với họ cho tử tế.Nói rồi nàng giật cương, xe trâu quay trở về chiến lũy Cổ-pháp.Bấy giờ Miêu Lý mới kiểm soát qua loa năm lão già hom hem ngồi trên năm con trâu dẫn đầu đoàn sáu trăm xe.

Thấy không có gì nghi ngờ, y cung tay:

– Tuân lệnh quận chúa.Y sai quân kiểm soát sơ sài đoàn xe, rồi cho lên đường.Hổ-uy thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Vũ Quang bị thương ở cổ, hầu nằm rạp trên lưng ngựa tay bịt vết thương, hướng về hậu cứ để điều trị.

Vì máu ra nhiều quá, hầu không điều khiển được ngựa.

Con thần mã quen đường, đưa hầu về ấp phong của hầu là xã A-hộ, huyện Lục-ngạn (Kinh-Bắc) thì ngừng lại.

Gió lạnh làm hầu tỉnh giấc.

Một thiếu phụ thấy ngài thì chắp tay:

– Bẩm lậy đại vương ạ! Con nghe nói đại vương đang đánh giặc, sao lại về đây?

– Ta bị giặc chém vào cổ.

Này bà ơi! Người ta bị chém mất đầu có sống được không?

– Bẩm, e không sống được.Hầu tuyệt vọng, buông vết thương trên cổ, máu phun ra như vòi, rồi ngã lăn xuống mình ngựa.

Người đàn bà kinh hãi, tri hô lên.

Dân chúng vực hầu vào đình cứu cấp, thì hầu đã hóa.Lại nói, phu nhân Kim-Liên đem xác tử sĩ Tống đến Như-nguyệt trở về hỏi thăm tin tức hầu, công chúa Thiên-Ninh cho biết hầu bị thương, đã về hậu cứ điều trị.

Phu nhân về hậu cứ không thấy hầu, thì cực kỳ kinh hãi.

Bà truyền lấy hai ngao binh đi tìm hầu.

Ngao binh đánh hơi, dẫn bà về đây.

Thấy hầu đã hóa nằm đó, dân chúng khóc lóc thảm thiết, bà vẫy tay cho họ im lặng, rồi lấy bút viết tờ biểu tâu lên triều đình.

Sau khi niêm phong lại, bà trao cho viên lý trưởng:

– Các người không nên khóc.

Hãy nghe ta dặn.

Cách đây mấy năm, vùng này còn là rừng hoang, đầy ác thú, rắn độc.

Ta với hầu đã dùng quân phá hoang, quy tụ các người thành trang ấp này.

Triều đình lấy ba xã, trong đó có xã này làm ấp phong cho chúng ta.

Ta với hầu thắt lưng buộc bụng, chi tiêu bằng bổng mấy chục đấu gạo, cá, mắm triều đình ban cho; nhất định không dùng tiền thuế làm của riêng, mà dùng tiền đó xây trường học, làm đường, mua trâu cho xã.

Vì vậy ba xã của chúng ta trở thành giầu có.Bà thở dài:

– Hầu với ta thành vợ chồng đã tám năm, chung lo việc nươc, không bao giờ rời nhau.

Nay hầu tuẫn quốc, ta nguyện đi theo hầu.

Nay ta để lại một tờ biểu tâu lên triều đình xin ân huệ không thu thuế cho các người trong mười năm.

Vậy các người hãy đem về Thăng-long, đánh hồng chung, nộp lên Thái-hậu.

Khi ta chết rồi, thì các người đem chôn ta với hầu thì nhớ để đầu chúng ta hướng về Bắc, tướng tinh chúng ta sẽ trấn không cho giặc xâm phạm Đại-Việt.Nói dứt phu nhân đưa kiếm lên cổ tự tử.Ghi chú,Sau khi hết giặc, triều đình luận công, phong cho ngài tước Tri-tôn Đầu-thượng, Quả-cảm, Hùng-vĩ đại vương.

Phu nhân được phong Trang-hòa, Thiên-đức, Trinh-tĩnh công chúa, truyền lập đền thờ.

Ngài tuẫn quốc năm 28 tuổi, vương phi tuẫn quốc năm 26 tuổi.

Trải qua 918 năm dài lịch sử, đến nay (1995) đền thờ ngài và công chúa vẫn còn, mang tên đền Bảo-linh, ở xã A-hộ, huyện Lục-ngạn; nay là xã Biện-sơn, huyện Lục-ngạn, tỉnh Hà-Bắc.

Độc giả muốn thâm cứu thêm tiểu sử của ngài, xin đọc bài tựa NQSH, quyển 1, mục 7.1.2.Trời đã về chiều (vẫn ngày 20 tháng giêng), công chúa Thiên-Ninh họp chư tướng kiểm điểm lại nhân mã, để chuẩn bị truy kích bọn Miêu Lý, thì thân binh vào báo:

– Linh-Nhân hoàng thái hậu với nguyên soái Thường-Kiệt giá lâm.Công chúa dẫn Thần-vũ lục anh với bốn nhà sư chùa Báo-ân ra đón.Lễ nghi tất.Thái hậu tuyên chỉ:

– Thiên-Ninh hãy cho canh phòng cẩn thận, vì lát nữa sẽ có rất nhiều bậc tôn trưởng tới đây để bàn truyện cứu nước.Công chúa Thiên-Ninh đưa mắt cho Phạm Dật, Kim-Loan:

– Hai em đem đội thần ngao canh gác dưới đất, đội thần ưng kiểm soát trên không thực cẩn thận.Hai người cúi đầu rời trướng.Lát sau, thị vệ dẫn một đoàn người vào, đó là hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh, với mấy đệ tử.Lễ nghi vừa dứt, thì thị vệ lại dẫn vào một đoàn nữa: Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn, công chúa Nong-Nụt; tiếp theo là tiên nương Bảo-Hòa với bốn nữ đệ tử Mai, Lan, Cúc, Trúc.Mọi người yên vị.Linh-Nhân hoàng thái hậu chỉ vua bà Bình-Dương:

– Vì phòng tuyến Phú-lương thất thủ, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện, Qui-đức đại tướng quân Trần Di với phu nhân Phương Lý tuẫn quốc.

Yên Đạt, Khúc Chẩn, Lôi Tự-Văn đem năm vạn quân triều, một trăm chỉ huy Tân-đằng-hải với năm vạn bảo binh kéo hết sang sông.

Hiện chúng đang đánh phá vòng đai cuối cùng.

Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan với phu nhân Trần Ngọc-Liên; đô thống Lý Tứ, phu nhân Mai Tứ; các cao thủ phái Tiêu-sơn tử chiến.

Bây giờ chúng tạm nghỉ ăn cơm chiều.

Có lẽ sáng mai chúng sẽ phá chiến lũy, rồi tiến về Thăng-long.

Xã tắc mất còn trong sớm tối, nên quốc trượng Tự-An sai chim ưng đem thư cho sư phụ của cô phụ bảo phải mời các vị trưởng thượng tới bàn kế giữ nước.

Nhưng giờ này vẫn chưa thấy quốc trượng giá lâm.Công chúa Thiên-Ninh rụng rời chân tay, hỏi nguyên soái Thường-Kiệt:

– Đại ca! Làm sao chúng đánh Phú-lương dễ dàng như vậy?

Lý Thường-Kiệt kể:

– Dường như Quách Quỳ biết được ý định của ta.

Một mặt khi họp chư tướng, y vẫn ban lệnh cho Yên Đạt rằng mặt Phú-lương là hư, Đạt chỉ cần đánh cầm chừng cho đến khi Như-nguyệt thất thủ, ta rút quân Phú-lương về cứu Thăng-long, bấy giờ mới vượt sông truy kích.

Một mặt y gọi Đạt ra chỗ vắng ban mật lệnh rằng: Bằng mọi giá Đạt phải phá chiến lũy Phú-lương, rồi đem quân về đánh phía sau phòng tuyến Cổ-pháp.

Công chúa Thiên-Ninh đang chống với Miêu Lý phía trước, nay bị đánh phía sau ắt tan vỡ.

Vì vậy Yên Đạt mới quyết đánh bằng được Phú-lương.Ông lắc đầu, tỏ ý rùng mình:

– Yên Đạt thực là tướng tài.

Khi nhận được lệnh Quách Quỳ, y có năm mươi bè.

Y ước tính rằng, ta có hiệu Vũ-thắng thủ trong lũy, mà muốn đánh, thì y phải có quân số năm vạn cùng tiến công.

Với năm mươi bè, y chỉ có thể chở một lúc hai vạn rưởi quân, rồi trở về chở tiếp.

Thời gian trở về, rồi lại bơi sang ấy, thì ta làm thịt hết hai vạn rưởi quân kia rồi.

Tính thế, y ra lệnh cho bảo binh đẵn chuối làm bè nhỏ, chở trăm người một lúc.

Suốt đêm hôm kia, bảo binh đóng được hơn hai trăm bè chuối.

Thế là sáng qua, y có thể chở năm vạn quân qua sông một lúc.Âu Hoàng vẫn không chịu:

– Trình nguyên soái, ví thử Yên Đạt có chở được năm vạn quân sang một lúc, mà y muốn phá chiến lũy Phú-lương, thắng lực lượng phòng thủ của công chúa Động-Thiên cũng không phải là dễ.

Bởi ngoài hiệu Long-dực của Trần Di, Phương-Lý ra, ta còn có mười dàn Thần-nỏ, sáu sư thú, với hơn nghìn cao thủ phái Tiêu-sơn; lại còn mấy đội cảm tử binh của Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng nữa.

Bằng y thí quân, thì ít ra phải mất năm vạn.

Mất năm vạn quân, thì sao y có thể đánh phòng tuyến thứ nhì của Lý Đoan, Ngọc-Liên, Lý Tứ, Mai Tứ?

Thường-Kiệt lắc đầu:

– Không ai ngờ đến một chi tiết nhỏ, chính cái chi tiết đó, làm vỡ phòng tuyến Phú-lương.

Nguyên, trong trận Đâu-đỉnh, bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn bắt được mười dàn Thần-nỏ của ta với hơn hai vạn mũi Lôi-tiễn.

Khi bàn kế vượt sông, sao cho khỏi chết nhiều quân, đám hàng tướng Nùng Thuận Ninh, Sầm Khánh-Tân đề nghị dùng Lôi-tiễn đốt hàng rào chiến lũy.Âu Hoàng vốn cực kỳ thông minh, bà bật lên tiếng úi:

– Hỏng rồi, trong quân bọn phản tướng cũng có mấy dàn Thần-nỏ, cũng có thú binh.

Bây giờ chúng dùng bọn này xử dụng Lôi-tiễn bắn vào chiến lũy; lại dùng bọn thú binh làm hỗn loạn hàng ngũ thú binh của mình!!!

– Đúng như sư muội đoán.Thường-Kiệt giảng giải: Lệnh Quách Quỳ ban ra rằng đúng giờ Thìn sáng ngày 19 tháng giêng, ba mặt Vạn-xuân, Như-nguyệt, Phú-lương đồng vượt sông.

Yên Đạt đổi lại, ra quân trước hai giờ.

Đúng giờ Dần, y cho quân xuống bè vượt sông.

Quân ta chuẩn bị chống trả.

Khi bè tới giữa sông thì dừng lại.

Y cho quân đánh trống reo hò, rồi Lôi-tiễn từ các bè bắn trực xạ vào các lớp rào.

Hàng rào bốc cháy khắp nơi.

Bấy giờ chúng mới cho bè sang Nam ngạn, hô quân đổ bộ.

Về phía ta, Trần Di thấy giặc bắn Lôi-tiễn thì hiểu rằng hàng rào vô dụng rồi.

Hầu đợi cho các lớp rào bị cháy gần hết, quân Tống reo hò leo lên chiến lũy; bấy giờ quân ta xuất hiện đánh xuống.

Nhưng khổ một điều Thần-nỏ ở dưới bè bắn trực xạ trở lên.

Quân sĩ chết quá nhiều.

Âu Lam, Âu Hồng tung thần ưng, thần phong đánh xuống, lập tức bọn hàng binh dưới bè cũng dùng cờ ra lệnh cho ưng, phong quay trở lại đánh ta.

Ưng, phong không biết tuân lệnh ai, chỉ bay lượn trên trời.

Đứng trước mối nguy, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện lệnh cho quân lùi lại phía sau, chờ quân Tống leo vào trong chiến lũy, mới dùng Thần-nỏ bắn ào ạt.

Nhưng khốn nỗi, chỉ có mười dàn Thần-nỏ, thì sao cản nổi năm vạn quân?

Phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên lệnh cho Hùng Trí, Hùng Tín sai hổ, báo, ngao, tượng phối hợp với Thần-nỏ, Thiên-tử binh lâm trận.

Cứ mười Thiên-tử binh lại có một cao thủ phái Tiêu-sơn hỗ trợ.

Quân Tống chết hàng hàng lớp lớp.

Nhưng bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn vẫn thúc quân tiến lên.

Giữa lúc ấy bọn hàng binh, hàng tướng đã vào trong chiến lũy; chúng dùng tù và, cờ, ra lệnh cho hổ, báo, ngao, tượng quay ngược lại đánh quân ta.

Thú binh đứng trước hai lệnh trái ngược, chúng trở thành ngơ ngơ ngác ngác.

Lập tức hàng ngũ quân Việt hỗn loạn ngay.Thường-Kiệt hớp một hớp nước.

Hùng Nghĩa nóng lòng hỏi:

– Thưa nguyên soái, rồi sao?

– Đứng trước nguy nan đó, Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng xua đội cảm tử cố chọc thủng trận bọn hàng quân, tấn công bọn thú binh phản quốc.

Bọn này không đề phòng, thành ra chỉ nửa khắc chúng bị giết sạch.

Thú binh ta lại phất cờ, rúc tù và sai thú tấn công.

Cho đến lúc này toàn bộ năm vạn quân triều của Tống đã lọt vào trong chiến lũy, phù kiều đã nối; quân tân-đằng-hải ào ào đổ bộ.

Trận chiến cực kỳ khốc liệt.

Sau nửa giờ gần như toàn bộ thú binh chết hết; hiệu Vũ-thắng, đội võ sĩ Tiêu-sơn còn lại không quá hai trăm người.

Yên Đạt, Khúc Chẩn cho quân vây kín, rồi chiêu hàng.Công chúa Động-Thiên hướng Yên Đạt xá một xá:

– Yên tướng quân, chúng tôi nay lâm đường cùng rồi, dĩ nhiên chỉ có hai đường.

Một là hàng, hai là chết.

Vậy trước khi quyết định, xin tướng quân cho chúng tôi được thảo luận với nhau, để trên dưới đồng lòng trong hành động tối quan hệ này.Yên Đạt vẫy tay ra lệnh cho quân sĩ lùi lại.

Công chúa gọi chư tướng tới gần, rồi nói:

– Chúng ta được lệnh trấn Phú-lương.

Nay Phú-lương thất thủ, không phải chúng ta bất tài, cũng không phải chúng ta hèn nhát; mà vì quân chúng ta quá ít.

Sau đây, giặc sẽ tiến đánh Yên Dũng, để tới Thăng-long.Công chúa nói với vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín:

– Ta biết các em là những người yêu nước, sống chết với Phú-lương, không chịu rút chạy.

Nhưng này các em, tiết tháo là điều cần thiết, nhưng đại cuộc lại là điều cần thiết hơn.

Đằng nào Phú-lương cũng bị vỡ rồi, vậy các em hãy tìm cách chạy về Yên Dũng giúp vợ chồng Lý Đoan, Lý Tứ cố thủ, chờ quân tiếp viện.

Các em có nghe ta không?

– Bọn thuộc hạ xin tuân chỉ công chúa.

– Vậy lát nữa đây, ta sẽ thách bọn Yên Đạt đấu võ.

Trong khi chúng ta đấu, thì bốn em phá vòng vây bỏ chạy.

Nhớ!Đến đây, công chúa gọi Yên Đạt:

– Yên đô tổng quản! Tài trí chúng tôi không dở, võ công chúng tôi không hèn.

Chúng tôi bị thua, vì đất chúng tôi hẹp, dân chúng tôi thưa.

Vậy nếu như tổng quản muốn chúng tôi đầu hàng, thì xin lấy võ công thắng chúng tôi, chúng tôi mới phục.Công chúa chỉ vào Trần Di, Phương-Lý:

– Bây giờ thế này, xin đô tổng quản cử ra ba người đấu với chúng tôi.

Nếu như Tống thắng hai cuộc, thì chúng tôi xin quy hàng.

Còn như Tống bại, xin Đô tổng quản rút quân về bên kia sông.

Không biết đô tổng quản có chấp thuận không?

Yên Đạt cử Lôi Tự-Văn đấu với Hoàng phò mã, Lữ Chân đấu với công chúa, Tống Đạo đấu với Trần Di.

Thế là ba cặp đấu một lúc.

Quân Tống cùng ngồi xuống bãi cỏ say mê xem cuộc đấu, chúng thả ngựa cho gặm cỏ.

Giữa lúc trận đấu nghiêng ngửa, thì vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín cùng phát chưởng đánh dạt quân Tống ra, rồi tung mình lên lưng ngựa, phi về hướng Nam.

Quân Tống la hét, định đuổi theo, thì bốn người đã chạy mất hút.Trận đấu giữa sáu người mỗi lúc một khốc liệt.

Công chúa với phò mã vừa đánh vừa lùi tới chỗ đứng của bọn hàng tướng Nùng Thuận-Ninh, Sầm Khánh-Tân.

Thình lình hai vị quát lên một tiếng, rồi xả kiếm chém hai tên hàng tướng.

Hai tên Nùng, Sầm đang say mê quan sát trận đấu, tuyệt không đề phòng, trong khi hai vị ra chiêu như sét nổ.

Lôi Tự-Văn, Lữ Chân muốn cứu chúng, nhưng thế không kịp.

Hai người cùng xuất chiêu xả vào vai hai vị, để bắt buộc hai vị phải thu chiêu về tự cứu mình.

Nào ngờ công chúa, phò mã vẫn không thu chiêu, đầu hai tên bay khỏi cổ.

Bấy giờ hai vị mới chuyển chiêu đánh thẳng vào người Lôi, Lữ.

Lôi, Lữ vội thu chiêu về cứu mình, nhưng không kịp nữa, kiếm hai vị xuyên qua ngực Lôi, Lữ; trong khi kiếm của Lôi, Lữ chém xả từ vai xuống ngực hai vị.

Thế là cả bốn cùng chết.Về phía Trần Di, hầu đấu với Tống Đạo, có hơi kém thế rõ rết.

Khi thấy công chúa, phò mã tuẫn quốc, chiêu số của hầu bị rối loạn, bị Tống Đạo chém bay đầu.

Phương-Lý thấy chồng chết, quận chúa rất bình tĩnh.

Quận chúa nhặt đầu hầu ráp lại với thân, quỳ xuống lạy ba lạy.

Lạy xong, thì lình bà tung người lên phóng kiếm lia vào cổ Tống Đạo.

Đạo rút kiếm đâm vào ngực quận chúa, để quận chúa phải đổi chiều tự cứu mình.

Không ngờ quận chúa vẫn không thu chiêu, kiếm của Đạo đâm suốt qua ngực bà, trong khi đầu y bay khỏi cổ.Ghi chú,Theo QTNC và TTCTGCK thì lúc tuẫn quốc, chức tước của phò mã Hoàng Kiện như sau: Phụ-quốc thái úy, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Binh-bộ thượng thư, Kinh-Bắc tiết độ sứ, Uy-viễn đại học sĩ, Sơn-Nam quốc công.

Sau khi hết giặc, chức tước của phò mã vẫn giữ nguyên, nhưng tước thì thăng lên làm Hưng-quốc, Bảo-nghĩa, Nhân-dũng đại vương.

Phò mã với công chúa được phối thờ ở thái miếu nên không có đền thờ riêng.Sau này, khi lập đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu, hậu thế phối thờ công chúa cùng với ngài.

Nếu con dân Đại-Việt nào đọc được những giòng này, mà còn tưởng nhớ đến huân công của công chúa, có thể hành hương đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu (Chép ở phần thứ 3.2 bài tựa, NQSH quyển 1, hoặc hồi thứ 39).

Tại đây, tượng của thái hậu trong trang phục mầu vàng, ngồi ở chính giữa.

Hai bên là tượng của sáu công chúa: Thiên-Thành, Động-Thiên, Nguyễn-thị Trinh-Dung, Vũ Thanh-Thảo, Trần Ngọc-Nam, Trần Ngọc-Huệ.

Tượng của công chúa Động-Thiên y phục mầu đỏ sẫm, áo choàng ngoài, mũ mầu hồng nhạt, hai tay chắp lại trước ngực.

( Xin đừng lầm với tượng công chúa Thiên-Thành, y phục giống công chúa Động-Thiên, nhưng hai tay bưng cái quả đựng lộc).Còn Trần Di tuẫn quốc năm 27 tuổi, truy phong là Nhân-dũng, Tráng-tiết, Thần-oai, Thủy-tế Long-vương.

Phu nhân tuẫn quốc năm 26 tuổi, được truy phong Hòa-thạc, Chí-nhu, Uyển-mị, Đông-hải công chúa.

Truyền lập đền thờ.

Trải qua 918 năm dài thăng trầm của lịch sử, hiện nay (1995) đền thờ của ngài vẫn còn tại xã Mộ-đạo, huyện Vũ-thư, tỉnh Thái-bình.

Độc giả muốn thâm cứu thêm tiểu sử của ngài, có thể tìm đọc thêm các tài liệu ghi ở phần tựa NQSH, quyển 1, mục 7.2.1.Hình chụp tượng thờ công chúa Động-Thiên tại đền thờ Linh-Nhân hoàng Thái-hậu, xã Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nội.Đợi cho Thường-Kiệt thuật xong, Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:

– Tình hình xã tắc nguy trong sớm tối.

Quách Quỳ có gửi sứ tới Thăng-long chiêu hàng.

Y hẹn nếu trưa mai, giờ Ngọ, mà ta không tuân, thì y cho phá vòng đai Cổ-pháp với vòng Yên Dũng, tới làm cỏ Thăng-long.

Nhưng cô phụ này thà chịu ngọc nát chứ không để có vết.

Hà! Tính chung, sau khi chiếm được chiến lũy Phú-lương, Tống mất hơn hai vạn quân triều, năm mươi chỉ huy tân-đằng hải.

Cộng chung hơn bốn vạn người.

Như vậy Yên Đạt vẫn còn ba vạn quân triều, sáu mươi chỉ huy tân-đằng-hải, năm vạn bảo binh.

Với mười một vạn binh, y thừa sức tràn ngập Yên Dũng.

Thế đã cùng, nước mất trong sớm tối, ta phải làm một trong hai việc sau : Một là đem quân từ đây, tiếp viện cho Yên Dũng.

Hai là đem quân đánh tập hậu, khiến Yên Đạt phải đem quân trở về giữ hậu cứ.

Các vị nghĩ sao?

Chư tướng yên lặng, suy nghĩ.Ngài dùng ngôn ngữ bình dân nói với công chúa Thiên-Ninh:

– Nguyên soái Thường-Kiệt thì muốn đem quân tiếp viện cho Yên Dũng hơn là đánh tập hậu.

Nhưng nếu đem quân từ đây sang Yên Dũng, e mặt Cổ-pháp này không đủ sức chống với Miêu Lý, y sẽ tràn ngập Thăng-long ngay.

Vì vậy cô phải lên đây hội ý với Thiên-Ninh xem sao.

Ý Thiên-Ninh thế nào?

– Ý kiến của cô với anh Kiệt đều hợp lý cả.

Theo cháu nghĩ, mặt Nham-biền, Tống bị hai vị hoàng thúc đánh tan mười lăm vạn quân.

Mặt này thế của ta như chẻ tre.

Còn tại Cổ-pháp, thì hiện quân số ta với Tống ngang nhau.

Về phía ta, hiệu Quảng-thánh, với hiệu địa phương Hồng-châu bị thiệt hại nặng, chỉ có thể phòng thủ chứ tấn công thì không được.

Hai hiệu Ngự-long với Phù-đổng cháu vẫn ém ở rừng tre, chưa dùng đến, tinh lực mạnh vô cùng.

Còn Tống, thì sáu đạo binh triều, thiệt hại mất một nửa; đạo kị binh thì còn nguyên, nhưng ngựa lại bị ta cướp mất.Công chúa tỏ vẻ cương quyết:

– Muốn cứu viện Yên Dũng cho mau, thì phải dùng hiệu Phù-đổng mới kịp.

Vả vùng Yên Dũng là đồng bằng, thì kị binh sẽ tha hồ tung hoành.

Còn mặt Cổ-pháp, dù thiếu hiệu Phù-đổng cháu vẫn thừa sức chặn Miêu Lý.Nguyên soái Thường Kiệt lắc đầu:

– Dù ta có đem hiệu Phù-đổng sang mặt Yên Dũng, thì mặt ấy ta cũng chỉ có hai vạn quân, làm sao địch lại mười vạn người của Yên Đạt?

– Đại ca ơi! Muội đâu có ý định đem quân sang tiếp viện để đương đầu với Yên Đạt?

Ý muội muốn đem quân sang chỉ với mục đích cầm chân chúng qua đêm nay.

Nội ngày mai, quân của hai vị hoàng thúc sẽ đến Phú-lương, đánh phía sau địch.

Trường hợp đó trận chiến sẽ khủng khiếp vô cùng, vì Yên Đạt phải đánh thục mạng để mở đường máu về Bắc Phú-lương.

– Này Thiên-Ninh!Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi: Liệu hiệu Phù-đổng rút đi rồi, lỡ ra Quách Quỳ mang đại quân tới thì sao?

Thiên-Ninh có chống nổi không?

– Cháu hứa với cô rằng có thể cản trở chúng trong ba ngày, chờ quân của hai vị hoàng thúc tới.Tiên nương Bảo-Hòa nắm tay công chúa Thiên-Ninh, cử chỉ của ngài đối với công chúa như mẹ với con, hơn là thầy với trò:

– Phàm làm việc nước, thì phải thiết kế sao cho vẹn toàn.

Đấu võ, lỡ ra thất thố thì chỉ một mình con bị thương, quá lắm thì chết.

Còn thiết kế cứu nước, sai một tý, thì xã tắc sẽ lâm nguy, tội đó có chết đến nghìn lần cũng không chuộc lại được.

Nay mặt trận Phú-lương, giặc có tới mười một vạn quân mà con định đem hai vạn ra cản ư?

Không được.

Muôn ngàn lần không được! Tại Cổ-pháp này chỉ còn hiệu Ngự-long nguyên vẹn, với hiệu khập khễnh Quảng-thánh, Hồng-châu mà định cản bốn vạn quân của Miêu Lý, đằng sau còn ba mươi vạn quân của Quách Quỳ ư?

Phải tính lại.Nghe sư phụ quở, công chúa Thiên-Ninh toát mồ hôi ra:

– Xin sư phụ dạy cho đệ tử phải hành động ra sao?

– Hiện Tống không có khả năng đem quân vượt biển đánh vào Thăng-long.

Vậy ta không cần để quân trấn ở Nam Thăng-long nữa.

Trước khi lên đây, ta đã truyền sư huynh Thường-Kiệt đem hiệu địa phương Thiên-trường, Trường-yên lên tiếp viện cho mặt Phú-lương rồi.

Nay thêm hiệu Phù-đổng nữa, thì mới có thể giữ nổi.

Trước kia phò mã Hoàng Kiện với công chúa Động-Thiên chỉ huy mặt này.

Nay hai người đã tuẫn quốc, thì đích thân vua bà Bình-Dương phải đến trấn thủ mới nổi.

– Dạ.

– Còn con! Con phải làm sao diệt hết cánh quân của Miêu Lý trong đêm nay, rồi tràn đến đuổi giặc khỏi Nam Như-nguyệt, lập lại phòng tuyến.

Bấy giờ Quách Quỳ muốn đánh nữa, lại phải hy sinh hai chục vạn người như trận vừa qua là điều y không thể làm.

Ví dù y có muốn thí quân nữa, thì sau lần vượt sông này, y không còn quân đánh Thăng-long.

– Thưa sư phụ đệ tử,Công chúa Thiên-Ninh đáp: Muốn làm như thế, nhưng không đủ sức.

Sư phụ dạy cho phải làm thế nào?

– Tại sao con không làm được?

– Thưa, vì dù bị tổn thất, Miêu Lý cũng còn ba vạn quân.

Tại Nam Như-nguyệt, Triệu Tiết với ba tướng Bình Viễn, Vương Mẫn, Vương Tiến có bốn vạn quân gồm sáu đạo cinh 11, 12, 13, 14, 15, 16.

Ấy là không kể Bắc-ngạn y còn ba đạo 17, 18, 19, tới hai vạn nữa.

Tổng cộng chúng có 9 vạn, mà đệ tử chỉ có hai vạn, thì làm sao mà thắng được?

– Con đừng sợ, ta đã có kế phá giặc rồi.

Hãy đợi sư huynh Thường-Kiệt tóm lược tình hình đã.Tiên nương đưa mắt cho Thường-Kiệt.

Ông tóm lược:

– Hiện hai vương Hoằng-Chân, Chiêu-Văn đang tiến từ mặt trận Nham-biền về Như-nguyệt bằng hai cánh.

Cánh trên bộ do Trung-Thành vương chỉ huy gồm hiệu Đằng-hải, Long-dực, với đội Thần-tiễn Long-biên.

Cánh dưới sông do Tín-Nghĩa vương chỉ huy, gồm hạm đội Thần-phù, Bạch-đằng chở iai hiệu Hùng-lược, Vạn-tiệp.

Nhiệm vụ hai cánh này là đe dọa đánh vào hậu cứ tổng hành doanh của Quách Qùy, bắt buộc y phải rút quân từ Nam ngạn về.Vũ-kị thượng tướng quân Hà Mai-Việt hỏi:

– Thưa nguyên soái, nếu như Quách Quỳ vẫn chưa chịu lui quân, vì y cho rằng lực lượng của y tại tổng hành doanh dư sức đánh bật hai cánh của Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương thì sao?

– Trường hợp này nhị vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa sẽ đánh thẳng vào hậu cứ cũa y.

Đương nhiên y phải rút các đạo quân 10, 11, 12, 13, 14, 15 ở Nam ngạn về để đối phó với nhị vương.

Cả hai trường hợp, Nam ngạn đều để trống rồi cái thế bắt cuộc y phải lệnh cho Miêu Mý đóng quân chờ y giải quyết xong hai cánh quân Nham-biền; Yên Đạt giải quyết xong Yên Dũng, rồi tái tấn công Cổ-pháp.Ông nhấn mạnh:

– Nếu vì lý do nào, mà một trong hai cánh Yên-dũng, Cổ-pháp, Nham-biền thất thủ, thì Thăng-long nguy.

Vì vậy bằng mọi giá, ta phải diệt cánh quân Miếu Lý, rồi thừa cơ Như-nguyệt trống trơn, ta tái chiếm.Các tướng đều như nín thở nghe Thường-Kiệt trình bầy :

– Hôm qua, trong khi Tống, Việt chưa giao tranh ở Như-nguyệt, Thái-hậu đã đoán biết Như-nguyệt khó giữ.

Tống thừa thế đánh Cổ-pháp sẽ bị chặn lại.

Chúng tuyệt đường tiếp tế lương bổng, sẽ tràn vào hai xã nằm ngoài phòng tuyến cướp lương.

Người viết thư sai chim ưng chuyển cho sư thúc Mộc-Tồn, đẫn đội đệ tử đem thuốc trộn vào gạo, cá khô, tôm khô, mắm ở hai xã.

Quân Tống cướp lương này ăn vào, thì chân tay sẽ bải hoải trong một ngày, bấy giờ ta cắt chúng như bắt ốc vậy.

Việc này trước đây công chúa Thiên-Ninh đã làm ở Nam-giới, khiến toàn bộ cánh quân của Đinh Kiếm-Thương không đánh mà tan.Chư tướng vỗ tay hoan hô.

– Sau khi thanh toán đám quân của Miếu Lý, ta lấy quân phục, vũ khí của chúng cho hiệu Ngự-long mặc.

Đợi trời sáng, ta cho hiệu Quảng-thánh, hiệu Ngự-long âm thầm đột kích Như-nguyệt.

Chiếm Như-nguyệt xong, ta lập lại phòng tuyền như cũ.Long-Nhương thượng tướng quân Phạm Dật hỏi:

– Thưa nguyên soái, tại đây ta có hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh.

Cho rằng đêm nay đạo quân Miêu Lý bị trúng độc, ta diệt được, rồi sau đó tái chiếm chiến lũy Như-nguyệt.

Giả như Quách Quỳ không rút khỏi Nam ngạn chiến lũy Như-nguyệt, thì hai hiệu Ngự-long, Quảng-thánh làm sao địch lại sáu đạo binh 10, 11, 12, 13, 14, 15?

Rồi trên bờ Bắc ngạn, Tống vẫn duy trì ha đạo binh 16

– 17, 18.

Vì dù khi ta đánh Nam ngạn thành công, thì Quỳ sẽ tung ba đạo Bắc ngạn vượt phù kiều tiếp viện cho Nam ngạn.

Bấy giờ hai hiệu Quảng-thánh, Ngự-long phải đương đầu với chín đạo binh Tống thì dù Thiên-tử binh có tài kinh thiên động địa cũug không địch nổi.

– Hầu hỏi thực phải.

Sáu đạo quân trấn ở chiến lũy Như-nguyệu tin rằng phía trước có đạo quân Miêu lý, nên không đề phòng.

Hơn nữa ta lợi dụng đêm tối, đột kích, khiến chúng kinh hoảng.

Chúng bị bất ngờ tất thua chạy qua sông.

Đợi cho chúng sang sông một nửa, giữa lúc đó, ta cho đội Giao-mong Tây-hồ nhảy xuống nước cắt phù kiều thì bao nhiêu quân chưa kịp chạy sẽ nhảy xuống sông mà trốn.

Đội Giao-long binh sẽ giết sạch.

Bấy giờ lập tức ta củng cố lại phòng tuyến như cũ.

Tôi chỉ sợ có một điều.

– ?

?

?

– Quân của Quách Quỳ có hơn nghìn võ sĩ.

Trong trận hỗn chiến đánh Như-nguyệt, chết mất ba trăm, còn lại bẩy trăm người.

Trong đám võ sĩ đó có rất nhiều cao thủ thượng thừa.Chư tướng bật lên tiếng:

– Úi chà!

– Với võ công của đám này trừ Côi-sơn tam anh ra, trong các tướng của ta, không ai có thể địch lại.

Nhưng chả hiểu sao, trận chiến Cổ-pháp, Quỳ chưa cho lâm chiến.

Nhược bằng họ xuất hiện thì từ công chúa Thiên-Ninh, cho tới Thần-vũ lục anh, bốn vị đại sư chữ Viên chùa Báo-ân đã mất mạng! Giờ này Miêu Lý đang vây Thăng-long rồi.

Vì vậy Thái-hậu mới thỉnh các vị tôn trưởng hiện diện để đối phó.

Chỉ thiếu thái sư phụ mà thôi.Có tiếng nói rất trong trẻo, rất dịu dàng vọng vào:

– Sư huynh! Ông nội tới rồi này.Mọi người nhận ra là tiếng nói của quận chúa Minh-Thúy.

Tiếng nói vừa dứt thì năm người xuất hiện, đó là quốc trượng Tự-An, quận chúa Minh-Thúy và ba thanh niên thân thể hùng vĩ, tư thái phong lưu, trông như ba cây ngọc trước gió.Lễ nghi tất.Mọi người đưa mắt nhìn ba thanh niên, như ý muốn hỏi ai vậy, quận chúa Minh-Thúy biết ý, giới thiệu:

– Đây là ba anh của tôi tên Vị-Hoàng, Thiên-Trường, Linh-Cơ.Mọi người đều suýt xoa, vì từ lâu rồi, võ lâm Hoa-Việt truyền tụng ba thế tử con trai Kinh-Nam vương, từ năm bẩy tuổi được ông nội là quốc trượng Tự-An đem theo để dạy dỗ.

Cho nên quốc trượng ngao du khắp Chiêm, Lào, Xiêm, Chân-lạp, Đại-lý, Tây-hạ, Bắc-liêu, Trung-nguyên, đều có ba thế tử ở bên cạnh.

Ba người đã học được hầu hết học thuật của ông nội: Về võ công công có bản lĩnh ngang với phụ thân, về văn học uyên thâm như những đại học sĩ của triều đình.

Bây giờ họ mới thấy mặt.Quốc trượng Trần Tự-An, năm nay tuổi vừa đúng một trăm, nhưng tóc chỉ mới hơi hoa râm, da chưa nhăn, răng chưa rụng.

Ông nói lớn:

– Già này tới đây để báo với Thái-hậu ba tin khủng khiếp.Mọi người đều nín thở, mở to mắt, để nghe cái tin mà người ngang tàng coi thường cả Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La lão tử như Tự-An mà còn phải mệnh danh là khủng khiếp.

– Quán-quân thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân là quận chúa Trần Phương-Quỳnh đã tuẫn quốc tại Khâm-châu.Linh-Nhân hoàng thái hậu kinh hoảng, tay ngài nắm lấy tay sư mẫu là vua bà Bình-Dương, giọng ngài run run:

– Sao?

Sao?

Quốc trượng được tin này từ đâu?

Nghi đệ tuẫn quốc mà sao Khu-mật viện không biết gì?

Trời ơi.

Không thể thế được, vạn vạn lần Nghi đệ không thể chết được!Tự-An thở dài:

– Tin này lão phu mới nhận được, chưa sai chim ưng báo về, thì Khu-mật viện làm sao mà biết được?

Thái hậu bình tĩnh.

Dù gì thì bọn chúng cũng đã ra người thiên cổ rồi.

Việc trước mắt của chúng ta là làm sao giữ được nước.

– Đa tạ quốc trượng.Thái-hậu ngồi chết lặng đi.Tự-An thuật:

– Trước đây triều đình lệnh cho phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiên-Thành chiếm lại Lạng-châu; lệnh cho Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên chiếm lại Quyết-lý; lại lệnh cho Đinh Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh chiếm lại Chi-lăng.

Mục đích của triều đình là chặn đường tiếp tế lương thảo của giặc, bắt buộc Quách Quỳ phải ngừng tiến quân, để giải tỏa con đường tiếp tế lương thảo.

Nhưng triều đình không ngờ tới, con đường đó bị nghẽn, Quách Quỳ dùng đường Khâm-châu, Ngọc-sơn tiếp tế; vả lương thảo cho cuộc Nam xâm hầu hết chứa ở Khâm-châu.

Vì vậy phò mã Thân Cảnh-Long bàn với Chính-Tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi rằng hiệu Quảng-vũ nên chia làm hai.

Một nửa trao cho Lý Tam, Mai-Tam trấn Chi-lăng, kéo cờ phô trương thanh thế.

Một nửa do Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh, Chang-Lan âm thầm di sang phía Đông chặn đường tiếp tế từ Ngọc-sơn.Linh-Nhân hoàng thái hậu, nguyên soái Thường-Kiệt đều gật đầu, tỏ vẻ tán thành kế hoạch này của phò mã Thân Cảnh-Long.

– Ba người nghe theo.Tự-An tiếp: Ba người đem quân về đóng ở vùng ven biển Ngọc-sơn.

Chúng bàn rằng vì quân số ít ỏi mà chặn đường giặc thì không làm nổi.

Vậy chỉ có cách lén đổ bộ Khâm-châu, đốt trọn kho lương giặc là truyện thống khoái kim cổ.

Bởi hiện giặc tưởng phía trước quân Quách Quỳ, Khúc Chẩn, Tu Kỷ, Yên Đạt đang uy hiếp Thăng-long, thì sao ta có thể sang tận Khâm-châu.

Nên tại Khâm-châu chúng không đề phòng.

Ba đứa liên lạc được với đô đốc Trần Lâm nói dối rằng được lệnh Khu-mật-viện đem một ngàn quân, giả làm thủy quân Tống thi hành sứ mạng đặc biệt.

Phương-Quỳnh là con Trần Lâm, nên Lâm tin ngay.

Nhân Lâm mới bắt được hơn hai chục chiến thuyền của Tống với nghìn thủy thủ di dò thám; y lấy y phục, chiến thuyền, vũ khí, lệnh bài trao cho con rể, con gái.

Thế là Nghi, Quỳnh, Lan dùng hơn nghìn Thiên-tử binh giả làm thủy thủ Tống chèo thuyền về Khâm-châu.

Chúng tính sao về tới Khâm-châu đúng lúc trời chập choạng tối.

Tổng trấn Khâm-châu là Nhâm Khởi thấy báo đội thủy tế tác từ Đại-Việt về, thì lệnh cho chiến thuyền neo ngoài khơi, hôm sau vào trình.

Bọn Hoàng-Nghi cùng một số võ sĩ lên bộ mua sắm, rồi lọt vào trong thành.

Đến đêm đám võ sĩ giết quân canh, mở cửa cho quân cảm tử vào.

Khi quân Việt phóng hỏa khắp nơi, kho lương biến thành một biển lửa, thì bọn Nhâm-khởi mới biết.

Nhâm cho quân đuổi theo tới bờ biển, thì đội cảm tử của Hoàng-Nghi đã xuống thuyền được một nửa.

Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Chang-Lan đứng cản hậu cho quân rút lui.

Khi quân xuống thuyền hết, ba người mới tung mình theo.

Nhâm-Khởi truyền quân bắn tên, Hoàng-Nghi bị trúng năm mũi; Phương-Quỳnh bị trúng tám mũi.

Đội cảm tử chạy thoát về tới vịnh Hạ-long thì gặp hạm đội Động-đình của Trần Lâm tiếp cứu.

Từ Khâm-châu về tới Hạ-long mất ba ngày sóng gió, tên lại tẩm thuốc độc, nên Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh chỉ sống khắc khoải thêm một ngày, rồi chết.

Trần Lâm cử một chiến thuyền chở xác Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh về Trường-yên mai táng.

Nghe đâu Chang-Lan chôn xác hai người ở một ngôi chùa, rồi thế phát quy y.Ghi chú,Quán-quan thượng tướng quân, Chính-tâm hầu Đinh Hoàng-Nghi tuẫn quốc năm 26 tuổi.

Phu nhân là Tuyên-đức, Thạc-hòa quận chúa Trần Phương-Quỳnh tuẫn quốc năm 25 tuổi.

Sau khi hết giặc, triều đình nghị công phong cho hầu chức tước như sau: Hiển-uy, Trung-nghĩa, Duệ-mưu đại vương.

Phu nhân được phong là Nghi-hòa, Tuyên-đức, Trang-duệ công chúa, truyền lập đền thờ ở vùng Nho-quan, Trường-yên.

Nay thuộc thị xã Ninh-bình, tôi không tìm được dấu tích đền này.QTNC và TTCTGCK thuật hơi lạ: Ngài được Linh-Nhân hoàng thái hậu yêu như con.

Khi ngài tuẫn quốc, thái hậu khóc đến bỏ ăn, bỏ ngủ.

Một hôm ngài hiện về trong giấc mộng nói với hậu rằng: Ngài không phải là người thường.

Tiền thân ngài là con của Lạc-long-quân, vâng lệnh Ngọc-Hoàng thượng đế đầu thai làm Việt-vương Đinh Liễn đánh 12 sứ quân.

Nay lại đầu thai đánh Tống.

Vì vậy Linh-Nhân hoàng thái hậu truyền tu bổ đền thờ vua Đinh ở Trường-yên.

Trong đền thờ cả Việt-vương Đinh Liễn tức ngài.

Đền này nay còn ở thị xã Ninh-bình.Trong khi tìm tòi trong kho tàng thư tịch Việt, tôi thấy ĐNCTC và Cao-bằng sự tích có chép: Đền Hoàng-lục ở xã Lũng-định, huyện Thương-lang, tỉnh Cao-bằng thờ An-biên tướng quân Hoàng Lục.

Tướngquân sống vào thời vua Lý Nhân-tông, từng tham gia cuộc Bắc phạt đánh châu Khâm, Liêm, Ung và cuộc kháng chiến chống bọn tướng Tống là Quách Qùy, Triệu Tiết, rồi tử trận.

Triều đình truyền lập đền thờ.

Có lẽ là đền thờ ngài Đinh Hoàng-Nghi.

Nhưng tôi chưa đến tận nơi sưu tầm, vả không thấy chép trong QTNC và TTCTGCK nên không dám quyết.

Đành áp dụng phương pháp của cổ sử: Nghi dĩ truyền nghi (Điều gì nghi ngờ, thì cũng nói là nghi ngờ).Độc giả muốn thâm cứu về tiểu sử ngài, xin xem bài tựa NQSH, quyển 1, mục 7.1.3.Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi trong nước mắt:

– Thưa quốc trượng, thế còn tin khủng khiếp thứ nhì?

– Tin này đáng kinh sợ hơn tin trước.Ông ngửa mặt nhìn lên nóc nhà: Hy-Ninh thâm! Vương An-Thạch cũng thâm! Quách Quỳ càng thâm hơn.

Trước khi rời Biện-kinh ra đi, Hy-Ninh cho mật sứ mời các cao thủ thượng thừa Trung-quốc âm thầm theo trong quân, nhưng giữ tuyệt mật.

Mật đến độ Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Khúc Chẩn, Miêu Lý cũng không biết, đợi khi trận đánh quyết định mới xuất hiện, khiến ta không trở tay kịp.Cử tọa mặt nhìn mặt kinh hoàng.

Vua bà Bình-Dương hỏi:

– Khải sư bá, những cao thủ đó là ai vậy?

– Mười đại cao thủ chữ Pháp ở chùa Thiếu-lâm, Tứ đại trưởng lão phái Hoa-sơn, Song-hùng phái Trường-bạch, Tam-ma phái Liêu-Đông.Cử tọa cảm thấy lạnh xương sống, cùng phát ra tiếng ” ái chà! ối! trời ơi “.

Nhất là nghe đến tên Liêu-Đông tam ma, không ai mà không ớn.Tiên nương Bảo-Hòa lắc đầu:

– Thưa sư bá tin này liệu có chính xác không?

Với những cao thủ thượng thừa này, nếu như Quách Quỳ cho xuất trận thì e rằng sư huynh Phu-Quốc, nhị vương Trung-Thành, Tín-Nghĩa cùng chư tướng ở Nham-biền đã mất mạng, mười lăm vạn quân Tống không đến nỗi bị đánh tan.

Tại chiến lũy Như-nguyệt, nếu họ xuất thủ thì chỉ cần nửa giờ các tướng ta mất mạng hết, Tống không đến nỗi thiệt mười vạn nhân mạng.

Mới đây trận Cổ-pháp, Phú-lương, nếu họ cho cao thủ thượng thừa ra trận, thì giờ này họ đã ở Thăng-long rồi.

– Bởi vậy già này mới nói là chúng thâm.

Nguyên khi Hy-Ninh họp các đại tôn sư ở Thiên-chương các, xin trợ giúp Quách Quỳ đánh Đại-Việt, thì các tôn sư đều từ chối.

Họ viện lý rằng giữa võ lâm Đại-Việt với Trung-quốc vốn có tình giao hảo từ lâu.

Nay họ không thể giúp triều đình xâm lăng Đại-Việt, theo ý ngông cuồng của Vương An-Thạch.

Hy-Ninh khẩn khoản mãi, họ mới đồng chấp nhận chỉ xuất trận một lần duy nhất, sau trận đó, dù bại dù thắng họ cũng không can thiệp nữa.

Do vậy Hy-Ninh trao mật chỉ cho Quách Quỳ rằng các các cao thủ chỉ được tung vào một trận cuối cùng mà thôi.

Vì y sợ nếu tung ra sớm e các cao thủ thượng thừa của ta xuất hiện thì các trận sau khó mà thành công.

Theo ý Hy-Ninh, thì dù phải hy sinh năm mươi vạn quân, mà chiếm được Đại-Việt thì Quách Quỳ cũng được phong tước công.

Theo tin mới nhận được, thì trận đánh ngày mai các cao thủ Tống mới xuất trận.

Ý định của Quách Quỳ là cao thủ Tống thình lình ra tay, các tướng ta bị giết hết, đại quân Tống sẽ tràn ngập Cổ-pháp, Phú-lương, Vạn-xuân, rồi tới Thăng-long.Ông cầm tờ giấy ra đọc lớn:

– Từ khi Quách Quỳ đem quân tới Bắc Như-nguyệt thì Mộc-tồn, Viên-Chiếu đã đem một số cao thủ ẩn trong quân Tống để dò la tin tức.

Đây tin mới nhất đây: Năm nhà sư Pháp-Tuệ, Pháp-Minh, Pháp-Đức, Pháp-Thiên